Đọc tập thơ Cao Bá Quát
III.
Thấy vui liền vác tập thơ ra,
Đồ nhắm xưa nay cụ với ta.
Son mực thảy thừa oan kiếp giấy.
Gió mưa lầm lạc rủi đời hoa.
Tấm bia vạn cổ trời đề chữ,
Nắm cốt ba sinh đất gán nhà.
Trên án hương tâm, hồn hỡi dậy.
Sau ly rượu cúc, trước chung trà.
Phan Bội Châu 潘佩珠
(1933)
Nguồn: Thơ văn Phan Bội Châu, NXB Tổng hợp Đồng Nai, TP HCM, 2008.
http://www.thivien.net/viewpoem.php?ID=41285
Đọc tiếp →
Hiển thị các bài đăng có nhãn cothi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn cothi. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Sáu, 18 tháng 3, 2011
Thứ Tư, 13 tháng 10, 2010
Cảm xúc đầu thu kỳ I
初秋感興其一
蕭蕭木落楚江空
無限傷心一夜中
白髮生憎班定遠
玉門關外老秋風
阮攸
Sơ thu cảm hứng kỳ nhất
Tiêu tiêu mộc lạc Sở giang không
Vô hạn thương tâm nhất dạ trung
Bạch phát sinh tăng Ban Định Viễn
Ngọc Môn quan ngoại lão thu phong
Nguyễn Du
Cảm hứng đầu thu kỳ I
Xao xác lá rơi quạnh bến Tương
Lòng đau vô hạn một đêm trường
Ban Siêu tóc bạc đâm buồn ghét
Ải Ngọc gió thu tuổi muộn cùng
Pang De dịch lại. Đọc tiếp →
蕭蕭木落楚江空
無限傷心一夜中
白髮生憎班定遠
玉門關外老秋風
阮攸
Sơ thu cảm hứng kỳ nhất
Tiêu tiêu mộc lạc Sở giang không
Vô hạn thương tâm nhất dạ trung
Bạch phát sinh tăng Ban Định Viễn
Ngọc Môn quan ngoại lão thu phong
Nguyễn Du
Cảm hứng đầu thu kỳ I
Xao xác lá rơi quạnh bến Tương
Lòng đau vô hạn một đêm trường
Ban Siêu tóc bạc đâm buồn ghét
Ải Ngọc gió thu tuổi muộn cùng
Pang De dịch lại. Đọc tiếp →
Thứ Ba, 12 tháng 10, 2010
Dữ Đỗ Mục chi Niệm tích du đệ tam thủ lưu ký
念昔游三首 Niệm tích du tam thủ
年代:唐 Niên đại: Đường
作者:杜牧 Tác giả: Đỗ Mục
体裁:七绝 Thể tài: Thất tuyệt
类别: … Loại biệt: …
十载飘然绳检外,樽前自献自为酬。
秋山春雨闲吟处,倚遍江南寺寺楼。
Thập tái phiêu nhiên thằng kiểm ngoại
Tôn tiền tự hiến tự vi thù.
Thu san xuân vũ nhàn ngâm xứ
Ỷ biến Giang Nam tự tự lâu
云门寺外逢猛雨,林黑山高雨脚长。
曾奉郊宫为近侍,分明㩳㩳羽林枪。
Vân môn tự ngoại phùng mãnh vũ
Lâm hắc san cao vũ cước trường
Tằng phụng giao cung vi cận thị
Phân minh tủng tủng vũ lâm thương
李白题诗水西寺,古木回岩楼阁风。
半醒半醉游三日,红白花开山雨中。
Lý Bạch đề thi Thuỷ Tây tự
Cổ mộc hồi nham lâu các phong
Bán tinh bán tuý du tam nhật
Hồng bạch hoa khai sơn vũ trung
(Chú:thủy tây tự thị chỉ an huy kính huyện tây ngũ lý,hữu nhất tọa thủy tây san,sơn trung hữu thiên cung thủy tây tự。)
㩳: 《唐韻》息拱切《集韻》筍勇切《正韻》息勇切,𠀤音悚。執也,推也。
又《禮•部韻略》挺也。《杜甫•畫鷹詩》㩳身思狡兔。《註》㩳,猶竦也。 又《集韻》雙講切,雙上聲。亦推也。或省作㨦。
㩳㩳:搠搠
….
(㩳: Tức củng thiết (Đường vận) đọc là Tủng)
杜牧曾因仕途坎坷,长期飘泊南方。《念昔游》是若干年后追忆那次飘游而写的组诗,一共三首,这是第三首。
“水西寺”即天宫水西寺,是宣州泾县水西山中很有名的一座寺院。寺中“凡十四院,其最胜者曰华岩院,横跨两山,廊庑皆阁道,泉流其下”(《江南通志》)。李白曾到此游览,并题有《游水西简郑明府》一诗。此诗杜牧开门见山,提到李白在此题诗一事。李白诗中云:“清湍鸣回溪,绿竹绕飞阁;凉风日潇洒,幽客时憩泊”,描写了山寺佳境。杜牧将这一佳境凝炼为“古木回岩楼阁风”,正抓住了水西寺的特色:横跨两山的建筑,用阁道相连,四周皆是苍翠的古树、绿竹,凌空的楼阁之中,山风习习,风光美妙动人。
李白一生坎坷曲折,长期浪迹江湖,寄情山水。杜牧此时不但与李白的境遇相仿,而且心绪也有些相似。李白身临佳境曰“幽客时憩泊”;杜牧面对胜景曰“半醒半醉游三日”,都是想把政治上失意后的苦闷消释在可以令人忘忧的美景之中。三、四句合起来,可以看到这样的场面:在蒙蒙的雨雾中,山花盛开,红白相间,幽香扑鼻;似醉若醒的诗人,信步走在这一带有浓烈的自然野趣的景色之中,显得非常陶然自得。
杜牧(803-853)唐代诗人。字牧之,京兆万年(今陕西西安)人,宰相杜佑之孙。大和(827-835) 年间登进士第,授宏文馆校书郎。多年在外地任幕僚,后历任监察御史,史馆修撰,膳部、比部、司勋员外郎,黄州、池州、睦州刺史等职,最终官至中书舍人。诗以七言绝句著称,晚唐诸家让渠独步。人谓之小杜,和李商隐合称“小李杜”,以别于李白与杜甫。擅长文赋,其《阿房宫赋》为后世传诵。注重军事,写下了不少军事论文,还曾注释《孙子》。有《樊川文集》二十卷传世,为其外甥裴延翰所编,其中诗四卷。又有宋人补编的《樊川外集》和《樊川别集》各一卷。《全唐诗》收杜牧诗八卷。
http://www.hudong.com/wiki/%E5%BF%B5%E6%98%94%E6%B8%B8%C2%B7%E6%9D%8E%E7%99%BD%E9%A2%98%E8%AF%97%E6%B0%B4%E8%A5%BF%E5%AF%BA
游水西简郑明府
天宫水西寺,云锦照东郭。清湍鸣回溪,绿水绕飞阁。
凉风日潇洒,幽客时憩泊。五月思貂裘,谓言秋霜落。
石萝引古蔓,岸笋开新箨。吟玩空复情,相思尔佳作。
郑公诗人秀,逸韵宏寥廓。何当一来游,惬我雪山诺。
李白
Du thủy tây giản trịnh minh phủ
Thiên cung thủy tây tự,vân cẩm chiếu đông quách。
Thanh thoan minh hồi khê,lục thủy nhiễu phi các。
Lương phong nhật tiêu sái,u khách thời khế bạc。
Ngũ Nguyệt tư điêu cừu,vị ngôn thu sương lạc。
Thạch la dẫn cổ man,ngạn duẩn khai tân thác。
Ngâm ngoạn không phục tình,tương tư nhĩ giai tác。
Trịnh công thi nhân tú,dật vận hoành liêu khuếch。
Hà đương nhất lai du,khiếp ngã tuyết sơn nặc。
Lý Bạch
黄河之水天上来:李白卷――唐宋诗词名家精品类编 书摘:
…
游水西简郑明府① 天宫水西寺,云锦照东郭。清湍鸣回溪,绿竹绕飞阁。凉风日潇洒,幽客时憩泊②。五月思貂裘,谓言秋霜落。石萝引古蔓,岸笋开新箨。吟玩空复情,相思尔佳作。郑公诗人秀,逸韵宏寥廓③。何当一来游,惬我雪山诺④
[注释] ①水西:指天宫水西寺,在今安徽泾县之西五里水西山中,寺址尚存。郑明府:或说即溧阳县令郑晏。作者《溧阳濑水贞义女碑铭序》云:“邑宰郑公名晏,家康成之学,世子产之才,琴清心闲,百里大化。” ②憩泊:犹憩息,休憩止息。 ③“郑公,,二句:谓郑晏善诗,其诗韵逸气宏。按,郑诗今已失传。 ④雪山诺:典出佛教故事。释迦牟尼于雪山修行,称雪山童子,又称雪山大士,终得罗刹半偈,而超越十二劫。见《涅檠经》十四“圣行品”。雪山,指喜玛拉雅山。文殊往化仙人,即其处。[点评] 诗写水西山景色幽清,气候宜人,夏凉如秋,固约郑明府来游,以论诗文。太白咏水西寺之诗,今存仅此一首,却颇能尽水西风致。杜牧《念昔游》三首其三:“李白题诗水西寺,古木回岩楼阁风。半醒半醉游三日,红白花开烟雨中。”足见此诗在唐朝之影响,是播在人口之作。
http://book.danawa.com.cn/book/980628.html Đọc tiếp →
年代:唐 Niên đại: Đường
作者:杜牧 Tác giả: Đỗ Mục
体裁:七绝 Thể tài: Thất tuyệt
类别: … Loại biệt: …
十载飘然绳检外,樽前自献自为酬。
秋山春雨闲吟处,倚遍江南寺寺楼。
Thập tái phiêu nhiên thằng kiểm ngoại
Tôn tiền tự hiến tự vi thù.
Thu san xuân vũ nhàn ngâm xứ
Ỷ biến Giang Nam tự tự lâu
云门寺外逢猛雨,林黑山高雨脚长。
曾奉郊宫为近侍,分明㩳㩳羽林枪。
Vân môn tự ngoại phùng mãnh vũ
Lâm hắc san cao vũ cước trường
Tằng phụng giao cung vi cận thị
Phân minh tủng tủng vũ lâm thương
李白题诗水西寺,古木回岩楼阁风。
半醒半醉游三日,红白花开山雨中。
Lý Bạch đề thi Thuỷ Tây tự
Cổ mộc hồi nham lâu các phong
Bán tinh bán tuý du tam nhật
Hồng bạch hoa khai sơn vũ trung
(Chú:thủy tây tự thị chỉ an huy kính huyện tây ngũ lý,hữu nhất tọa thủy tây san,sơn trung hữu thiên cung thủy tây tự。)
㩳: 《唐韻》息拱切《集韻》筍勇切《正韻》息勇切,𠀤音悚。執也,推也。
又《禮•部韻略》挺也。《杜甫•畫鷹詩》㩳身思狡兔。《註》㩳,猶竦也。 又《集韻》雙講切,雙上聲。亦推也。或省作㨦。
㩳㩳:搠搠
….
(㩳: Tức củng thiết (Đường vận) đọc là Tủng)
杜牧曾因仕途坎坷,长期飘泊南方。《念昔游》是若干年后追忆那次飘游而写的组诗,一共三首,这是第三首。
“水西寺”即天宫水西寺,是宣州泾县水西山中很有名的一座寺院。寺中“凡十四院,其最胜者曰华岩院,横跨两山,廊庑皆阁道,泉流其下”(《江南通志》)。李白曾到此游览,并题有《游水西简郑明府》一诗。此诗杜牧开门见山,提到李白在此题诗一事。李白诗中云:“清湍鸣回溪,绿竹绕飞阁;凉风日潇洒,幽客时憩泊”,描写了山寺佳境。杜牧将这一佳境凝炼为“古木回岩楼阁风”,正抓住了水西寺的特色:横跨两山的建筑,用阁道相连,四周皆是苍翠的古树、绿竹,凌空的楼阁之中,山风习习,风光美妙动人。
李白一生坎坷曲折,长期浪迹江湖,寄情山水。杜牧此时不但与李白的境遇相仿,而且心绪也有些相似。李白身临佳境曰“幽客时憩泊”;杜牧面对胜景曰“半醒半醉游三日”,都是想把政治上失意后的苦闷消释在可以令人忘忧的美景之中。三、四句合起来,可以看到这样的场面:在蒙蒙的雨雾中,山花盛开,红白相间,幽香扑鼻;似醉若醒的诗人,信步走在这一带有浓烈的自然野趣的景色之中,显得非常陶然自得。
杜牧(803-853)唐代诗人。字牧之,京兆万年(今陕西西安)人,宰相杜佑之孙。大和(827-835) 年间登进士第,授宏文馆校书郎。多年在外地任幕僚,后历任监察御史,史馆修撰,膳部、比部、司勋员外郎,黄州、池州、睦州刺史等职,最终官至中书舍人。诗以七言绝句著称,晚唐诸家让渠独步。人谓之小杜,和李商隐合称“小李杜”,以别于李白与杜甫。擅长文赋,其《阿房宫赋》为后世传诵。注重军事,写下了不少军事论文,还曾注释《孙子》。有《樊川文集》二十卷传世,为其外甥裴延翰所编,其中诗四卷。又有宋人补编的《樊川外集》和《樊川别集》各一卷。《全唐诗》收杜牧诗八卷。
http://www.hudong.com/wiki/%E5%BF%B5%E6%98%94%E6%B8%B8%C2%B7%E6%9D%8E%E7%99%BD%E9%A2%98%E8%AF%97%E6%B0%B4%E8%A5%BF%E5%AF%BA
游水西简郑明府
天宫水西寺,云锦照东郭。清湍鸣回溪,绿水绕飞阁。
凉风日潇洒,幽客时憩泊。五月思貂裘,谓言秋霜落。
石萝引古蔓,岸笋开新箨。吟玩空复情,相思尔佳作。
郑公诗人秀,逸韵宏寥廓。何当一来游,惬我雪山诺。
李白
Du thủy tây giản trịnh minh phủ
Thiên cung thủy tây tự,vân cẩm chiếu đông quách。
Thanh thoan minh hồi khê,lục thủy nhiễu phi các。
Lương phong nhật tiêu sái,u khách thời khế bạc。
Ngũ Nguyệt tư điêu cừu,vị ngôn thu sương lạc。
Thạch la dẫn cổ man,ngạn duẩn khai tân thác。
Ngâm ngoạn không phục tình,tương tư nhĩ giai tác。
Trịnh công thi nhân tú,dật vận hoành liêu khuếch。
Hà đương nhất lai du,khiếp ngã tuyết sơn nặc。
Lý Bạch
黄河之水天上来:李白卷――唐宋诗词名家精品类编 书摘:
…
游水西简郑明府① 天宫水西寺,云锦照东郭。清湍鸣回溪,绿竹绕飞阁。凉风日潇洒,幽客时憩泊②。五月思貂裘,谓言秋霜落。石萝引古蔓,岸笋开新箨。吟玩空复情,相思尔佳作。郑公诗人秀,逸韵宏寥廓③。何当一来游,惬我雪山诺④
[注释] ①水西:指天宫水西寺,在今安徽泾县之西五里水西山中,寺址尚存。郑明府:或说即溧阳县令郑晏。作者《溧阳濑水贞义女碑铭序》云:“邑宰郑公名晏,家康成之学,世子产之才,琴清心闲,百里大化。” ②憩泊:犹憩息,休憩止息。 ③“郑公,,二句:谓郑晏善诗,其诗韵逸气宏。按,郑诗今已失传。 ④雪山诺:典出佛教故事。释迦牟尼于雪山修行,称雪山童子,又称雪山大士,终得罗刹半偈,而超越十二劫。见《涅檠经》十四“圣行品”。雪山,指喜玛拉雅山。文殊往化仙人,即其处。[点评] 诗写水西山景色幽清,气候宜人,夏凉如秋,固约郑明府来游,以论诗文。太白咏水西寺之诗,今存仅此一首,却颇能尽水西风致。杜牧《念昔游》三首其三:“李白题诗水西寺,古木回岩楼阁风。半醒半醉游三日,红白花开烟雨中。”足见此诗在唐朝之影响,是播在人口之作。
http://book.danawa.com.cn/book/980628.html Đọc tiếp →
Thứ Bảy, 9 tháng 10, 2010
Ba bài thất ngôn bát cú
秋夜記聞
靜院臨清夜
聲聲與耳謀
草間蟲唧唧
雲際雁啾啾
鐘落江城月
砧寒海國秋
鄉關千里客
欲夢并悠悠
Thu dạ ký văn
Tĩnh viện lâm thanh dạ
Thanh thanh dữ nhĩ mưu
Thảo gian trùng tức tức
Vân tế nhạn thu thu
Chung lạc giang thành nguyệt
Châm hàn hải quốc thu
Hương quan thiên lý khách
Dục mộng tịnh du du
Đoàn Huyên (1808-1885)
即事
回首龍城媵劫灰
三朝宮觀暮笳哀
秋風一水兼天去
落日千山繞塞來
橋上聞鵑知地氣
草間射虎惜人才
西湖不記當年事
謾放蓮花照酒杯
阮尚賢
Tức sự
Hồi thủ long thành dắng kiếp hôi
Tam triều cung quán mộ già ai
Thu phong nhất thuỷ kiêm thiên khứ
Lạc nhật thiên sơn nhiễu tái lai
Kiều thượng văn quyên tri địa khí
Thảo gian xạ hổ tích nhân tài
Tây hồ bất ký đương niên sự
Mạn phóng liên hoa chiếu tửu bôi
Nguyễn Thượng Hiền (1868-1926)
槐街歌女
百囀鶯喉巧弄歌
可憐美目貫秋波
蕭疏閭舍持絲竹
琬琰嬌娘強綺羅
輾轉春情愁夜月
悽涼古調咽冥笳
動人最是風流處
一曲南音逸倡和 (1)
段阮俊
Hòe Nhai ca nữ
Bách chuyển oanh hầu xảo lộng ca
Khả lân mỹ tục quán thu ba
Tiêu sơ lư xá trì ty trúc
Uyển diễm kiều nương cưỡng ỷ la
Triển chuyển xuân tình sầu dạ nguyệt
Thê lương cổ điệu yết minh già
Động nhân tối thị phong lưu xứ
Nhất khúc Nam âm dật xướng hòa
Đoàn Nguyễn Tuấn (1751-?) (2)
(1): Bản Hán tự gõ.
(2): Nguyễn Du có bài gửi anh vợ Đoàn Nguyễn Tuấn trong Thanh Hiên thi tập:
和海翁段阮俊「甲寅奉命入富春京登程留別北城諸友」之作
橫山山外嶺南程
琴劍相隨上玉京
兔髓未完新大藥
豹皮仍累舊浮名
滄溟水引杯中綠
故國蟾隨馬後明
此去家兄如見問
窮途白髮正星星
Hoạ Hải ông Đoàn Nguyễn Tuấn "Giáp Dần phụng mệnh nhập Phú Xuân đăng trình lưu biệt bắc thành chư hữu" chi tác
Hoành Sơn sơn ngoại lĩnh nam trình,
Cầm kiếm tương tuỳ thướng ngọc kinh.
Thố tuỷ vị hoàn tân đại dược,
Báo bì nhưng luỵ cựu phù danh.
Thương minh thuỷ dẫn bôi trung lục,
Cố quốc thiềm tuỳ mã hậu minh.
Thử khứ gia huynh như kiến vấn,
Cùng đồ bạch phát chí tinh tinh.
Nguyễn Du
------------------------
Updated 15/10/2010:
- Chữ "dắng" 媵 thay bằng chữ "thặng" 賸 (hay 剩). Đọc tiếp →
靜院臨清夜
聲聲與耳謀
草間蟲唧唧
雲際雁啾啾
鐘落江城月
砧寒海國秋
鄉關千里客
欲夢并悠悠
Thu dạ ký văn
Tĩnh viện lâm thanh dạ
Thanh thanh dữ nhĩ mưu
Thảo gian trùng tức tức
Vân tế nhạn thu thu
Chung lạc giang thành nguyệt
Châm hàn hải quốc thu
Hương quan thiên lý khách
Dục mộng tịnh du du
Đoàn Huyên (1808-1885)
即事
回首龍城媵劫灰
三朝宮觀暮笳哀
秋風一水兼天去
落日千山繞塞來
橋上聞鵑知地氣
草間射虎惜人才
西湖不記當年事
謾放蓮花照酒杯
阮尚賢
Tức sự
Hồi thủ long thành dắng kiếp hôi
Tam triều cung quán mộ già ai
Thu phong nhất thuỷ kiêm thiên khứ
Lạc nhật thiên sơn nhiễu tái lai
Kiều thượng văn quyên tri địa khí
Thảo gian xạ hổ tích nhân tài
Tây hồ bất ký đương niên sự
Mạn phóng liên hoa chiếu tửu bôi
Nguyễn Thượng Hiền (1868-1926)
槐街歌女
百囀鶯喉巧弄歌
可憐美目貫秋波
蕭疏閭舍持絲竹
琬琰嬌娘強綺羅
輾轉春情愁夜月
悽涼古調咽冥笳
動人最是風流處
一曲南音逸倡和 (1)
段阮俊
Hòe Nhai ca nữ
Bách chuyển oanh hầu xảo lộng ca
Khả lân mỹ tục quán thu ba
Tiêu sơ lư xá trì ty trúc
Uyển diễm kiều nương cưỡng ỷ la
Triển chuyển xuân tình sầu dạ nguyệt
Thê lương cổ điệu yết minh già
Động nhân tối thị phong lưu xứ
Nhất khúc Nam âm dật xướng hòa
Đoàn Nguyễn Tuấn (1751-?) (2)
(1): Bản Hán tự gõ.
(2): Nguyễn Du có bài gửi anh vợ Đoàn Nguyễn Tuấn trong Thanh Hiên thi tập:
和海翁段阮俊「甲寅奉命入富春京登程留別北城諸友」之作
橫山山外嶺南程
琴劍相隨上玉京
兔髓未完新大藥
豹皮仍累舊浮名
滄溟水引杯中綠
故國蟾隨馬後明
此去家兄如見問
窮途白髮正星星
Hoạ Hải ông Đoàn Nguyễn Tuấn "Giáp Dần phụng mệnh nhập Phú Xuân đăng trình lưu biệt bắc thành chư hữu" chi tác
Hoành Sơn sơn ngoại lĩnh nam trình,
Cầm kiếm tương tuỳ thướng ngọc kinh.
Thố tuỷ vị hoàn tân đại dược,
Báo bì nhưng luỵ cựu phù danh.
Thương minh thuỷ dẫn bôi trung lục,
Cố quốc thiềm tuỳ mã hậu minh.
Thử khứ gia huynh như kiến vấn,
Cùng đồ bạch phát chí tinh tinh.
Nguyễn Du
------------------------
Updated 15/10/2010:
- Chữ "dắng" 媵 thay bằng chữ "thặng" 賸 (hay 剩). Đọc tiếp →
Thứ Hai, 4 tháng 10, 2010
Hai bài tứ tuyệt
甘露寺
聳翠攢蒼入望多
溪西月影轉簷斜
隔林啼鳥尤岑寂
一徑古松初墜花
菊
吟入黃花酒可傾
菊籬秋色晚猶馨
古今人物知多少
一滴南山未了青
陳明宗
Cam Lộ tự
Tủng thuý toàn thương nhập vọng đa
Khê tây nhật ảnh chuyển thiềm tà.
Cách lâm đề điểu vưu sầm tịch
Nhất kính cổ tùng sơ truỵ hoa
Cúc
Ngâm nhập hoàng hoa tửu khả khuynh
Cúc ly thu sắc vãn do hinh
Cổ kim nhân vật tri đa thiểu
Nhất trích Nam sơn vị liễu thanh
Trần Minh Tông
Chùa Cam Lộ
Xa trông biếc núi xanh cây
Bóng ô chếch mái phía tây khe đồi
Bên rừng chim hót lẻ loi
Thông già một lối hoa rơi rụng dần
Cúc
Cúc vàng ngâm vịnh rượu nên bày
Thu muộn giậu hoa hương vẫn bay
Nhân vật cổ kim đâu biết xuể
Núi Nam đôi chút chắc gì hay
Leopard dịch. Đọc tiếp →
Thứ Tư, 29 tháng 9, 2010
Thơ chữ Hán viết về Thăng Long
Số liệu tạm thời do Leopard tìm tòi, ngày 29/9/2010:
Nguyễn Du có 4 bài:
Thăng Long kỳ 1
Thăng Long kỳ 2
Ngộ gia đệ cựu ca cơ
Long thành cầm giả ca
Cao Bá Quát có 8 bài:
Đăng Long thành lãm thắng hữu cảm
Đề Trấn Vũ miếu
Đồng chư hữu đăng Trấn Vũ tự chung lâu
Đề Trấn Vũ Quán thạch bi
Thanh Trì phiếm chu nam hạ
Vịnh Đổng Thiên Vương
Thứ vận Thận Tư phóng quan Nhị hà, đồng Di Xuân, Hoà phủ
Quá Thiên Quang tự, thương Lê triều cố cung
Nguyễn Khuyến có 3 bài:
Hoàn Kiếm hồ
Giáp Thân Trung thu ngụ Hà Nội hữu cảm, ký đồng niên cử nhân Ngô
Hà Nội Văn Miếu hữu cảm
Dương Khuê có 1 bài:
Hà thành Trung thu tiết
Đoàn Nguyễn Tuấn có 4 bài:
Quá Nhĩ hà quan Bắc binh cổ luỹ
Tây Hồ hoán ty
Kiếm hồ đẩu xạ
Hòe Nhai ca nữ
Nguyễn Văn Siêu có 2 bài:
Đăng chung lâu
Du Tây Hồ
Nguyễn Phi Khanh có 1 bài:
Thu thành vãn vọng
Nguyễn Trãi có ...: (đang xét)
Ninh Tốn có 1 bài:
Hòe Nhai
Miên Thẩm có 1 bài:
Trấn Vũ Miếu
Nguyễn Tư Giản có 3 bài:
Hiếm hồ kỷ du
Nguyễn Trung Ngạn có 1 bài:
Trường An thành hoài cổ
Nguyễn Xuân Ôn có 1 bài:
Tràng An hoài cổ
Nguyễn Thượng Hiền có 3 bài:
Đề Ngọc Sơn đình
Long thành thu nguyệt
Tức sự
Vũ Tông Phan có 2 bài:
Đề Tây Hồ
Đăng Trấn Vũ tự chung lâu
Phan Văn Ái có 1 bài:
Trấn Vũ miếu
Trần Thiện Chánh có 2 bài:
Trấn Vũ quán kỳ 1
Trấn Vũ quán kỳ 2
Phan Trọng Mưu có 2 bài:
Thănh Long thành hoài cổ
Đề Nhị Trưng miếu
Tổng tròn là 40 bài!
--------------------------------
* Bonus:
Thăng Long hoài cổ
Kìa ông Nhĩ Thuỷ, nọ non Nùng,
Thành cũ Thăng Long đó phải không?
Gươm báu mất tăm, trâu cũng lặn,
Gánh tình ai sẻ với non sông!
Á Nam Trần Tuấn Khải


Đọc tiếp →
Nguyễn Du có 4 bài:
Thăng Long kỳ 1
Thăng Long kỳ 2
Ngộ gia đệ cựu ca cơ
Long thành cầm giả ca
Cao Bá Quát có 8 bài:
Đăng Long thành lãm thắng hữu cảm
Đề Trấn Vũ miếu
Đồng chư hữu đăng Trấn Vũ tự chung lâu
Đề Trấn Vũ Quán thạch bi
Thanh Trì phiếm chu nam hạ
Vịnh Đổng Thiên Vương
Thứ vận Thận Tư phóng quan Nhị hà, đồng Di Xuân, Hoà phủ
Quá Thiên Quang tự, thương Lê triều cố cung
Nguyễn Khuyến có 3 bài:
Hoàn Kiếm hồ
Giáp Thân Trung thu ngụ Hà Nội hữu cảm, ký đồng niên cử nhân Ngô
Hà Nội Văn Miếu hữu cảm
Dương Khuê có 1 bài:
Hà thành Trung thu tiết
Đoàn Nguyễn Tuấn có 4 bài:
Quá Nhĩ hà quan Bắc binh cổ luỹ
Tây Hồ hoán ty
Kiếm hồ đẩu xạ
Hòe Nhai ca nữ
Nguyễn Văn Siêu có 2 bài:
Đăng chung lâu
Du Tây Hồ
Nguyễn Phi Khanh có 1 bài:
Thu thành vãn vọng
Nguyễn Trãi có ...: (đang xét)
Ninh Tốn có 1 bài:
Hòe Nhai
Miên Thẩm có 1 bài:
Trấn Vũ Miếu
Nguyễn Tư Giản có 3 bài:
Hiếm hồ kỷ du
Nguyễn Trung Ngạn có 1 bài:
Trường An thành hoài cổ
Nguyễn Xuân Ôn có 1 bài:
Tràng An hoài cổ
Nguyễn Thượng Hiền có 3 bài:
Đề Ngọc Sơn đình
Long thành thu nguyệt
Tức sự
Vũ Tông Phan có 2 bài:
Đề Tây Hồ
Đăng Trấn Vũ tự chung lâu
Phan Văn Ái có 1 bài:
Trấn Vũ miếu
Trần Thiện Chánh có 2 bài:
Trấn Vũ quán kỳ 1
Trấn Vũ quán kỳ 2
Phan Trọng Mưu có 2 bài:
Thănh Long thành hoài cổ
Đề Nhị Trưng miếu
Tổng tròn là 40 bài!
--------------------------------
* Bonus:
Thăng Long hoài cổ
Kìa ông Nhĩ Thuỷ, nọ non Nùng,
Thành cũ Thăng Long đó phải không?
Gươm báu mất tăm, trâu cũng lặn,
Gánh tình ai sẻ với non sông!
Á Nam Trần Tuấn Khải


Đọc tiếp →
Chủ Nhật, 26 tháng 9, 2010
Vườn Thẩm

沈園
其一
城上斜陽畫角哀
沈園非復舊池臺
傷心橋下春波綠
曾是驚鴻照影來
其二
夢斷香消四十年
沈園柳老不吹綿
此身行作稽山土
猶吊遺蹤一泫然
陸游
Thẩm viên
Kỳ nhất
Thành thượng tà dương hoạ giác ai
Thẩm viên phi phục cựu trì đài
Thương tâm kiều hạ xuân ba lục
Tằng thị kinh hồng chiếu ảnh lai
Kỳ nhị
Mộng đoạn hương tiêu tứ thập niên
Thẩm viên liễu lão bất xuy miên
Thử thân hành tác Kê sơn thổ
Do điếu di tung nhất huyễn nhiên
Lục Du
Tạm dịch:
Vườn Thẩm
Kỳ một
Trên thành mặt trời ngả về tây, tiếng tù khơi lên buồn thảm,
Vườn Thẩm không có lại ao đài của ngày xưa nữa.
Lòng đau thương trước làn sóng xuân xanh biếc dưới cầu,
Từng có lần dáng hồng e ấp soi bóng tại đây.
Kỳ hai
Mộng đứt hương mất đã được bốn chục năm,
Dương liễu nơi vườn Thẩm già úa, bông liễu chẳng phất phơ.
Thân này sắp làm đất núi Kê,
Vẫn còn điếu dấu xưa mà ứa lệ. Đọc tiếp →
Thứ Tư, 22 tháng 9, 2010
Cảm xúc sáng tác nên (kỳ bốn)
感作其四
炎邦何事久紛紛
半是天行半是人
只識五胡能亂晉
寧知三戶可亡秦
奉圭獻幣徒多事
擊楫揮戈幾個臣
可怪衣冠文物地
而今胡服已成群
阮春溫
Cảm tác kỳ tứ
Viêm Bang hà sự cửu phân phân
Bán thị thiên hành bán thị nhân
Chỉ thức ngũ Hồ năng loạn Tấn
Ninh tri tam hộ khả vong Tần
Phụng khuê hiến tệ đồ đa sự
Kích tiếp huy qua kỷ cá thần
Khả quái y quan văn vật địa
Nhi kim Hồ phục dĩ thành quần
Nguyễn Xuân Ôn
(Bản dịch sắp có...)
-----------------------
Bản Hán do Leopard tự gõ (có trợ giúp của TĐVH):
01. Âm "phân":
分: bộ đao 刀
雰: bộ vũ 雨
紛: bộ mịch 糸 (# bộ mịch 冖 )
02. Âm "cảm":
敢: bộ phác (phốc) 攴
感: bộ tâm 心 Đọc tiếp →
炎邦何事久紛紛
半是天行半是人
只識五胡能亂晉
寧知三戶可亡秦
奉圭獻幣徒多事
擊楫揮戈幾個臣
可怪衣冠文物地
而今胡服已成群
阮春溫
Cảm tác kỳ tứ
Viêm Bang hà sự cửu phân phân
Bán thị thiên hành bán thị nhân
Chỉ thức ngũ Hồ năng loạn Tấn
Ninh tri tam hộ khả vong Tần
Phụng khuê hiến tệ đồ đa sự
Kích tiếp huy qua kỷ cá thần
Khả quái y quan văn vật địa
Nhi kim Hồ phục dĩ thành quần
Nguyễn Xuân Ôn
(Bản dịch sắp có...)
-----------------------
Bản Hán do Leopard tự gõ (có trợ giúp của TĐVH):
01. Âm "phân":
分: bộ đao 刀
雰: bộ vũ 雨
紛: bộ mịch 糸 (# bộ mịch 冖 )
02. Âm "cảm":
敢: bộ phác (phốc) 攴
感: bộ tâm 心 Đọc tiếp →
Thứ Tư, 8 tháng 9, 2010
Sông Khúc

曲江二首(其一)
一片花飞减却春
风飘万点正愁人
且看欲尽花经眼
莫厌伤多酒入唇
江上小堂巢翡翠
苑边高冢卧麒麟
细推物理须行乐
何用浮名绊此身
杜甫
Khúc giang nhị thủ kỳ nhất
Nhất phiến hoa phi giảm khước xuân
Phong phiêu vạn điểm chính sầu nhân
Thả khan dục tận hoa kinh nhãn
Mạc yếm thương đa tửu nhập thần
Giang thượng tiểu đường, sào phỉ thuý
Uyển biên cao trủng, ngoạ kỳ lân
Tế suy vật lý tu hành lạc
Hà dụng phù danh bạn thử thân
Sông Khúc hai bài (kỳ một)
Một cánh hoa bay xuân giảm vơi
Gió đưa muôn cánh dậy sầu người
Hẵng xem thỏa dạ hoa ngang mắt
Đừng ngại lắm đau rượu ngấm môi
Phỉ thúy bên sông nhà nhỏ trú
Kỳ lân ven ruộng mộ cao ngồi
Kể thông sự lý nên hành lạc
Sao để hư danh bó một đời
Pang De dịch.
-----------------------
第一句写初飞, 第二句写乱飞, 第三句写飞将尽。 一片花飞, 春残之始 ; 风飘万点, 春残欲尽。 自初飞, 以至欲尽, 无不经眼, 面对这个过程, 诗人的愁绪也逐步升级, 故借酒以销愁。“ 经眼”, 眼看着。“ 伤多酒”, 过量饮酒有伤身体。
Đệ nhất cú tả sơ phi, đệ nhị cú tả loạn phi, đệ tam cú tả phi tương tận. Nhất phiến hoa phi, xuân tàn chi thủy; phong phiêu vạn điểm, xuân tàn dục tận. Tự sơ phi, dĩ chí dục tận, vô bất kinh nhãn, diện đối giá cá quá trình, thi nhân đích sầu tự dã trục bộ thăng cấp, cố tá tửu dĩ tiêu sầu. “Kinh nhãn” , nhãn khán trước. “Thương đa tửu” , quá lượng ẩm tửu hữu thương thân thể.
* Nguồn: http://www.hwjyw.com/resource/content/2010/05/21/7344.shtml
Thiên thượng phù vân như bạch y
Tư tu cải biến như thương cẩu
(Khả thán thi)
* Nguồn: ... Đọc tiếp →
Thứ Ba, 7 tháng 9, 2010
Uống rượu ngắm mẫu đơn

飲酒看牡丹
今日花前飲
甘心醉數杯
但愁花有語
不為老人開
劉禹錫 (772-842)
Ẩm tửu khán mẫu đơn
Kim nhật hoa tiền ẩm
Cam tâm tuý sổ bôi
Đãn sầu hoa hữu ngữ
Bất vị lão nhân khai
Lưu Vũ Tích
Uống rượu ngắm mẫu đơn
Hôm nay rượu trước hoa
Vài chén chịu say ngà
Còn ngại hoa lên tiếng
Nở đâu cho kẻ già
Leopard dịch.
今日花前飲
甘心醉數杯
但愁花有語
不為老人開
劉禹錫 (772-842)
Ẩm tửu khán mẫu đơn
Kim nhật hoa tiền ẩm
Cam tâm tuý sổ bôi
Đãn sầu hoa hữu ngữ
Bất vị lão nhân khai
Lưu Vũ Tích
Uống rượu ngắm mẫu đơn
Hôm nay rượu trước hoa
Vài chén chịu say ngà
Còn ngại hoa lên tiếng
Nở đâu cho kẻ già
Leopard dịch.
* Tranh Tàu vẽ hoa mẫu đơn:

Tranh của họa sĩ Wang Xuetao

Tranh của họa sĩ Huang Shanshou
Nguồn: http://tin180.com/nghethuat/my-thuat/20100422/nhung-buc-tranh-trung-quoc-ve-hoa-mau-don.html
* Mẫu đơn trắng:

