
霜天
落月茫茫水上樓
曉霜如雨滿汀洲
半崖綠樹添黃葉
一夜青山盡白頭
雲暗不來衡麓雁
天寒獨倚楚江舟
嶺梅欲問花開未
极目風煙攪客愁
阮思僩
Sương thiên
Lạc nguyệt mang mang thuỷ thượng lâu
Hiểu sương như vũ mãn đinh châu
Bán nhai lục thụ thiêm hoàng diệp
Nhất dạ thanh sơn tận bạch đầu
Vân ám bất lai Hành lộc nhạn
Thiên hàn độc ỷ Sở giang châu
Lĩnh mai dục vấn hoa khai vị
Cực mục phong yên giảo khách sầu
Nguyễn Tư Giản
Trời sương
Trăng lặn lầu soi mặt nước mờ
Như mưa sương sớm phủ đầy bờ
Nửa đèo cây lá thêm vàng úa
Một tối non đầu hóa trắng phơ
Mây thẫm núi Hành không nhạn lại
Trời hàn sông Sở mỗi thuyền trơ
Muốn hay mai Lĩnh đà khai nụ
Hút mắt khói mây dạ bộn bừa
Pang De dịch.
-----------------------------
Nguyễn Tư Giản 阮思僩 (1823-1890) hiệu Thạch Nông 石農, Vân Lộc 雲麓, tự Tuân Thúc 洵叔, quê huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn (nay là huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh).
Hành lộc: chân núi Hành. Hành Dương, một dãy núi ở tỉnh Hồ Nam, trong đó ngọn núi Hồ Nhạn, tương truyền chim nhạn từ phương Bắc dời xuống phương Nam, đến đấy gặp mùa xuân thì bay trở lại, do đó thành tên núi. Câu này hàm ý nhớ nước nhà ở phương Nam.
Sở giang: sông Sở. Nước Sở nay là vùng Hồ Nam, Hồ Bắc
Lĩnh mai: Tức núi Đại Dũ Lĩnh (núi Đại Dũ), ở tỉnh Giang Tô (Trung Quốc). Trên núi Đại Dũ có cửa ải, phân cách hai tỉnh Giang Tô và Quảng Đông, cũng là ranh giới cũ giữa nước Nam Việt của Triệu Đà với Trung Quốc thời Tần - Hán. Núi Dũ Lĩnh là nơi có nhiều mai, khí hậu phía Nam và phía Bắc núi khác nhau, mai phía Nam nở hoa trước mai phía Bắc núi.
Nguồn:
1. Vân Lâm Nguyễn tộc - Lý triều hậu duệ, Hoàng giáp Nguyễn Tư Giản - Cuộc đời và thơ văn, Kỷ yếu hội thảo khoa học kỷ niệm 990 năm Thăng Long - Hà Nội và 110 năm ngày mất Hoàng Giáp Nguyễn Tư Giản, Trung tâm Văn hoá ngôn ngữ Đông Tây xuất bản, Hà Nội, 2001.
2. Phạm Thiều - Đào Phương Bình (chủ biên), Thơ đi sứ, Viện nghiên cứu Hán Nôm, NXB KHXH, Hà Nội, 1993.
http://www.thivien.net/viewpoem.php?ID=39363

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét