Hiển thị các bài đăng có nhãn 04-poetry. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn 04-poetry. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 2 tháng 2, 2012

Wisława Szymborska



trích:

*
Những con rắn của ta không nhanh như chớp nữa
Bọn khỉ hết tưng tưng, lũ công rụng lông màu.
Đám dơi đã bỏ mái tóc ta mà bay khỏi từ lâu


http://liliapl.blogspot.com/2011/05/cuoc-gap-bat-ngo-wisawa-szymborska.html

*
Poetry -
but what is poetry.
Many shaky answers
have been given to this question.
But I don't know and don't know and hold on to it
like to a sustaining railing.


http://www.poemhunter.com/poem/some-like-poetry/

*
Các bài thơ của Szymborska được xây dựng theo thủ thuật tung hứng, như thể với những trái bóng màu, những thành phần hiểu biết chung của chúng ta; chúng làm chúng ta ngạc nhiên với những nghịch lý của hiểu biết ấy và phô bày thế giới của con người như có tính cách bi-hài.

http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=2270

*
Szymborska đã được trao tặng giải Nobel văn chương vào năm 1966 "cho thơ ca mà bằng sự chuẩn xác mang tính hài hước cho phép bối cảnh lịch sử và sinh học hiển lộ trong những phân mảnh thực tại của loài người".

http://www.nobelprize.org/nobel_prizes/literature/laureates/1996/

*
Wisława Szymborska, Polish poet, essayist, translator and recipient of the 1996 Nobel Prize in Literature died today (1 February 2012) in Kraków.

http://strzelczaniewbanderze6.blox.pl/2012/02/Wislawa-Szymborska-passed-away.html
Đọc tiếp →

Thứ Sáu, 11 tháng 11, 2011

Giữa chợ đời

Giữa chợ đời

Giấy mực đau lòng chữ nghĩa

Tài hoa phô giữa chợ đời

Những nghĩ e hồng thẹn tía

Chi cho bướm cợt ong cười

Mấy độ phai sương nhạt nắng

Mắt xanh còn luyến gót đường

Giữ chút niềm Trinh ý Trắng

Gửi lòng tri kỷ muôn phương


Xuân Giáp Thìn 1964

Đông Hồ


* Lan man:



"Lên chơi ai cũng lom khom cúi
Chẳng khéo tu mà chẳng vụng tu"
Đọc tiếp →

Tượng Phật


An aerial view of a flooded temple in Ayutthaya province October 15, 2011/Stringer

Xem bức ảnh chụp tượng Phật trong cảnh ngập lụt ở Thái Lan, bất giác nhớ tới bài thơ của Cao Ngọc Anh. Tượng trong bức ảnh trên có thể là của Tuyết Sơn thích ca, còn bài thơ của Cao Ngọc Anh là về Phật Di Lặc, ở Việt Nam có cách gọi 2 vị Phật này là ông nhịn ăn mà mặc và ông nhịn mặc mà ăn.

Phật Di Lặc

Ăn cho to lớn hỡi ông ơi
Chẳng biết chi chi chỉ biết cười
Bể khổ mênh mông dương mắt ngó
Tòa sen ngất ngưởng xếp chân ngồi
Hương khuya hoa sớm vui cùng đạo
Kẻ khấn người kêu mặc kệ đời
Hai chữ Nam vô quên nhớ nhỉ
Hay là ngọng miệng chỉ vì xôi

Cao Ngọc Anh



Ảnh Di Lặc lục tặc (Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp).


Tượng gỗ Di Lặc lục tặc

"Di-lặc hay Di Lặc (zh. 彌勒, sa. maitreya, pi. metteyya là cách phiên âm, dịch nghĩa là Từ Thị (慈氏), "người có lòng từ", cũng có tên khác là Vô Năng Thắng (zh. 無能勝, sa. ajita), phiên âm Hán-Việt là A-dật-đa, là một vị Bồ Tát và cũng là vị Phật cuối cùng sẽ xuất hiện trên trái Đất.... "
http://tudien.daitangkinhvietnam.org/index.php?title=Di-l%E1%BA%B7c


Như vậy Di Lặc sang đến bên Tàu thì mới thành ra một ông má phính bụng béo, miệng cười toe toét. Nguyên bên Ấn là hình tượng cho tính chất Từ và Bi, sang bên Tàu thì trở thành hình tượng cho tính chất Hỉ và Xả.

大腹能容 容天下難容之事
慈顏常笑 笑世閒可笑之人
Đại phúc năng dung dung thế gian nan dung chi sự
từ nhan thường tiếu tiếu thế gian khả tiếu chi nhân

Sự biến đổi này liệu có phải là một bước tiến? Đọc TTPGAĐ của E. Conze do Hạnh Viên dịch, thấy có đoạn bàn về bốn chữ từ, bi, hỉ, xả... Cảm giác giống như được thấy 2 mặt của một đồng xu.
(Chú ý, đoạn trên là tản mạn của một người chưa am tường gì về các kiến thức Phật pháp)



"Nam Mô (cũng Nam vô): Có 6 nghĩa: kính lễ, quy y, phụng thờ, cứu ngã, độ ngã, quy mạng.
A: Có nghĩa là Vô, Không
Di Đà: Nghĩa là lượng
Phật: Người giác ngộ.
Nam mô A Di Đà Phật là: Kính lễ đấng giác ngộ vô lượng; cũng có nghĩa là: Con quay về nương tựa vào đấng giác ngộ vô lượng."




Đọc tiếp →

Thứ Ba, 18 tháng 10, 2011

Xuân vẫn tha hương




Xuân vẫn tha hương


Gửi chị Trúc

Bốn bể vẫn chưa yên sóng gió;
Xuân này em chị vẫn tha hương,
Vẫn ăn cái Tết ngoài thiên hạ,
Son sắt say hoài rượu bốn phương.

Em đi non nước xa khơi quá!
Mỗi độ xuân về bao nhớ thương;
Mỗi độ xuân về em lại thấy,
Buồn như tên lính ở biên cương.

Thời chưa gặp đỏ, nằm xuông mãi;
Xuông cả ân tình rượu cũng xuông.
Trước mặt bút nghiên, sầu tịch mịch,
Quanh mình chăn chiếu rộn tang thương.

Một thân quán trọ sầu phong tỏa.
Đốt ngọn đèn lên, bóng rợn tường.
Đêm ba mươi tết quê người cũng,
Tiếng pháo giao thừa dậy tứ phương.

Chị ạ, em không người nước Sở
Nhớ nhà đâu mượn địch Trương Lương.
Đất khách tình dâng hòa mắt lệ,
Ôi nhà! Ôi chị! Ôi quê hương!

Từ em lưu lạc ngoài muôn dặm,
Một đoạn đường đi một đoạn trường.
Cửa quan chẳng mở, đầu Viên bạc;
Tri kỷ không ai, mắt Tịch cuồng.

Thôn dã từng quen mùi đạm bạc.
Thị thành thêm chán miếng cao lương.
Vụng tính bỏ rơi đi hạnh phúc.
Xảy ra đánh vỡ mất thiên đường.

Trăm ván cờ cao, trăm ván bại,
Nước người thêm thẹn tiếng mang chuông.
Trò đời cúi mặt xem thiên hạ,
Thực đáng cười thay, thực đáng thương!

Trọc phú ti toe bàn thế sự;
Đĩ già tấp tểnh nói văn chương.
Đã coi đồng bạc như non Thái,
Lại học đòi theo thói Mạnh Thường.

Lẳng lơ đi võng, đi tàn cả;
Gái chính chuyên kia đứng vệ đường.
Đất đổi hoa màu, nhà đổi chủ,
Trâu quên mục tử, ngựa quên chuồng.

Thay đen đổi trắng bao canh bạc;
Vẽ nhọ, đen râu mấy lớp tuồng.
Trói vo hồn lại ba đồng bạc,
Bán rẻ đời đi nửa đấu lương.

Chao ôi! Giả dối, ôi mai mỉa!
Sống chật phồn hoa một lũ Mường.
Chị ơi, tất cả là vô nghĩa,
Chả nhiễu điều nào phủ giá gương.

Tay trắng bạn bè đều tránh mặt;
Sa cơ thân thích cũng khinh thường.
Sông lạnh thấy đâu người gọi gió;
Trăng tà tìm mãi kẻ mài gươm.

Áo xanh bạc nửa màu sương gió,
Xót kẻ ăn nằm trong gió sương.
Đầy vơi tâm sự cùng ai tỏ,
Mộng lạnh đêm xưa, chiếu lạnh giường.

Quê nhà gối chiếc, thôi rồi kẻ
Chia nửa vầng trăng với dặm trường
Son phấn hững hờ niềm sắt đá
Sông hồ vò võ nỗi yên cương

Chị ạ, duyên em mà chẳng đẹp,
Chỉ vì không đọc chuyện Tây Sương.
Người yêu buổi ấy lên xe cưới,
Cũng khóc cho tròn ý nhớ thương.
Khấp như sử nữ vu quy nhật.
Lệ có thành sông, chuyện cũng thường.

Trò đời chẳng hẹn nhau lần gặp;
Đập nát cho rồi nửa mảnh gương.
Duyên mới đẹp lòng người sử nữ;
Đầu sông ai nhớ cuối sông Tương.

Tàn lạnh lòng em từ buổi ấy,
Vơi tình thôi hết cả tơ vương.
Chị ở quê chồng, Xuân có đẹp ?
Con đò bến cũ có thê lương ?

Nêu cao, pháo nổ, trầm thơm ngát.
Hoa bưởi, hoa cam rụng ngập vườn.
Mưa Xuân rắc bụi quanh làng mạc,
Gái lịch, trai thanh chật phố phường.

Lá lộc hồ tơ, tay ngọc hái,
Sông hồ vò võ nỗi yên cương.
Nhưng dù Tết đẹp hay Xuân đẹp,
Chắc chị chưa hề nguôi nhớ thương.

Người đi buổi ấy tàn hoa phượng.
Cõi Thục xa xôi mấy dặm trường.
Phong ba từ nổi trong đời chị,
Tóc rối xuân xanh, má nhạt hường.

Qua đò mấy độ sầu sông nước.
Dệt mộng bao lần tủi phấn hương.
Tháng hẹn chờ rơi cơn lá úa.
Đêm Tần đợi khuyết cái trăng xuông

Chỉ tổ tài cao, trời đất ghét,
Một thân oan khổ có trăm đường
Cuối thu mưa nát lòng dâu bể,
Ngày muộn, chuông đau chuyện đá vàng. (*)

Em thường cầu nguyện thường van vái,
Một sớm thanh bình mặt đại dương.
Bao giờ em được về quê cũ,
Dâng chị bài thơ xuân cố hương.

Nguyễn Bính


(*): Bài thơ dưới của Thâm Tâm cũng có 2 câu này:

Ngậm ngùi cố sự

Lảo đảo năm canh lệ mấy hàng,
Ngậm ngùi cố sự bóng lưu quang.
Cuối thu mưa nát lòng dâu bể,
Ngày muộn chuông đau chuyện đá vàng.
Chán ngắt gia tình sầu ngất ngất,
Già teo thân thế hận mang mang.
Thẹn cùng trời đất mòn xuôi ngược,
Chí lớn không đầy một tấc gang.

Thâm Tâm
Đọc tiếp →

Thứ Bảy, 28 tháng 5, 2011

Hanbooks of Poetry


01.

A Study of Poetry by Bliss Perry:
http://www.gutenberg.org/ebooks/8221

The Pain and the Pleasure of Words Mutlu Konuk Blasing 227p

Art of the poetry Shira Wolosky 245p

You Can Write Poetry - Jeff Mock 126p

02.

Frances Mayes--The Discovery of Poetry: A Field Guide to Reading and Writing Poems
Steve Kowit--In the Palm of Your Hand: The Poet's Portable Workshop
Ted Kooser -- The Poetry Home Repair Manual: Practical Advice for Beginning Poets
Mary Oliver--A Poetry Handbook
Laurence Perrine--Sound and Sense
Kim Adonnizio and Dorianne Laux--The Poet's Companion: A Guide to the Pleasures of Writing Poetry
Robert Pinsky--The Sounds of Poetry

The Norton Anthology of Modern and Contemporary Poetry, two volumes.
The New Bread Loaf Anthology of Contemporary American Poetry, ed. by Michael Collier and Stanley Plumly,
New British Poetry edited by Don Paterson and Charles Simic,
Contemporary American Poetry, ed. by R. S. Gwynn and April Lindner


03.
Patterns in Poetry

Resources:

Books | Websites
Selected Bibliography

Alexander, Christopher et al., A Pattern Language: Towns, Buildings, Construction. New York: Oxford University Press., 1977.

Bach, Bert C., Sessions, William A., and Walling, William. The Liberating Form: A Handbook-Anthology of English and American Poetry. New York: Dodd, Mead & Co., 1972.

Hass, Robert, ed., The Essential Haiku: Versions of Basho, Buson, & Issa. Hopewell, NJ.: The Ecco Press., 1994.

Hollander, John. Rhyme's Reason: A Guide to English Verse. New Haven Yale University Press, 1989.

Kinzie, Mary. A Poet's Guide to Poetry. Chicago: The University of Chicago Press, 1999.

Pinsky, Robert. The Sounds of Poetry: A Brief Guide. New York: Farrar, Straus and Giroux, 1998.

Price, Dorothy, ed., Silent Flowers: A New Collection of Japanese Haiku Poems. Tokyo: Hokuseido Press., 1967.

Stevens, Peter S., Patterns in Nature. Boston: Little, Brown & Co., 1974.

Strand, Mark and Eavan Boland, eds,. The Making of a Poem: A Norton Anthology of Poetic Forms. New York: W.W. Norton & Co., 2000.


Websites
Note: For additional online resources, see the links pages for the Sonnet and Haiku learning modules.

Atlantic Unbound Poetry Pages: http://www.theatlantic.com/unbound/poetry/poetry.htm
The online version of the Atlantic Monthly. Read the controversial 1991 essay by Dana Gioia called "Can Poetry Matter? The essay argues that poetry has declined as a cultural force in the U.S. because it no longer speaks to a popular audience and has become a domain for an inbred group of academic writers. Atlantic Unbound also features many sound recordings of poems delivered through real audio.

The Academy of American Poets: http://www.poets.org/academy/
Extensive, well-organize site that features a search function, literary articles, an events calendar, audio files and poems in large print. You can search by the name of the poet, poem or first line.

Electronic Poetry Center: http://wings.buffalo.edu/epc/
Maintained by the State University of New York at Buffalo. Great site with lots of links to literary magazines, conferences and festivals. Features many wonderful experimental and hyperlinked poems.

Fooling with Words: The Poets Read: http://www.pbs.org/wnet/foolingwithwords/main_video.html
The Website of Bill Moyer's popular PBS series. This link takes you to video clips where you view poets Mark Doty, Amiri Baraka, Coleman Barks, Sharon Olds and many others reading their works. Includes some interviews.

Glossary of Poetic Terms: http://shoga.wwa.com/%7Ergs/glossary.html
Maintained by prolific if mysterious Dr. Bob. Hundreds of poetic terms defined with hyperlinked cross references and guides to pronunciation; Includes many examples and tips on how to enjoy reading poetry.

The Modern Poetry Association: http://www.poetrymagazine.org/index.html
Publishes Poetry Magazine and the Poets in Person audiocassette series.

RhymeZone: http://rhyme.lycos.com/
Useful search engine that lets you type in a word and retrieve rhymes, synonyms, homophones, words with the same first consonant (grouped by the number of syllables). A great resource if you are attempting to write in a form with a fixed rhyme or syllablic scheme.

Salon Audio: http://www.salon.com/audio/index.html (formerly MP3Lit.com)
Salon Magazine's spoken word site. You can download many of your favorites poets in MP3 format or listen via streaming Real Media. Great resource if you like to listen to poetry being read.

trAce Online Writing Community: http://trace.ntu.ac.uk/
A UK site that attempts to resemble a literary circle. Features include poetry workshops, real-time literary debates, live poets in virtual residence, and writers' journals in hypertext.

UBU Web: http://www.ubu.com/index.html
It's not clear which college maintains this site. But it has an index page with links to the works of hundreds of poets organized into categories such as historical, sound, contemporary, found and insane. Features many experimental works. The interface is a little confusing.

Voice of the Shuttle: Poetry Studies: http://vos.ucsb.edu/shuttle/english2.html#poetry
An extensive list of literary links that include sites devoted to writing, criticism, genres and the workidual poets.

--------------------------------------


Đọc tiếp →

Thứ Tư, 13 tháng 10, 2010

Cảm xúc đầu thu kỳ I

初秋感興其一

蕭蕭木落楚江空
無限傷心一夜中
白髮生憎班定遠
玉門關外老秋風

阮攸

Sơ thu cảm hứng kỳ nhất

Tiêu tiêu mộc lạc Sở giang không
Vô hạn thương tâm nhất dạ trung
Bạch phát sinh tăng Ban Định Viễn
Ngọc Môn quan ngoại lão thu phong

Nguyễn Du

Cảm hứng đầu thu kỳ I

Xao xác lá rơi quạnh bến Tương
Lòng đau vô hạn một đêm trường
Ban Siêu tóc bạc đâm buồn ghét
Ải Ngọc gió thu tuổi muộn cùng

Pang De dịch lại.
Đọc tiếp →

Thứ Ba, 12 tháng 10, 2010

Dữ Đỗ Mục chi Niệm tích du đệ tam thủ lưu ký

念昔游三首 Niệm tích du tam thủ

年代:唐 Niên đại: Đường
作者:杜牧 Tác giả: Đỗ Mục
体裁:七绝 Thể tài: Thất tuyệt
类别: … Loại biệt: …

十载飘然绳检外,樽前自献自为酬。
秋山春雨闲吟处,倚遍江南寺寺楼。

Thập tái phiêu nhiên thằng kiểm ngoại
Tôn tiền tự hiến tự vi thù.
Thu san xuân vũ nhàn ngâm xứ
Ỷ biến Giang Nam tự tự lâu

云门寺外逢猛雨,林黑山高雨脚长。
曾奉郊宫为近侍,分明㩳㩳羽林枪。

Vân môn tự ngoại phùng mãnh vũ
Lâm hắc san cao vũ cước trường
Tằng phụng giao cung vi cận thị
Phân minh tủng tủng vũ lâm thương

李白题诗水西寺,古木回岩楼阁风。
半醒半醉游三日,红白花开山雨中。

Lý Bạch đề thi Thuỷ Tây tự
Cổ mộc hồi nham lâu các phong
Bán tinh bán tuý du tam nhật
Hồng bạch hoa khai sơn vũ trung


(Chú:thủy tây tự thị chỉ an huy kính huyện tây ngũ lý,hữu nhất tọa thủy tây san,sơn trung hữu thiên cung thủy tây tự。)

㩳: 《唐韻》息拱切《集韻》筍勇切《正韻》息勇切,𠀤音悚。執也,推也。 
又《禮•部韻略》挺也。《杜甫•畫鷹詩》㩳身思狡兔。《註》㩳,猶竦也。 又《集韻》雙講切,雙上聲。亦推也。或省作㨦。
㩳㩳:搠搠
….
(㩳: Tức củng thiết (Đường vận)  đọc là Tủng)


杜牧曾因仕途坎坷,长期飘泊南方。《念昔游》是若干年后追忆那次飘游而写的组诗,一共三首,这是第三首。
  “水西寺”即天宫水西寺,是宣州泾县水西山中很有名的一座寺院。寺中“凡十四院,其最胜者曰华岩院,横跨两山,廊庑皆阁道,泉流其下”(《江南通志》)。李白曾到此游览,并题有《游水西简郑明府》一诗。此诗杜牧开门见山,提到李白在此题诗一事。李白诗中云:“清湍鸣回溪,绿竹绕飞阁;凉风日潇洒,幽客时憩泊”,描写了山寺佳境。杜牧将这一佳境凝炼为“古木回岩楼阁风”,正抓住了水西寺的特色:横跨两山的建筑,用阁道相连,四周皆是苍翠的古树、绿竹,凌空的楼阁之中,山风习习,风光美妙动人。   

李白一生坎坷曲折,长期浪迹江湖,寄情山水。杜牧此时不但与李白的境遇相仿,而且心绪也有些相似。李白身临佳境曰“幽客时憩泊”;杜牧面对胜景曰“半醒半醉游三日”,都是想把政治上失意后的苦闷消释在可以令人忘忧的美景之中。三、四句合起来,可以看到这样的场面:在蒙蒙的雨雾中,山花盛开,红白相间,幽香扑鼻;似醉若醒的诗人,信步走在这一带有浓烈的自然野趣的景色之中,显得非常陶然自得。

杜牧(803-853)唐代诗人。字牧之,京兆万年(今陕西西安)人,宰相杜佑之孙。大和(827-835) 年间登进士第,授宏文馆校书郎。多年在外地任幕僚,后历任监察御史,史馆修撰,膳部、比部、司勋员外郎,黄州、池州、睦州刺史等职,最终官至中书舍人。诗以七言绝句著称,晚唐诸家让渠独步。人谓之小杜,和李商隐合称“小李杜”,以别于李白与杜甫。擅长文赋,其《阿房宫赋》为后世传诵。注重军事,写下了不少军事论文,还曾注释《孙子》。有《樊川文集》二十卷传世,为其外甥裴延翰所编,其中诗四卷。又有宋人补编的《樊川外集》和《樊川别集》各一卷。《全唐诗》收杜牧诗八卷。

http://www.hudong.com/wiki/%E5%BF%B5%E6%98%94%E6%B8%B8%C2%B7%E6%9D%8E%E7%99%BD%E9%A2%98%E8%AF%97%E6%B0%B4%E8%A5%BF%E5%AF%BA


游水西简郑明府
天宫水西寺,云锦照东郭。清湍鸣回溪,绿水绕飞阁。
凉风日潇洒,幽客时憩泊。五月思貂裘,谓言秋霜落。
石萝引古蔓,岸笋开新箨。吟玩空复情,相思尔佳作。
郑公诗人秀,逸韵宏寥廓。何当一来游,惬我雪山诺。
李白

Du thủy tây giản trịnh minh phủ

Thiên cung thủy tây tự,vân cẩm chiếu đông quách。
Thanh thoan minh hồi khê,lục thủy nhiễu phi các。
Lương phong nhật tiêu sái,u khách thời khế bạc。
Ngũ Nguyệt tư điêu cừu,vị ngôn thu sương lạc。
Thạch la dẫn cổ man,ngạn duẩn khai tân thác。
Ngâm ngoạn không phục tình,tương tư nhĩ giai tác。
Trịnh công thi nhân tú,dật vận hoành liêu khuếch。
Hà đương nhất lai du,khiếp ngã tuyết sơn nặc。

Lý Bạch


黄河之水天上来:李白卷――唐宋诗词名家精品类编 书摘:


游水西简郑明府①  天宫水西寺,云锦照东郭。清湍鸣回溪,绿竹绕飞阁。凉风日潇洒,幽客时憩泊②。五月思貂裘,谓言秋霜落。石萝引古蔓,岸笋开新箨。吟玩空复情,相思尔佳作。郑公诗人秀,逸韵宏寥廓③。何当一来游,惬我雪山诺④
[注释]  ①水西:指天宫水西寺,在今安徽泾县之西五里水西山中,寺址尚存。郑明府:或说即溧阳县令郑晏。作者《溧阳濑水贞义女碑铭序》云:“邑宰郑公名晏,家康成之学,世子产之才,琴清心闲,百里大化。”  ②憩泊:犹憩息,休憩止息。  ③“郑公,,二句:谓郑晏善诗,其诗韵逸气宏。按,郑诗今已失传。  ④雪山诺:典出佛教故事。释迦牟尼于雪山修行,称雪山童子,又称雪山大士,终得罗刹半偈,而超越十二劫。见《涅檠经》十四“圣行品”。雪山,指喜玛拉雅山。文殊往化仙人,即其处。[点评]  诗写水西山景色幽清,气候宜人,夏凉如秋,固约郑明府来游,以论诗文。太白咏水西寺之诗,今存仅此一首,却颇能尽水西风致。杜牧《念昔游》三首其三:“李白题诗水西寺,古木回岩楼阁风。半醒半醉游三日,红白花开烟雨中。”足见此诗在唐朝之影响,是播在人口之作。
http://book.danawa.com.cn/book/980628.html
Đọc tiếp →

Thứ Bảy, 9 tháng 10, 2010

Ba bài thất ngôn bát cú

秋夜記聞

靜院臨清夜

聲聲與耳
草間蟲唧唧
雲際雁啾啾
鐘落江城月
砧寒海國秋
鄉關千里客
欲夢并悠悠

Thu dạ ký văn


Tĩnh viện lâm thanh dạ

Thanh thanh dữ nhĩ mưu
Thảo gian trùng tức tức
Vân tế nhạn thu thu
Chung lạc giang thành nguyệt
Châm hàn hải quốc thu
Hương quan thiên lý khách
Dục mộng tịnh du du

Đoàn Huyên (1808-1885)



即事

回首龍城劫灰

三朝宮觀暮笳
秋風一水兼天去
落日千山繞塞來
橋上聞鵑知地氣
草間射虎惜人才
西湖不記當年事
謾放蓮花照酒杯

阮尚賢

Tức sự

Hồi thủ long thành dắng kiếp hôi
Tam triều cung quán mộ già ai
Thu phong nhất thuỷ kiêm thiên khứ
Lạc nhật thiên sơn nhiễu tái lai
Kiều thượng văn quyên tri địa khí
Thảo gian xạ hổ tích nhân tài
Tây hồ bất ký đương niên sự
Mạn phóng liên hoa chiếu tửu bôi

Nguyễn Thượng Hiền (1868-1926)


槐街歌女

百囀鶯巧弄歌
可憐美目貫秋波
蕭疏閭舍絲竹
琬琰嬌娘強綺羅
輾轉春情愁夜月
悽涼古調咽冥笳
動人最是風流處
一曲南音倡和 (1)

段阮俊

Hòe Nhai ca nữ

Bách chuyển oanh hầu xảo lộng ca
Khả lân mỹ tục quán thu ba
Tiêu sơ lư xá trì ty trúc
Uyển diễm kiều nương cưỡng ỷ la
Triển chuyển xuân tình sầu dạ nguyệt
Thê lương cổ điệu yết minh già
Động nhân tối thị phong lưu xứ
Nhất khúc Nam âm dật xướng hòa

Đoàn Nguyễn Tuấn (1751-?) (2)



(1): Bản Hán tự gõ.

(2): Nguyễn Du có bài gửi anh vợ Đoàn Nguyễn Tuấn trong Thanh Hiên thi tập:

和海翁段阮俊「甲寅奉命入富春京登程留別北城諸友」之作

橫山山外嶺南程
琴劍相隨上玉京
兔髓未完新大藥
豹皮仍累舊浮名
滄溟水引杯中綠
故國蟾隨馬後明
此去家兄如見問
窮途白髮正星星

Hoạ Hải ông Đoàn Nguyễn Tuấn "Giáp Dần phụng mệnh nhập Phú Xuân đăng trình lưu biệt bắc thành chư hữu" chi tác

Hoành Sơn sơn ngoại lĩnh nam trình,
Cầm kiếm tương tuỳ thướng ngọc kinh.
Thố tuỷ vị hoàn tân đại dược,
Báo bì nhưng luỵ cựu phù danh.
Thương minh thuỷ dẫn bôi trung lục,
Cố quốc thiềm tuỳ mã hậu minh.
Thử khứ gia huynh như kiến vấn,
Cùng đồ bạch phát chí tinh tinh.