Ảnh của hoangtube_11
Nguồn: http://dalathoa.com/diendan/threads/3133-Bo-suu-tam-hoa-da-Lat
* Thảo mộc Hán Nôm:
http://viet.gutenberg.free.fr/huediepchi/hPlants/paeoniaSuffruticosa.html
Đọc tiếp →
Chủ Nhật, 5 tháng 9, 2010
Đọc Dịch
讀易
冬日爭如夏日長
南風還有北風涼
自為可口鴟嗔鳳
不盡機心雀捕螳
海宇若開新世界
民風應入古鴻荒
清晨獨起觀周易
消息盈虛未易詳
阮勸
Độc dịch
Đông nhật tranh như hạ nhật trường
Nam phong hoàn hữu bắc phong lương
Tự vi khả khẩu si sân phượng
Bất tận cơ tâm tước bộ đường
Hải vũ nhược khai tân thế giới
Dân phong ưng nhập cổ hồng hoang
Thanh thần độc khởi quan Chu Dịch
Tiêu tức doanh hư vị dị tường
Nguyễn Khuyến
Đọc Dịch
Ngày đông ngày hạ chẳng dài ngang
Chớm dứt gió nam gió bắc sang
Cú tức phượng hoàng mồi tưởng bở
Sẻ rình bọ ngựa họa không lường
Càn khôn dường đổi thay trần thế
Dân chúng dễ vào lại hỗn mang
Sớm dậy một mình xem sách Dịch
Đầy vơi suy thịnh dễ đâu tường
Leopard dịch
----------------------
(1) Cú gầm gè phượng hoàng: Sách Trang Tử: Chim uyên sồ là một loài phượng, ăn uống rất thanh. Một hôm, cú kiếm được con chuột thối, gặp khi uyên sồ bay qua, cú tưởng uyên sồ đến tranh của mình, ngửa lên mà gầm gè với uyên sồ. Câu này chê những kẻ chỉ bo bo giữ lấy cái mồi phú quý thối nát, tưởng những người cao thượng cũng ham muốn như mình.
(2) Chim sẻ vồ bọ ngựa: Sách Ngô Việt Xuân Thu có chép: con ve đậu dưới bóng mát, thích ý đang kêu. Một con bọ ngựa nấp sau rình bắt ve, lại có con chim sẻ rình bắt bọ ngựa. Một người nấp sau định bắn chim sẻ, người này vì chú ý đến chim quá, thành ra sa chân xuống hố. Câu này ý nói: để ý vào lợi trước mắt mà quên những mối nguy sau lưng.
(3) Hồng hoang: đời thượng cổ khi mới có loài người.
(4) Chu Dịch: tức Kinh Dịch.
(5) Đầy, vơi, suy, thịnh: theo triết lý của Kinh Dịch thì lẽ trời đất có khi lớn lên, khi tiêu đi, khi thịnh, khi suy.
Nguồn: Thơ Văn Nguyễn Khuyến, NXB Văn học, 1971.
* Chú giải lấy tại trang sau: http://www.thivien.net/viewpoem.php?ID=39676 Đọc tiếp →
冬日爭如夏日長
南風還有北風涼
自為可口鴟嗔鳳
不盡機心雀捕螳
海宇若開新世界
民風應入古鴻荒
清晨獨起觀周易
消息盈虛未易詳
阮勸
Độc dịch
Đông nhật tranh như hạ nhật trường
Nam phong hoàn hữu bắc phong lương
Tự vi khả khẩu si sân phượng
Bất tận cơ tâm tước bộ đường
Hải vũ nhược khai tân thế giới
Dân phong ưng nhập cổ hồng hoang
Thanh thần độc khởi quan Chu Dịch
Tiêu tức doanh hư vị dị tường
Nguyễn Khuyến
Đọc Dịch
Ngày đông ngày hạ chẳng dài ngang
Chớm dứt gió nam gió bắc sang
Cú tức phượng hoàng mồi tưởng bở
Sẻ rình bọ ngựa họa không lường
Càn khôn dường đổi thay trần thế
Dân chúng dễ vào lại hỗn mang
Sớm dậy một mình xem sách Dịch
Đầy vơi suy thịnh dễ đâu tường
Leopard dịch
----------------------
(1) Cú gầm gè phượng hoàng: Sách Trang Tử: Chim uyên sồ là một loài phượng, ăn uống rất thanh. Một hôm, cú kiếm được con chuột thối, gặp khi uyên sồ bay qua, cú tưởng uyên sồ đến tranh của mình, ngửa lên mà gầm gè với uyên sồ. Câu này chê những kẻ chỉ bo bo giữ lấy cái mồi phú quý thối nát, tưởng những người cao thượng cũng ham muốn như mình.
(2) Chim sẻ vồ bọ ngựa: Sách Ngô Việt Xuân Thu có chép: con ve đậu dưới bóng mát, thích ý đang kêu. Một con bọ ngựa nấp sau rình bắt ve, lại có con chim sẻ rình bắt bọ ngựa. Một người nấp sau định bắn chim sẻ, người này vì chú ý đến chim quá, thành ra sa chân xuống hố. Câu này ý nói: để ý vào lợi trước mắt mà quên những mối nguy sau lưng.
(3) Hồng hoang: đời thượng cổ khi mới có loài người.
(4) Chu Dịch: tức Kinh Dịch.
(5) Đầy, vơi, suy, thịnh: theo triết lý của Kinh Dịch thì lẽ trời đất có khi lớn lên, khi tiêu đi, khi thịnh, khi suy.
Nguồn: Thơ Văn Nguyễn Khuyến, NXB Văn học, 1971.
* Chú giải lấy tại trang sau: http://www.thivien.net/viewpoem.php?ID=39676 Đọc tiếp →
Labels:
04-poetry,
cothi,
nguyenkhuyen
Thứ Năm, 2 tháng 9, 2010
Rét xuân
春寒
凝雲漠漠霧沈沈
釀作餘寒十日陰
帶雨有痕粘樹絮
傷春無語隔花禽
書齋寂寂惟高枕
世事悠悠正抱衾
安得此身如橐籥
和風噓遍九州心
阮飛卿
Xuân hàn
Ngưng vân mạc mạc vụ trầm trầm
Nhưỡng tác dư hàn thập nhật âm
Đái vũ hữu ngân niêm thụ nhứ
Thương xuân vô ngữ cách hoa cầm
Thư trai tịch tịch duy cao chẩm
Thế sự du du chính bão khâm
An đắc thử thân như thác lược
Hòa phong hư biến cửu châu tâm
Nguyễn Phi Khanh
Dịch nghĩa:
Mây ngưng mịt mờ, sương sa xuống thấp
Gây ra đợt rét không dứt, khiến mười ngày liền âm u.
Đeo mưa thành vệt, bông liễu dính sát cây,
Thương xuân không tiếng, con chim bên cạnh hoa.
Thư phòng tịch mịch, mỗi việc kê cao gối,
Việc đời dằng dặc, đang lúc ôm chăn.
Làm sao thân này thành như ống bễ,
Để cơn gió êm hòa phả tới lòng người khắp chín châu? Đọc tiếp →
凝雲漠漠霧沈沈
釀作餘寒十日陰
帶雨有痕粘樹絮
傷春無語隔花禽
書齋寂寂惟高枕
世事悠悠正抱衾
安得此身如橐籥
和風噓遍九州心
阮飛卿
Xuân hàn
Ngưng vân mạc mạc vụ trầm trầm
Nhưỡng tác dư hàn thập nhật âm
Đái vũ hữu ngân niêm thụ nhứ
Thương xuân vô ngữ cách hoa cầm
Thư trai tịch tịch duy cao chẩm
Thế sự du du chính bão khâm
An đắc thử thân như thác lược
Hòa phong hư biến cửu châu tâm
Nguyễn Phi Khanh
Dịch nghĩa:
Mây ngưng mịt mờ, sương sa xuống thấp
Gây ra đợt rét không dứt, khiến mười ngày liền âm u.
Đeo mưa thành vệt, bông liễu dính sát cây,
Thương xuân không tiếng, con chim bên cạnh hoa.
Thư phòng tịch mịch, mỗi việc kê cao gối,
Việc đời dằng dặc, đang lúc ôm chăn.
Làm sao thân này thành như ống bễ,
Để cơn gió êm hòa phả tới lòng người khắp chín châu? Đọc tiếp →
Thứ Ba, 31 tháng 8, 2010
Cảm xúc kể lại
感述
重章掉尾舊依官
日與豺狼處此間
我國山河蠶食去
誰家門戶燕飛還
暑牛月喘南郊暑
胡馬風嘶北地寒
物類且能知水土
處堂燕雀獨安閒
阮春溫
Cảm thuật
Trùng chương điêu vĩ cựu y quan
Nhật dữ sài lang xử thử gian
Ngã quốc sơn hà tàm thực khứ
Thùy gia môn hộ yến phi hoàn
Ngô ngưu nguyệt suyễn Nam giao thử
Hồ mã phong tê Bắc địa hàn
Vật loại thả năng tri thủy thổ
Xử đường yến tước độc an nhàn
Nguyễn Xuân Ôn
Cảm xúc kể lại
Áo còn vẻ phượng mũ đuôi điêu
Giao kết sài lang sớm tới chiều
Nước đấy núi sông tằm gậm mất
Nhà ai cổng ốc én bay đều
Thấy trăng ngờ nắng trâu Nam thở
Gặp gió tưởng đông ngựa Bắc kêu
Loài vật cũng còn hay thủy thổ
Lầu cao én sẻ mới nhàn nhiều
Leopard dịch.
-----------------------------
* Nguyễn Xuân Ôn (1825 – 1889), hiệu Ngọc Đường, Hiến Đình, Lương Giang, nhân dân thường gọi ông là Nghè Ôn; là quan nhà Nguyễn và là thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nghệ - Tĩnh (Việt Nam) hồi cuối thế kỷ 19.
http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Xu%C3%A2n_%C3%94n
* Trùng chương điêu vĩ:
http://chimviet.free.fr/34/chqyn_quanche02.htm
* Lược trích các chú giải từ trang Thivien.net:
http://www.thivien.net/viewpoem.php?ID=39760
Nguồn: Nguyễn Đức Vân – Hà Văn Đại, Thơ văn Nguyễn Xuân Ôn (In lần 2), NXB Văn học, 1977)
01. Thùy gia môn hộ yến phi hoàn:
Thơ xưa có câu: "Cựu thời Vương, Tạ đình tiền yến; Cánh bạng thuỳ gia môn hộ phi?" (Những con chim yến ở trước sân nhà họ Vương, họ Tạ là các quý tộc đời Tấn ngày xưa, lại dựa vào nhà ai mà bay?)
[Leopard viết:
Lưu Vũ Tích có bài thơ Ô Y hạng như sau:
烏衣巷
朱雀橋邊野草花
烏衣巷口夕陽斜
舊時王謝堂前燕
飛入尋常百姓家
Ô Y hạng
Chu Tước kiều biên dã thảo hoa
Ô Y hạng khẩu tịch dương tà
Cựu thời Vương Tạ đường tiền yến
Phi nhập tầm thường bách tính gia ]
02. Ngô ngưu nguyệt suyễn - Hồ mã phong tê:
Mãn Phấn đời nhà Tấn nói: "Trâu đất Ngô, vì ở xứ nắng, thường thở mạnh, khi nó thấy trăng mọc, sợ là mặt trời nên cũng thở."
Cổ thi có câu: "Hồ mã tê Bắc phong" (Ngựa Hồ thấy gió Bắc thì hí, vì nó ở xứ rét quen).
03. Yến tước độc an nhàn:
Đời Chiến quốc, nước Tần đánh nước Triệu, vua tôi nước Ngụy không lo gì. Khổng Tử Thuận nói: Triệu mất thì Nguỵ bị tai vạ đến nơi, cũng như chim én chim sẻ ở trong nhà, không biết nhà sắp bị cháy. [?] Đọc tiếp →
重章掉尾舊依官
日與豺狼處此間
我國山河蠶食去
誰家門戶燕飛還
暑牛月喘南郊暑
胡馬風嘶北地寒
物類且能知水土
處堂燕雀獨安閒
阮春溫
Cảm thuật
Trùng chương điêu vĩ cựu y quan
Nhật dữ sài lang xử thử gian
Ngã quốc sơn hà tàm thực khứ
Thùy gia môn hộ yến phi hoàn
Ngô ngưu nguyệt suyễn Nam giao thử
Hồ mã phong tê Bắc địa hàn
Vật loại thả năng tri thủy thổ
Xử đường yến tước độc an nhàn
Nguyễn Xuân Ôn
Cảm xúc kể lại
Áo còn vẻ phượng mũ đuôi điêu
Giao kết sài lang sớm tới chiều
Nước đấy núi sông tằm gậm mất
Nhà ai cổng ốc én bay đều
Thấy trăng ngờ nắng trâu Nam thở
Gặp gió tưởng đông ngựa Bắc kêu
Loài vật cũng còn hay thủy thổ
Lầu cao én sẻ mới nhàn nhiều
Leopard dịch.
-----------------------------
* Nguyễn Xuân Ôn (1825 – 1889), hiệu Ngọc Đường, Hiến Đình, Lương Giang, nhân dân thường gọi ông là Nghè Ôn; là quan nhà Nguyễn và là thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nghệ - Tĩnh (Việt Nam) hồi cuối thế kỷ 19.
http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Xu%C3%A2n_%C3%94n
* Trùng chương điêu vĩ:
http://chimviet.free.fr/34/chqyn_quanche02.htm
* Lược trích các chú giải từ trang Thivien.net:
http://www.thivien.net/viewpoem.php?ID=39760
Nguồn: Nguyễn Đức Vân – Hà Văn Đại, Thơ văn Nguyễn Xuân Ôn (In lần 2), NXB Văn học, 1977)
01. Thùy gia môn hộ yến phi hoàn:
Thơ xưa có câu: "Cựu thời Vương, Tạ đình tiền yến; Cánh bạng thuỳ gia môn hộ phi?" (Những con chim yến ở trước sân nhà họ Vương, họ Tạ là các quý tộc đời Tấn ngày xưa, lại dựa vào nhà ai mà bay?)
[Leopard viết:
Lưu Vũ Tích có bài thơ Ô Y hạng như sau:
烏衣巷
朱雀橋邊野草花
烏衣巷口夕陽斜
舊時王謝堂前燕
飛入尋常百姓家
Ô Y hạng
Chu Tước kiều biên dã thảo hoa
Ô Y hạng khẩu tịch dương tà
Cựu thời Vương Tạ đường tiền yến
Phi nhập tầm thường bách tính gia ]
02. Ngô ngưu nguyệt suyễn - Hồ mã phong tê:
Mãn Phấn đời nhà Tấn nói: "Trâu đất Ngô, vì ở xứ nắng, thường thở mạnh, khi nó thấy trăng mọc, sợ là mặt trời nên cũng thở."
Cổ thi có câu: "Hồ mã tê Bắc phong" (Ngựa Hồ thấy gió Bắc thì hí, vì nó ở xứ rét quen).
03. Yến tước độc an nhàn:
Đời Chiến quốc, nước Tần đánh nước Triệu, vua tôi nước Ngụy không lo gì. Khổng Tử Thuận nói: Triệu mất thì Nguỵ bị tai vạ đến nơi, cũng như chim én chim sẻ ở trong nhà, không biết nhà sắp bị cháy. [?] Đọc tiếp →
Thứ Sáu, 27 tháng 8, 2010
Chiêu Quân ra ải

昭君出塞
南來程盡北來程
南北那堪悵別情
萬里漢天花有淚
百年胡地馬無聲
一段羅綺傷春老
幾曲琵琶素月明
分付君王安枕席
愁城一片是長城
蔡順
Chiêu Quân xuất tái
Nam lai trình tận Bắc lai trình
Nam Bắc na kham trướng biệt tình
Vạn lý Hán thiên hoa hữu lệ
Bách niên Hồ địa mã vô thanh
Nhất đoàn la ỷ thương xuân lão
Kỷ khúc tỳ bà tố nguyệt minh
Phân phó quân vương an chẩm tịch
Sầu thành nhất phiến thị trường thành
Thái Thuận
Chiêu Quân ra ải
Nam vừa dứt lối Bắc liền qua
Nam Bắc sao kham hận cách xa
Trời Hán nghìn trùng hoa có lệ
Đất Hồ muôn thủa ngựa không ra
Một manh tơ lụa thương xuân muộn
Mấy khúc tỳ bà kể ánh nga
Nhắn nhủ quân vương yên gối nệm
Thành sầu một phiến cũng thành xa
Pang De dịch.
* Vạn lý Hán thiên hoa hữu lệ/ Bách niên Hồ địa mã vô thanh: Vặn dặm trời Hán, hoa có lệ châu/ Trăm năm đất Hồ, ngựa không có tiếng kêu.
----------------------------------
01. Thái Thuận 蔡順 (1440-?) tự Nghĩa Hoà, hiệu Lục Khê, biệt hiệu Lữ Đường, sinh 1440. Đậu tiến sĩ 1475 (niên hiệu Hồng Đức thứ 6). Làm quan ở nội các viện triều Lê thánh Tôn hơn 20 năm, sau được bổ làm Tham Chính ở Hải Dương; sau nữa được đặc cách giữ chức phó nguyên suý hội Tao Đàn.
Tác phẩm còn lại: Lữ Đường Thi Di Cảo do con trai là Thái Khác và học trò là Đỗ chính Mô sưu tầm, biên soạn.
http://www.thivien.net/viewauthor.php?ID=501
02. "Ở đây hạnh thắm nên mai nhạt"
Theo Dương Quảng Hàm, năm 1306, vua Trần Anh Tông đem Huyền Trân Công chúa gả cho vua Chiêm Thành. Nhiều văn nhân bèn mượn việc vua nhà Hán gả Chiêu Quân cho chúa Hung Nô để chỉ trích việc ấy.
Vua dụ Vương Tường [1] để gả cho chúa Thuyền-vu
Hán Hồ vẫn muốn vẹn trăm đường,
Há trẫm riêng tây có phụ nường.
Bắc-quốc[2] tuy rằng ngoài dị-tục,
Vương-đình[3] song cũng một biên phương.
Ở đây hạnh thắm nên mai nhạt,
Về đấy sen tàn lỗi cỏ hương[4].
Hơn thiệt thôi đừng ai-oán nữa,
Bõ ngay áo gấm lại hoang lương.
Khuyết danh
[1]. Vương Tường tên là Chiêu-quân, cung nữ vua Hán Nguyên-đế, sau đem gả cho vua nước Hồ. Người nước Hồ gọi vua họ là Thiền vu 單 于
[2]. Bắc quốc: đây chỉ nước Hồ, ở phía bắc nước Tàu
[3]. Vương đình: đây chỉ chỗ vua Hồ ở
[4]. Câu 5, 6: ý nói: ở cung nhà Hán có nhiều người đẹp, nên Vương-Tường không được vua yêu; nhưng sang bên nước Hồ vì không có con gái đẹp thì Vương-Tường sẽ được chiều chuộng. «Lỗi 磊 » là nhô cao lên, trồi lên.
http://vi.wikisource.org/wiki/Vua_d%E1%BB%A5_V%C6%B0%C6%A1ng_T%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%91%E1%BB%83_g%E1%BA%A3_cho_ch%C3%BAa_Thuy%E1%BB%81n-vu
03. "Chim sa cá lặn": trầm ngư lạc nhạn 沉魚落雁.