Nguyễn Du

------------------------
Updated 15/10/2010:

- Chữ "dắng" 媵 thay bằng chữ "thặng" 賸 (hay 剩).
Đọc tiếp →

Thứ Hai, 4 tháng 10, 2010

Hai bài tứ tuyệt


甘露寺


聳翠攢蒼入望多

溪西月影轉簷斜
隔林啼鳥尤岑寂
一徑古松初墜花



吟入黃花酒可傾

菊籬秋色晚猶馨
古今人物知多少
一滴南山未了青

陳明宗

Cam Lộ tự

Tủng thuý toàn thương nhập vọng đa
Khê tây nhật ảnh chuyển thiềm tà.
Cách lâm đề điểu vưu sầm tịch
Nhất kính cổ tùng sơ truỵ hoa

Cúc

Ngâm nhập hoàng hoa tửu khả khuynh
Cúc ly thu sắc vãn do hinh
Cổ kim nhân vật tri đa thiểu
Nhất trích Nam sơn vị liễu thanh

Trần Minh Tông


Chùa Cam Lộ

Xa trông biếc núi xanh cây
Bóng ô chếch mái phía tây khe đồi
Bên rừng chim hót lẻ loi
Thông già một lối hoa rơi rụng dần

Cúc

Cúc vàng ngâm vịnh rượu nên bày
Thu muộn giậu hoa hương vẫn bay
Nhân vật cổ kim đâu biết xuể
Núi Nam đôi chút chắc gì hay

Leopard dịch.
Đọc tiếp →

Thứ Tư, 29 tháng 9, 2010

Thơ chữ Hán viết về Thăng Long

Số liệu tạm thời do Leopard tìm tòi, ngày 29/9/2010:

Nguyễn Du có 4 bài:
Thăng Long kỳ 1
Thăng Long kỳ 2
Ngộ gia đệ cựu ca cơ
Long thành cầm giả ca

Cao Bá Quát có 8 bài:
Đăng Long thành lãm thắng hữu cảm
Đề Trấn Vũ miếu
Đồng chư hữu đăng Trấn Vũ tự chung lâu
Đề Trấn Vũ Quán thạch bi
Thanh Trì phiếm chu nam hạ
Vịnh Đổng Thiên Vương
Thứ vận Thận Tư phóng quan Nhị hà, đồng Di Xuân, Hoà phủ
Quá Thiên Quang tự, thương Lê triều cố cung

Nguyễn Khuyến có 3 bài:
Hoàn Kiếm hồ
Giáp Thân Trung thu ngụ Hà Nội hữu cảm, ký đồng niên cử nhân Ngô
Hà Nội Văn Miếu hữu cảm

Dương Khuê có 1 bài:
Hà thành Trung thu tiết

Đoàn Nguyễn Tuấn có 4 bài:
Quá Nhĩ hà quan Bắc binh cổ luỹ
Tây Hồ hoán ty
Kiếm hồ đẩu xạ
Hòe Nhai ca nữ

Nguyễn Văn Siêu có 2 bài:
Đăng chung lâu
Du Tây Hồ

Nguyễn Phi Khanh có 1 bài:
Thu thành vãn vọng

Nguyễn Trãi có ...: (đang xét)

Ninh Tốn có 1 bài:
Hòe Nhai

Miên Thẩm có 1 bài:
Trấn Vũ Miếu

Nguyễn Tư Giản có 3 bài:
Hiếm hồ kỷ du

Nguyễn Trung Ngạn có 1 bài:
Trường An thành hoài cổ

Nguyễn Xuân Ôn có 1 bài:
Tràng An hoài cổ

Nguyễn Thượng Hiền có 3 bài:
Đề Ngọc Sơn đình
Long thành thu nguyệt
Tức sự

Vũ Tông Phan có 2 bài:
Đề Tây Hồ
Đăng Trấn Vũ tự chung lâu

Phan Văn Ái có 1 bài:
Trấn Vũ miếu

Trần Thiện Chánh có 2 bài:
Trấn Vũ quán kỳ 1
Trấn Vũ quán kỳ 2

Phan Trọng Mưu có 2 bài:
Thănh Long thành hoài cổ
Đề Nhị Trưng miếu

Tổng tròn là 40 bài!
--------------------------------

* Bonus:


Thăng Long hoài cổ


Kìa ông Nhĩ Thuỷ, nọ non Nùng,

Thành cũ Thăng Long đó phải không?

Gươm báu mất tăm, trâu cũng lặn,
Gánh tình ai sẻ với non sông!


Á Nam Trần Tuấn Khải







Đọc tiếp →

Chủ Nhật, 26 tháng 9, 2010

Vườn Thẩm



沈園

其一

城上斜陽畫角哀
沈園非復舊池臺
傷心橋下春波綠
曾是驚鴻照影來

其二

夢斷香消四十年
沈園柳老不吹綿
此身行作稽山土
猶吊遺蹤一泫然

陸游

Thẩm viên

Kỳ nhất

Thành thượng tà dương hoạ giác ai
Thẩm viên phi phục cựu trì đài
Thương tâm kiều hạ xuân ba lục
Tằng thị kinh hồng chiếu ảnh lai

Kỳ nhị

Mộng đoạn hương tiêu tứ thập niên
Thẩm viên liễu lão bất xuy miên
Thử thân hành tác Kê sơn thổ
Do điếu di tung nhất huyễn nhiên

Lục Du


Tạm dịch:

Vườn Thẩm

Kỳ một

Trên thành mặt trời ngả về tây, tiếng tù khơi lên buồn thảm,
Vườn Thẩm không có lại ao đài của ngày xưa nữa.
Lòng đau thương trước làn sóng xuân xanh biếc dưới cầu,
Từng có lần dáng hồng e ấp soi bóng tại đây.