Tây Thi nhạn lạc
Chiêu Quân trầm ngư
Điêu Thuyền bế nguyệt
Dương Ngọc Hoàn tu hoa
Xem thêm về: Triệu Cơ, Đát Kỉ, Bao Tự, Hạ Cơ, Triệu Phi Yến, Ngu Cơ, Võ Tắc Thiên, Trương Lệ Hoa, Trần Viên Viên, Tứ đại kì thư…
http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%A3o_lu%E1%BA%ADn:V%C6%B0%C6%A1ng_Chi%C3%AAu_Qu%C3%A2n
Đọc tiếp →
Chủ Nhật, 22 tháng 8, 2010
Làm tại ruộng vườn trong ngày xuân
春中田園作
屋上春鳩鳴
村邊杏花白
持斧伐遠揚
荷鋤覘泉脈
歸燕識故巢
舊人看新歷
臨觴忽不御
惆悵遠行客
王维
Xuân trung điền viên tác
Ốc thượng xuân cưu minh
Thôn biên hạnh hoa bạch
Trì phủ phạt viễn dương
Hà sừ chiêm tuyền mạch
Quy yến thức cố sào
Cựu nhân khán tân lịch
Lâm thương hốt bất ngự
Trù trướng viễn hành khách
Vương Duy
Làm tại ruộng vườn trong ngày xuân
Trên mái câu vang tiếng
Bên thôn hạnh trắng hoa
Cành dài rìu phát sạch
Mạch suối cuốc dò la
Tổ cũ én về nhận
Lịch nay người trước rà
Cầm ly chợt chẳng nhấp
Buồn nhớ khách đi xa
Pang De dịch.
--------------------------
* Bonus:
杏園
夜來微雨洗芳塵
公子驊騮步貼勻
莫怪杏園憔悴去
滿城多少插花人
杜牧
Hạnh viên
Dạ lai vi vũ tẩy phương trần
Công tử hoa lưu bộ thiếp quân
Mạc quái hạnh viên tiều tụy khứ
Mãn thành đa thiểu sáp hoa nhân
Đỗ Mục
Bản dịch của Đông A:
Mưa phùn tẩy sạch phấn đêm qua
Công tử thong dong tuấn mã ra
Đừng lạ hạnh viên tiều tụy bỏ
Đầy thành khôn xiết kẻ cài hoa
http://donga01.blogspot.com/2010/04/hoa-hanh.html
Bản dịch của Pang De:
Mưa nhỏ đêm qua tẩy bụi hương
Thiếu gia tuấn mã bước dềnh dang
Đừng kinh vườn hạnh tiêu điều hết
Bội kẻ cài hoa khắp phố phường

* Chú giải:
Phương trần 芳塵
(1). 指落花。 晋 庾阐 《 杨都赋》:“ 结芳尘於绮疏。” 南朝 宋 谢庄 《 月赋》:“ 緑苔生阁, 芳尘凝榭。” 唐 司空曙 《 送高胜重谒曹王》 诗:“ 想君登旧榭, 重喜扫芳尘。”《 乐府群玉 • 赵文宝<朝天子 • 送春>》:“ 堤上芳尘, 桥边飞絮, 树头红一片无。”
(1) .Chỉ lạc hoa。 Tấn dữu xiển 《dương đô phú》 : “kết phương trần ư khỉ sơ。” Nam Triều tống tạ trang 《nguyệt phú》 : “緑 đài sanh các,phương trần ngưng tạ。” Đường tư không thự 《tống cao thắng trọng yết tào vương》 thi: “tưởng quân đăng cựu tạ,trọng hỉ tảo phương trần。” 《Nhạc Phủ quần ngọc•triệu văn bảo <triều thiên tử•tống xuân >》 : “đê thượng phương trần,kiều biên phi nhứ,thụ đầu hồng nhất phiến vô。
[...]
http://www.zdic.net/cd/ci/7/ZdicE8Zdic8AZdicB336669.htm Đọc tiếp →
屋上春鳩鳴
村邊杏花白
持斧伐遠揚
荷鋤覘泉脈
歸燕識故巢
舊人看新歷
臨觴忽不御
惆悵遠行客
王维
Xuân trung điền viên tác
Ốc thượng xuân cưu minh
Thôn biên hạnh hoa bạch
Trì phủ phạt viễn dương
Hà sừ chiêm tuyền mạch
Quy yến thức cố sào
Cựu nhân khán tân lịch
Lâm thương hốt bất ngự
Trù trướng viễn hành khách
Vương Duy
Làm tại ruộng vườn trong ngày xuân
Trên mái câu vang tiếng
Bên thôn hạnh trắng hoa
Cành dài rìu phát sạch
Mạch suối cuốc dò la
Tổ cũ én về nhận
Lịch nay người trước rà
Cầm ly chợt chẳng nhấp
Buồn nhớ khách đi xa
Pang De dịch.
--------------------------
* Bonus:
杏園
夜來微雨洗芳塵
公子驊騮步貼勻
莫怪杏園憔悴去
滿城多少插花人
杜牧
Hạnh viên
Dạ lai vi vũ tẩy phương trần
Công tử hoa lưu bộ thiếp quân
Mạc quái hạnh viên tiều tụy khứ
Mãn thành đa thiểu sáp hoa nhân
Đỗ Mục
Bản dịch của Đông A:
Mưa phùn tẩy sạch phấn đêm qua
Công tử thong dong tuấn mã ra
Đừng lạ hạnh viên tiều tụy bỏ
Đầy thành khôn xiết kẻ cài hoa
http://donga01.blogspot.com/2010/04/hoa-hanh.html
Bản dịch của Pang De:
Mưa nhỏ đêm qua tẩy bụi hương
Thiếu gia tuấn mã bước dềnh dang
Đừng kinh vườn hạnh tiêu điều hết
Bội kẻ cài hoa khắp phố phường

* Chú giải:
Phương trần 芳塵
(1). 指落花。 晋 庾阐 《 杨都赋》:“ 结芳尘於绮疏。” 南朝 宋 谢庄 《 月赋》:“ 緑苔生阁, 芳尘凝榭。” 唐 司空曙 《 送高胜重谒曹王》 诗:“ 想君登旧榭, 重喜扫芳尘。”《 乐府群玉 • 赵文宝<朝天子 • 送春>》:“ 堤上芳尘, 桥边飞絮, 树头红一片无。”
(1) .Chỉ lạc hoa。 Tấn dữu xiển 《dương đô phú》 : “kết phương trần ư khỉ sơ。” Nam Triều tống tạ trang 《nguyệt phú》 : “緑 đài sanh các,phương trần ngưng tạ。” Đường tư không thự 《tống cao thắng trọng yết tào vương》 thi: “tưởng quân đăng cựu tạ,trọng hỉ tảo phương trần。” 《Nhạc Phủ quần ngọc•triệu văn bảo <triều thiên tử•tống xuân >》 : “đê thượng phương trần,kiều biên phi nhứ,thụ đầu hồng nhất phiến vô。
[...]
http://www.zdic.net/cd/ci/7/ZdicE8Zdic8AZdicB336669.htm Đọc tiếp →
Chủ Nhật, 15 tháng 8, 2010
Trả lời Bùi Địch

答裴迪
淼淼寒流廣
蒼蒼秋雨晦
君問終南山
心知白雲外
Đáp Bùi Địch
Miểu miểu hàn lưu quảng
Thương thương thu vũ hối
Quân vấn Chung Nam sơn
Tâm tri bạch vân ngoại
Vương Duy
Trả lời Bùi Địch
Mênh mang nước lạnh chảy dàn
Trời thu xanh thẳm mờ làn mưa bay
Núi Nam anh hỏi nào hay
Phía ngoài mây trắng tâm này biết thôi
Leopard dịch.
Đọc tiếp →
Thứ Hai, 2 tháng 8, 2010
Bướm chết trong sách

蝶死書中
芸窗曾幾染書香
謝卻風流未是狂
薄命有緣留簡籍
殘魂無淚哭文章
蠹魚易醒繁華夢
螢火難灰錦繡腸
聞道也應甘一死
淫書猶勝為花忙
Điệp tử thư trung
Vân song tằng kỷ nhiễm thư hương,
Tạ khước phong lưu vị thị cuồng.
Bạc mệnh hữu duyên lưu giản tịch,
Tàn hồn vô lệ khốc văn chương.
Đố ngư dị tỉnh phồn hoa mộng,
Huỳnh hoả nan hôi cẩm tú trường.
Văn đạo dã ưng cam nhất tử,
Dâm thư do thắng vị hoa mang.
Nguyễn Du
Bướm chết trong sách
Hương văn mấy độ nhiễm thư phòng
Từ bỏ phong lưu chẳng phải ngông
Mệnh bạc còn duyên lưu thẻ sách
Hồn tàn không lệ khóc văn chương
Đố ngư dễ tỉnh mơ đô hội
Đom đóm khó thiêu dạ lụa nhung
Nghe đạo mà nên ưng bụng chết
Sách văn mê mệt bỏ hoa không
芸窗曾幾染書香
謝卻風流未是狂
薄命有緣留簡籍
殘魂無淚哭文章
蠹魚易醒繁華夢
螢火難灰錦繡腸
聞道也應甘一死
淫書猶勝為花忙
Điệp tử thư trung
Vân song tằng kỷ nhiễm thư hương,
Tạ khước phong lưu vị thị cuồng.
Bạc mệnh hữu duyên lưu giản tịch,
Tàn hồn vô lệ khốc văn chương.
Đố ngư dị tỉnh phồn hoa mộng,
Huỳnh hoả nan hôi cẩm tú trường.
Văn đạo dã ưng cam nhất tử,
Dâm thư do thắng vị hoa mang.
Nguyễn Du
Bướm chết trong sách
Hương văn mấy độ nhiễm thư phòng
Từ bỏ phong lưu chẳng phải ngông
Mệnh bạc còn duyên lưu thẻ sách
Hồn tàn không lệ khóc văn chương
Đố ngư dễ tỉnh mơ đô hội
Đom đóm khó thiêu dạ lụa nhung
Nghe đạo mà nên ưng bụng chết
Sách văn mê mệt bỏ hoa không
Pang De dịch.
---------------------------------
Đố ngư: Con trùng chết giữa những trang sách có tên là đố ngư, nó không hẳn là con bướm, cũng không phải là con mọt. Nó là loại gián nhỏ không có cánh, có ba lông đuôi, thường sống trong những tủ sách, tủ quần áo. Ta thường gọi nó là con ba đuôi.
Đố ngư: Con trùng chết giữa những trang sách có tên là đố ngư, nó không hẳn là con bướm, cũng không phải là con mọt. Nó là loại gián nhỏ không có cánh, có ba lông đuôi, thường sống trong những tủ sách, tủ quần áo. Ta thường gọi nó là con ba đuôi.
Huỳnh hỏa: Con đom đóm.
Văn đạo: Khổng Tử trong sách Luận Ngữ viết "Triêu văn đạo tịch tử khả hĩ", nghĩa là "Sáng nghe đuợc đạo lý, tối chết cũng hả lòng."
Dâm thư do thắng vị hoa mang: Mê mệt sách còn át cả (việc) bị hoa làm cho bận rộn.
Đọc tiếp →
Văn đạo: Khổng Tử trong sách Luận Ngữ viết "Triêu văn đạo tịch tử khả hĩ", nghĩa là "Sáng nghe đuợc đạo lý, tối chết cũng hả lòng."
Dâm thư do thắng vị hoa mang: Mê mệt sách còn át cả (việc) bị hoa làm cho bận rộn.
Chim công múa