Kỳ hai

Mộng đứt hương mất đã được bốn chục năm,
Dương liễu nơi vườn Thẩm già úa, bông liễu chẳng phất phơ.
Thân này sắp làm đất núi Kê,
Vẫn còn điếu dấu xưa mà ứa lệ.
Đọc tiếp →

Thứ Tư, 22 tháng 9, 2010

Cảm xúc sáng tác nên (kỳ bốn)

感作其四

炎邦何事久紛紛
半是天行半是人
只識五胡能亂晉
寧知三戶可亡秦
奉圭獻幣徒多事
擊楫揮戈幾個臣
可怪衣冠文物地
而今胡服已成群

阮春溫

Cảm tác kỳ tứ

Viêm Bang hà sự cửu phân phân
Bán thị thiên hành bán thị nhân
Chỉ thức ngũ Hồ năng loạn Tấn
Ninh tri tam hộ khả vong Tần
Phụng khuê hiến tệ đồ đa sự
Kích tiếp huy qua kỷ cá thần
Khả quái y quan văn vật địa
Nhi kim Hồ phục dĩ thành quần

Nguyễn Xuân Ôn


(Bản dịch sắp có...)
-----------------------

Bản Hán do Leopard tự gõ (có trợ giúp của TĐVH):

01. Âm "phân":

: bộ đao 刀
: bộ vũ 雨
: bộ mịch 糸 (# bộ mịch 冖 )

02. Âm "cảm":

: bộ phác (phốc) 攴
: bộ tâm 心
Đọc tiếp →

Thứ Tư, 8 tháng 9, 2010

Sông Khúc



曲江二首(其一)

一片花飞减却春
风飘万点正愁人
且看欲尽花经眼
莫厌伤多酒入唇
江上小堂巢翡翠
苑边高冢卧麒麟
细推物理须行乐
何用浮名绊此身

杜甫

Khúc giang nhị thủ kỳ nhất

Nhất phiến hoa phi giảm khước xuân
Phong phiêu vạn điểm chính sầu nhân
Thả khan dục tận hoa kinh nhãn
Mạc yếm thương đa tửu nhập thần
Giang thượng tiểu đường, sào phỉ thuý
Uyển biên cao trủng, ngoạ kỳ lân
Tế suy vật lý tu hành lạc
Hà dụng phù danh bạn thử thân

Sông Khúc hai bài (kỳ một)

Một cánh hoa bay xuân giảm vơi
Gió đưa muôn cánh dậy sầu người
Hẵng xem thỏa dạ hoa ngang mắt
Đừng ngại lắm đau rượu ngấm môi
Phỉ thúy bên sông nhà nhỏ trú
Kỳ lân ven ruộng mộ cao ngồi
Kể thông sự lý nên hành lạc
Sao để hư danh bó một đời

Pang De dịch.

-----------------------

第一句写初飞, 第二句写乱飞, 第三句写飞将尽。 一片花飞, 春残之始 ; 风飘万点, 春残欲尽。 自初飞, 以至欲尽, 无不经眼, 面对这个过程, 诗人的愁绪也逐步升级, 故借酒以销愁。“ 经眼”, 眼看着。“ 伤多酒”, 过量饮酒有伤身体。

Đệ nhất cú tả sơ phi, đệ nhị cú tả loạn phi, đệ tam cú tả phi tương tận. Nhất phiến hoa phi, xuân tàn chi thủy; phong phiêu vạn điểm, xuân tàn dục tận. Tự sơ phi, dĩ chí dục tận, vô bất kinh nhãn, diện đối giá cá quá trình, thi nhân đích sầu tự dã trục bộ thăng cấp, cố tá tửu dĩ tiêu sầu. “Kinh nhãn” , nhãn khán trước. “Thương đa tửu” , quá lượng ẩm tửu hữu thương thân thể.

* Nguồn: http://www.hwjyw.com/resource/content/2010/05/21/7344.shtml

Thiên thượng phù vân như bạch y
Tư tu cải biến như thương cẩu
(Khả thán thi)

* Nguồn: ...
Đọc tiếp →

Thứ Ba, 7 tháng 9, 2010

Uống rượu ngắm mẫu đơn



飲酒看牡丹

今日花前飲
甘心醉數杯
但愁花有語
不為老人開

劉禹錫 (772-842)

Ẩm tửu khán mẫu đơn

Kim nhật hoa tiền ẩm
Cam tâm tuý sổ bôi
Đãn sầu hoa hữu ngữ
Bất vị lão nhân khai

Lưu Vũ Tích

Uống rượu ngắm mẫu đơn

Hôm nay rượu trước hoa
Vài chén chịu say ngà
Còn ngại hoa lên tiếng
Nở đâu cho kẻ già

Leopard dịch.
------------------

* Tranh Tàu vẽ hoa mẫu đơn:


Tranh của họa sĩ Wang Xuetao


Tranh của họa sĩ Huang Shanshou

Nguồn: http://tin180.com/nghethuat/my-thuat/20100422/nhung-buc-tranh-trung-quoc-ve-hoa-mau-don.html

* Mẫu đơn trắng:


Ảnh của hoangtube_11

Nguồn: http://dalathoa.com/diendan/threads/3133-Bo-suu-tam-hoa-da-Lat

* Thảo mộc Hán Nôm:
http://viet.gutenberg.free.fr/huediepchi/hPlants/paeoniaSuffruticosa.html
Đọc tiếp →

Chủ Nhật, 5 tháng 9, 2010

Đọc Dịch

讀易

冬日爭如夏日長

南風還有北風涼
自為可口鴟嗔鳳
不盡機心雀捕螳
海宇若開新世界
民風應入古鴻荒
清晨獨起觀周易
消息盈虛未易詳

阮勸

Độc dịch


Đông nhật tranh như hạ nhật trường

Nam phong hoàn hữu bắc phong lương
Tự vi khả khẩu si sân phượng
Bất tận cơ tâm tước bộ đường
Hải vũ nhược khai tân thế giới
Dân phong ưng nhập cổ hồng hoang
Thanh thần độc khởi quan Chu Dịch
Tiêu tức doanh hư vị dị tường

Nguyễn Khuyến


Đọc Dịch

Ngày đông ngày hạ chẳng dài ngang
Chớm dứt gió nam gió bắc sang
Cú tức phượng hoàng mồi tưởng bở
Sẻ rình bọ ngựa họa không lường
Càn khôn dường đổi thay trần thế
Dân chúng dễ vào lại hỗn mang
Sớm dậy một mình xem sách Dịch
Đầy vơi suy thịnh dễ đâu tường

Leopard dịch
----------------------

(1) Cú gầm gè phượng hoàng: Sách Trang Tử: Chim uyên sồ là một loài phượng, ăn uống rất thanh. Một hôm, cú kiếm được con chuột thối, gặp khi uyên sồ bay qua, cú tưởng uyên sồ đến tranh của mình, ngửa lên mà gầm gè với uyên sồ. Câu này chê những kẻ chỉ bo bo giữ lấy cái mồi phú quý thối nát, tưởng những người cao thượng cũng ham muốn như mình.

(2) Chim sẻ vồ bọ ngựa: Sách Ngô Việt Xuân Thu có chép: con ve đậu dưới bóng mát, thích ý đang kêu. Một con bọ ngựa nấp sau rình bắt ve, lại có con chim sẻ rình bắt bọ ngựa. Một người nấp sau định bắn chim sẻ, người này vì chú ý đến chim quá, thành ra sa chân xuống hố. Câu này ý nói: để ý vào lợi trước mắt mà quên những mối nguy sau lưng.

(3) Hồng hoang: đời thượng cổ khi mới có loài người.

(4) Chu Dịch: tức Kinh Dịch.

(5) Đầy, vơi, suy, thịnh: theo triết lý của Kinh Dịch thì lẽ trời đất có khi lớn lên, khi tiêu đi, khi thịnh, khi suy.