孔雀舞
孔雀腑懷毒,
誤服不可醫。
外露文章體,
中藏殺罰機。
人誇容止善,
我惜羽毛奇。
鶴海亦會舞,
不與世人知。
Khổng tước vũ
Khổng tước phủ hoài độc
Ngộ phục bất khả y
Ngoại lộ văn chương thể
Trung tàng sát phạt ky
Nhân khoa dung chỉ thiện
Ngã tích vũ mao kỳ
Hạc hải diệc hội vũ
Bất dữ thế nhân tri
Hồng Sơn Liệp Hộ Nguyễn Du
Chim công múa
Không thuốc nào chữa được
Khi ngộ độc gan công
Vẻ đẹp lộ ngoài mã
Chất độc giấu trong lòng
Người thường khen cái dáng
Ta chỉ tiếc bộ lông
Hạc bể cũng biết múa
Không cho người đời trông
Nguyễn Thạch Giang dịch.
-----------------------------
Thêm bản dịch nghĩa:
Phủ chim công mang độc
Lỡ uống không thể chữa
Ngoài lộ hình dáng văn hoa
Trong giấu nhân giết chóc
Người khen dung mạo và cử chỉ tốt
Ta tiếc lông cánh hiếm có
Hạc bể cũng hội hè múa may
Nhưng không cho người trần xem
孔雀腑懷毒,
誤服不可醫。
外露文章體,
中藏殺罰機。
人誇容止善,
我惜羽毛奇。
鶴海亦會舞,
不與世人知。
Khổng tước vũ
Khổng tước phủ hoài độc
Ngộ phục bất khả y
Ngoại lộ văn chương thể
Trung tàng sát phạt ky
Nhân khoa dung chỉ thiện
Ngã tích vũ mao kỳ
Hạc hải diệc hội vũ
Bất dữ thế nhân tri
Hồng Sơn Liệp Hộ Nguyễn Du
Chim công múa
Không thuốc nào chữa được
Khi ngộ độc gan công
Vẻ đẹp lộ ngoài mã
Chất độc giấu trong lòng
Người thường khen cái dáng
Ta chỉ tiếc bộ lông
Hạc bể cũng biết múa
Không cho người đời trông
Nguyễn Thạch Giang dịch.
-----------------------------
Thêm bản dịch nghĩa:
Phủ chim công mang độc
Lỡ uống không thể chữa
Ngoài lộ hình dáng văn hoa
Trong giấu nhân giết chóc
Người khen dung mạo và cử chỉ tốt
Ta tiếc lông cánh hiếm có
Hạc bể cũng hội hè múa may
Nhưng không cho người trần xem


Đọc tiếp →
Chủ Nhật, 1 tháng 8, 2010
Trời sương

霜天
落月茫茫水上樓
曉霜如雨滿汀洲
半崖綠樹添黃葉
一夜青山盡白頭
雲暗不來衡麓雁
天寒獨倚楚江舟
嶺梅欲問花開未
极目風煙攪客愁
阮思僩
Sương thiên
Lạc nguyệt mang mang thuỷ thượng lâu
Hiểu sương như vũ mãn đinh châu
Bán nhai lục thụ thiêm hoàng diệp
Nhất dạ thanh sơn tận bạch đầu
Vân ám bất lai Hành lộc nhạn
Thiên hàn độc ỷ Sở giang châu
Lĩnh mai dục vấn hoa khai vị
Cực mục phong yên giảo khách sầu
Nguyễn Tư Giản
Trời sương
Trăng lặn lầu soi mặt nước mờ
Như mưa sương sớm phủ đầy bờ
Nửa đèo cây lá thêm vàng úa
Một tối non đầu hóa trắng phơ
Mây thẫm núi Hành không nhạn lại
Trời hàn sông Sở mỗi thuyền trơ
Muốn hay mai Lĩnh đà khai nụ
Hút mắt khói mây dạ bộn bừa
Pang De dịch.
-----------------------------
Nguyễn Tư Giản 阮思僩 (1823-1890) hiệu Thạch Nông 石農, Vân Lộc 雲麓, tự Tuân Thúc 洵叔, quê huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn (nay là huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh).
Hành lộc: chân núi Hành. Hành Dương, một dãy núi ở tỉnh Hồ Nam, trong đó ngọn núi Hồ Nhạn, tương truyền chim nhạn từ phương Bắc dời xuống phương Nam, đến đấy gặp mùa xuân thì bay trở lại, do đó thành tên núi. Câu này hàm ý nhớ nước nhà ở phương Nam.
Sở giang: sông Sở. Nước Sở nay là vùng Hồ Nam, Hồ Bắc
Lĩnh mai: Tức núi Đại Dũ Lĩnh (núi Đại Dũ), ở tỉnh Giang Tô (Trung Quốc). Trên núi Đại Dũ có cửa ải, phân cách hai tỉnh Giang Tô và Quảng Đông, cũng là ranh giới cũ giữa nước Nam Việt của Triệu Đà với Trung Quốc thời Tần - Hán. Núi Dũ Lĩnh là nơi có nhiều mai, khí hậu phía Nam và phía Bắc núi khác nhau, mai phía Nam nở hoa trước mai phía Bắc núi.
Nguồn:
1. Vân Lâm Nguyễn tộc - Lý triều hậu duệ, Hoàng giáp Nguyễn Tư Giản - Cuộc đời và thơ văn, Kỷ yếu hội thảo khoa học kỷ niệm 990 năm Thăng Long - Hà Nội và 110 năm ngày mất Hoàng Giáp Nguyễn Tư Giản, Trung tâm Văn hoá ngôn ngữ Đông Tây xuất bản, Hà Nội, 2001.
2. Phạm Thiều - Đào Phương Bình (chủ biên), Thơ đi sứ, Viện nghiên cứu Hán Nôm, NXB KHXH, Hà Nội, 1993.
http://www.thivien.net/viewpoem.php?ID=39363
Thứ Sáu, 30 tháng 7, 2010
Sơn trà

山茶
春來客贈我山茶
醉裏曚曨不辨花
白髮蒼顏吾老矣
紅袍金帶子真耶
尋常細雨驚穿葉
蕭瑟晨風怨落茄
近日相看惟以鼻
了無香氣一呵呵
阮勸
Sơn trà
Xuân lai khách tặng ngã sơn trà
Tuý lý mông lung bất biện hoa
Bạch phát thương nhan ngô lão hĩ
Hồng bào kim đái tử chân da
Tầm thường tế vũ kinh xuyên diệp
Tiêu sắt thần phong oán lạc già
Cận nhật tương khan duy dĩ tỵ
Liễu vô hương khí nhất kha kha
Nguyễn Khuyến
Sơn trà
Xuân tới có người gởi tặng hoa
Đương say ta chẳng biết sơn trà
Mặt xanh tóc trắng ta già vậy
Đai bạc áo hồng bác đấy a
Mưa nhỏ tầm thường e xỏ lá
Gió mai hiu hắt ngại rơi hoa
Buổi nay nhìn ngắm duy nhờ mũi
Đếch thấy hơi hương một tiếng khà
Pang De dịch dật.
-------------------------
(1) Sơn trà: loại hoa có sắc mà không có mùi hương.
(2) Xuyên lá: dịch sát chữ “xuyên diệp 穿葉”. Tiếng Việt có thành ngữ “xỏ lá” để chỉ những hành động thâm hiểm, đểu cáng. Tác giả đưa thành ngữ Việt này vào thơ Hán thành “xuyên diệp” với hàm ý đả kích kẻ đã chơi trò “xỏ lá” tặng cây trà.
(3) Rụng đài hoa: dịch sát chữ “lạc già 落茄”. Đây tác giả cũng có ngụ ý chơi chữ, thể hiện rõ trong bài tự dịch nôm thành “rơi già” (đồng âm với dơi già, con dơi già).
Xem thêm bài "Tạ lại người cho hoa trà" (Tác giả tự dịch bài "Sơn trà") phần thơ Nôm.
Trong cuốn sách "Chu Mạnh Trinh - Thơ và giai thoại", NXB VHTT, 2000, tác giả Lê Văn Ba đã đưa ra những cứ liệu thuyết phục để khẳng định rằng Chu Mạnh Trinh không phải là người tặng hoa trà cho Nguyễn Khuyến.
Nguồn:
1. Thơ Văn Nguyễn Khuyến, Nhà xuất bản Văn học, 1971.
2. Nguyễn Khuyến - Tác phẩm, Nguyễn Văn Huyền biên khảo, NXB KHXH, 1984.
3. Trần Văn Nhĩ, Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến, NXB Văn Nghệ, 2005.
-----------------------------
* Bản tự dịch của Tam nguyên Yên Đổ:
Tết đến người cho một chậu trà,
Đương say ta chẳng biết rằng hoa.
Da mồi, tóc bạc ta già nhỉ,
Áo tía đai vàng bác đó a?
Mưa nhỏ những kinh phường xỏ lá,
Gió to luống sợ lúc rơi già.
Xem hoa, ta chỉ xem bằng mũi,
Đếch thấy hơi hương một tiếng khà.
------------------------------------------
* Nguồn: http://www.thivien.net/viewpoem.php?ID=39407 Đọc tiếp →
Labels:
04-poetry,
cothi,
nguyenkhuyen
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