Nguồn: Thơ Văn Nguyễn Khuyến, NXB Văn học, 1971.

* Chú giải lấy tại trang sau: http://www.thivien.net/viewpoem.php?ID=39676
Đọc tiếp →

Thứ Năm, 2 tháng 9, 2010

Rét xuân

春寒

凝雲漠漠霧沈沈
釀作餘寒十日陰
帶雨有痕粘樹絮
傷春無語隔花禽
書齋寂寂惟高枕
世事悠悠正抱衾
安得此身如橐籥
和風噓遍九州心

阮飛卿

Xuân hàn

Ngưng vân mạc mạc vụ trầm trầm
Nhưỡng tác dư hàn thập nhật âm
Đái vũ hữu ngân niêm thụ nhứ
Thương xuân vô ngữ cách hoa cầm
Thư trai tịch tịch duy cao chẩm
Thế sự du du chính bão khâm
An đắc thử thân như thác lược
Hòa phong hư biến cửu châu tâm

Nguyễn Phi Khanh

Dịch nghĩa:

Mây ngưng mịt mờ, sương sa xuống thấp
Gây ra đợt rét không dứt, khiến mười ngày liền âm u.
Đeo mưa thành vệt, bông liễu dính sát cây,
Thương xuân không tiếng, con chim bên cạnh hoa.
Thư phòng tịch mịch, mỗi việc kê cao gối,
Việc đời dằng dặc, đang lúc ôm chăn.
Làm sao thân này thành như ống bễ,
Để cơn gió êm hòa phả tới lòng người khắp chín châu?
Đọc tiếp →

Thứ Ba, 31 tháng 8, 2010

Cảm xúc kể lại

感述

重章掉尾舊依官
日與豺狼處此間
我國山河蠶食去
誰家門戶燕飛還
暑牛月喘南郊暑
胡馬風嘶北地寒
物類且能知水土
處堂燕雀獨安閒

阮春溫

Cảm thuật

Trùng chương điêu vĩ cựu y quan
Nhật dữ sài lang xử thử gian
Ngã quốc sơn hà tàm thực khứ
Thùy gia môn hộ yến phi hoàn
Ngô ngưu nguyệt suyễn Nam giao thử
Hồ mã phong tê Bắc địa hàn
Vật loại thả năng tri thủy thổ
Xử đường yến tước độc an nhàn

Nguyễn Xuân Ôn

Cảm xúc kể lại

Áo còn vẻ phượng mũ đuôi điêu
Giao kết sài lang sớm tới chiều
Nước đấy núi sông tằm gậm mất
Nhà ai cổng ốc én bay đều
Thấy trăng ngờ nắng trâu Nam thở
Gặp gió tưởng đông ngựa Bắc kêu
Loài vật cũng còn hay thủy thổ
Lầu cao én sẻ mới nhàn nhiều

Leopard dịch.

-----------------------------

* Nguyễn Xuân Ôn (1825 – 1889), hiệu Ngọc Đường, Hiến Đình, Lương Giang, nhân dân thường gọi ông là Nghè Ôn; là quan nhà Nguyễn và là thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nghệ - Tĩnh (Việt Nam) hồi cuối thế kỷ 19.
http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Xu%C3%A2n_%C3%94n

* Trùng chương điêu vĩ:
http://chimviet.free.fr/34/chqyn_quanche02.htm

* Lược trích các chú giải từ trang Thivien.net:
http://www.thivien.net/viewpoem.php?ID=39760

Nguồn: Nguyễn Đức Vân – Hà Văn Đại, Thơ văn Nguyễn Xuân Ôn (In lần 2), NXB Văn học, 1977)

01. Thùy gia môn hộ yến phi hoàn:
Thơ xưa có câu: "Cựu thời Vương, Tạ đình tiền yến; Cánh bạng thuỳ gia môn hộ phi?" (Những con chim yến ở trước sân nhà họ Vương, họ Tạ là các quý tộc đời Tấn ngày xưa, lại dựa vào nhà ai mà bay?)

[Leopard viết:

Lưu Vũ Tích có bài thơ Ô Y hạng như sau:

烏衣巷

朱雀橋邊野草花
烏衣巷口夕陽斜
舊時王謝堂前燕
飛入尋常百姓家

Ô Y hạng

Chu Tước kiều biên dã thảo hoa
Ô Y hạng khẩu tịch dương tà
Cựu thời Vương Tạ đường tiền yến
Phi nhập tầm thường bách tính gia ]

02. Ngô ngưu nguyệt suyễn - Hồ mã phong tê:

Mãn Phấn đời nhà Tấn nói: "Trâu đất Ngô, vì ở xứ nắng, thường thở mạnh, khi nó thấy trăng mọc, sợ là mặt trời nên cũng thở."

Cổ thi có câu: "Hồ mã tê Bắc phong" (Ngựa Hồ thấy gió Bắc thì hí, vì nó ở xứ rét quen).

03. Yến tước độc an nhàn:

Đời Chiến quốc, nước Tần đánh nước Triệu, vua tôi nước Ngụy không lo gì. Khổng Tử Thuận nói: Triệu mất thì Nguỵ bị tai vạ đến nơi, cũng như chim én chim sẻ ở trong nhà, không biết nhà sắp bị cháy. [?]
Đọc tiếp →

Thứ Bảy, 28 tháng 8, 2010

Diễn ngôn/ngôn từ, hành động/hành vi?




When it was announced that Octavio Paz was awarded the Nobel Prize in Literature (October 11, 1990), the Press Release quoted Paz's view of poetry: "Between what I see and what I say, / between what I say and what I keep silent, / between what I keep silent and what I dream, / between what I dream and what I forget: / poetry." I was overwhelmed by these words and headed immediately to the library to find the entire poem. When I discovered it in Paz's book of poems A Tree Within, I typed it out and read it over and over again. When I taught kids in the California-Poets-in-th-Schools program, my first workshop handout was "What Is Poetry?" I'd include Paz's poem along with the vision of poetry by Shakespeare, Dante, Goethe, and Emily Dickinson. What I like about Paz's idea of poetry is that it is not fixed and quite elusive— between yes & no, between silence & speech, between what is & what is not. Isn't this the dilemma of Hamlet— "To be or not to be. That is the question." I love the closing of stanza 2— "Eyes close, / the words open." It echoes Emily Dickinson's Poem #1212— A word is dead / When it is said, / Some say. / I say it just / Begins to live / That day." Yes, how true! The poet's words never die on the page, but lives on in the hearts of its readers— opening our minds to new vistas of the universe. (Peter Y. Chou)

Between What I See and What I Say... (1976)
for Roman Jakobson

1

Between what I see and what I say,
Between what I say and what I keep silent,
Between what I keep silent and what I dream,
Between what I dream and what I forget:
poetry.
It slips
between yes and no,
says
what I keep silent,
keeps silent
what I say,
dreams
what I forget.
It is not speech:
it is an act.
It is an act
of speech.
Poetry
speaks and listens:
it is real.
And as soon as I say
it is real,
it vanishes.
Is it then more real?

2

Tangible idea,
intangible
word:
poetry
comes and goes
between what is
and what is not.
It weaves
and unweaves reflections.
Poetry
scatters eyes on a page,
scatters words on our eyes.
Eyes speak,
words look,
looks think.
To hear
thoughts,
see
what we say,
touch
the body of an idea.
Eyes close,
the words open.

— Octavio Paz (1914-1998),
"Between What I See and What I Say..."
A Tree Within, (Poems 1976-1987)
XXX

*Source: http://www.wisdomportal.com/PoetryAnthology/OctavioPaz-Anthology.html
---------------------------

Decir, Hacer - Octavio Paz

A Roman Jakobson

Entre lo que veo y digo,
Entre lo que digo y callo,
Entre lo que callo y sueño,
Entre lo que sueño y olvido
La poesía.
Se desliza entre el sí y el no:
dice
lo que callo,
calla
lo que digo,
sueña
lo que olvido.
No es un decir:
es un hacer.
Es un hacer
que es un decir.
La poesía
se dice y se oye:
es real.
Y apenas digo
es real,
se disipa.
¿Así es más real?
Idea palpable,
palabra
impalpable:
la poesía
va y viene
entre lo que es
y lo que no es.
Teje reflejos
y los desteje.
La poesía
siembra ojos en las páginas
siembra palabras en los ojos.
Los ojos hablan
las palabras miran,
las miradas piensan.
Oír
los pensamientos,
ver
lo que decimos
tocar
el cuerpo
de la idea.
Los ojos
se cierran
Las palabras se abren.

---------------------------------

* Act/action/deed/ behavior:


http://figureground.ca/2010/01/22/intentionality-and-action/

http://books.google.com.vn/books?id=0SWWAOazlRUC&pg=PA9&lpg=PA9&dq=%22difference+between+action+and+act%22&source=bl&ots=A_b7sAJiH0&sig=cnwKz-NKQBtZbJOKZRtnUx11JtA&hl=vi&ei=yZl6TLaOGs_JcaegmfIF&sa=X&oi=book_result&ct=result&resnum=1&ved=0CBQQ6AEwAA

* Talk/speech/discourse:

...
Đọc tiếp →

Thứ Sáu, 27 tháng 8, 2010

Chiêu Quân ra ải



昭君出塞


南來程盡北來程
南北那堪悵別情
萬里漢天花有淚
百年胡地馬無聲
一段羅綺傷春老
幾曲琵琶素月明
分付君王安枕席
愁城一片是長城

蔡順

Chiêu Quân xuất tái

Nam lai trình tận Bắc lai trình

Nam Bắc na kham trướng biệt tình
Vạn lý Hán thiên hoa hữu lệ
Bách niên Hồ địa mã vô thanh
Nhất đoàn la ỷ thương xuân lão
Kỷ khúc tỳ bà tố nguyệt minh
Phân phó quân vương an chẩm tịch
Sầu thành nhất phiến thị trường thành

Thái Thuận

Chiêu Quân ra ải

Nam vừa dứt lối Bắc liền qua
Nam Bắc sao kham hận cách xa
Trời Hán nghìn trùng hoa có lệ
Đất Hồ muôn thủa ngựa không ra
Một manh tơ lụa thương xuân muộn
Mấy khúc tỳ bà kể ánh nga
Nhắn nhủ quân vương yên gối nệm
Thành sầu một phiến cũng thành xa

Pang De dịch.

* Vạn lý Hán thiên hoa hữu lệ/ Bách niên Hồ địa mã vô thanh: Vặn dặm trời Hán, hoa có lệ châu/ Trăm năm đất Hồ, ngựa không có tiếng kêu.
----------------------------------

01. Thái Thuận 蔡順 (1440-?) tự Nghĩa Hoà, hiệu Lục Khê, biệt hiệu Lữ Đường, sinh 1440. Đậu tiến sĩ 1475 (niên hiệu Hồng Đức thứ 6). Làm quan ở nội các viện triều Lê thánh Tôn hơn 20 năm, sau được bổ làm Tham Chính ở Hải Dương; sau nữa được đặc cách giữ chức phó nguyên suý hội Tao Đàn.

Tác phẩm còn lại: Lữ Đường Thi Di Cảo do con trai là Thái Khác và học trò là Đỗ chính Mô sưu tầm, biên soạn.

http://www.thivien.net/viewauthor.php?ID=501

02. "Ở đây hạnh thắm nên mai nhạt"

Theo Dương Quảng Hàm, năm 1306, vua Trần Anh Tông đem Huyền Trân Công chúa gả cho vua Chiêm Thành. Nhiều văn nhân bèn mượn việc vua nhà Hán gả Chiêu Quân cho chúa Hung Nô để chỉ trích việc ấy.

Vua dụ Vương Tường [1] để gả cho chúa Thuyền-vu

Hán Hồ vẫn muốn vẹn trăm đường,
Há trẫm riêng tây có phụ nường.
Bắc-quốc[2] tuy rằng ngoài dị-tục,
Vương-đình[3] song cũng một biên phương.
Ở đây hạnh thắm nên mai nhạt,
Về đấy sen tàn lỗi cỏ hương[4].
Hơn thiệt thôi đừng ai-oán nữa,
Bõ ngay áo gấm lại hoang lương.

Khuyết danh

[1]. Vương Tường tên là Chiêu-quân, cung nữ vua Hán Nguyên-đế, sau đem gả cho vua nước Hồ. Người nước Hồ gọi vua họ là Thiền vu 單 于
[2]. Bắc quốc: đây chỉ nước Hồ, ở phía bắc nước Tàu
[3]. Vương đình: đây chỉ chỗ vua Hồ ở
[4]. Câu 5, 6: ý nói: ở cung nhà Hán có nhiều người đẹp, nên Vương-Tường không được vua yêu; nhưng sang bên nước Hồ vì không có con gái đẹp thì Vương-Tường sẽ được chiều chuộng. «Lỗi 磊 » là nhô cao lên, trồi lên.

http://vi.wikisource.org/wiki/Vua_d%E1%BB%A5_V%C6%B0%C6%A1ng_T%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%91%E1%BB%83_g%E1%BA%A3_cho_ch%C3%BAa_Thuy%E1%BB%81n-vu

03. "Chim sa cá lặn": trầm ngư lạc nhạn 沉魚落雁.



Tây Thi nhạn lạc
Chiêu Quân trầm ngư
Điêu Thuyền bế nguyệt
Dương Ngọc Hoàn tu hoa

Xem thêm về: Triệu Cơ, Đát Kỉ, Bao Tự, Hạ Cơ, Triệu Phi Yến, Ngu Cơ, Võ Tắc Thiên, Trương Lệ Hoa, Trần Viên Viên, Tứ đại kì thư…

http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%A3o_lu%E1%BA%ADn:V%C6%B0%C6%A1ng_Chi%C3%AAu_Qu%C3%A2n
Đọc tiếp →