Thứ Tư, 30 tháng 6, 2010

Xin ăn

乞食

崚嶒長劍倚青天,
輾轉泥塗三十年。
文字何曾為我用,
饑寒不覺受人憐。

Khất thực

Lăng tằng trường kiếm ỷ thanh thiên
Triển chuyển nê đồ tam thập niên
Văn tự hà tằng vi ngã dụng
Cơ hàn bất giác thụ nhân liên

Nguyễn Du

Xin ăn

Kiếm tựa trời xanh chót mấy từng
Ba mươi năm lẻ lấm bùn sương
Văn chương giúp ích nào đâu thấy
Bất giác cơ hàn chịu kẻ thương

Leopard dịch.

=========================
http://www.oocities.com/songvietgiang/bachanh.html

http://thohanviet.tripod.com/
Đọc tiếp →

Mộ Sở Bá Vương kỳ II

楚霸王墓其二

路旁片石獨崢嶸
不是烏江是魯城
及識敗亡非戰罪
空勞智力與天爭
古今無那英雄淚
風雨猶聞叱吒聲
寂寂二時無埽祭
春來虞草自叢生

Sở Bá Vương mộ kỳ nhị

Lộ bàng phiến thạch độc tranh vanh
Bất thị Ô Giang thị Lỗ Thành
Cập thức bại vong phi chiến tội
Không lao trí lực dữ thiên tranh
Cổ kim vô nả anh hùng lệ
Phong vũ do văn sất trá thanh
Tịch tịch nhị thì vô tảo tế
Xuân lai Ngu thảo tự tùng sanh

Nguyễn Du

Mộ Sở Bá Vương kỳ II

Một phiến chon von dựng cạnh đường
Lỗ Thành tống táng chẳng Ô Giang
Mới hay vong bại nào quân tội
Hoài dốc sức tâm chống hóa công
Mưa gió còn vang lời thét hận
Cổ kim chưa hết lệ anh hùng
Hai mùa vắng lặng không thăm viếng
Xuân tới cỏ Ngu mọc khắp vùng

Leopard dịch.

===============================

* Tài liệu tham khảo: (lần lần)

Cổ đại Hán ngữ ngữ pháp
http://www.hoasontrang.us/phorum/showthread.php?5428-Cổ-đại-Hán-ngữ-ngữ-pháp


Tóm tắt ngữ pháp Hán ngữ cổ đại
Vietsciences- Lê Anh Minh 27/05/2006
http://vietsciences.free.fr/sinhngu/hannom/tomtatnguphaphanngucodai.htm

Đọc tiếp →

Thứ Hai, 28 tháng 6, 2010

Cảm hoài



Cảm hoài

Thế sự du du nại lão hà,
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.
Thời lai đồ điếu thành công dị,
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.
Trí chúa hữu hoài phù địa trục,
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,
Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma

Đặng Dung

Cảm hoài

Thế sự mênh mang ngại sức già
Đất trời vô tận để vui ca
Gặp thời đồ điếu thành công trạng
Lỡ vận anh hùng nuốt lệ sa
Giúp chúa những mong nâng địa trục
Rửa khiên không lối kéo ngân hà
Thù nhà chưa báo đầu mau bạc
Trăng xát Long Tuyền mấy độ đưa

Leopard dịch.


-------------------------

感懷

世事悠悠奈老何
無窮天地入酣歌
時來屠釣成功易
運去英 雄飲恨多
致主有懷扶地軸
洗兵無路挽天河
國讎未報頭先白
幾度龍泉戴月磨

鄧容 (?-1414)

Cảm hoài

Thế sự du du [2]nại lão hà?
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca[3].
Thời lai đồ điếu[4] thành công dị,
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.
Trí chủ[5] hữu hoài phù địa trục[6],
Tẩy binh[7] vô lộ vãn thiên hà.
Quốc thù vị báo[8] đầu tiên bạch,
Kỷ độ Long Tuyền[9] đới nguyệt ma.

1. Giáo trình Hán-Nôm tập I, GS. Phạm Văn Các chủ biên, Nxb Giáo dục, 1983, tr. 250)
2. Du du còn có nghĩa là rối bời.
3. Hàm ca: cuộc rượu hát ca.
4. Sách Ngữ văn 10 ([nâng cao]. Nxb Giáo dục, 2007, tr. 158) và Giáo trình Hán-Nôm tập 1 (tr. 247) đều giải thích: đồ là hàng thịt, điếu là câu cá; nhắc tích Phàn Khoái bán thịt chó, Hàn Tín câu cá, sau giúp Lưu Bang (Hán Cao Tổ) phá Tần, diệt Sở, làm nên nghiệp lớn.
5. Phò tá giúp đỡ cho chủ
6. Địa trục: trục trái đất.
7. Điển tích từ hai câu thơ trong bài Tẩy Binh Mã (Rửa khí giới) của Đỗ Phủ: An đắc tráng sĩ vãn thiên hà; Tịnh tẩy giáp binh trường bất dụng. Dịch nghĩa: Ước gì có tráng sĩ kéo nước sông Ngân xuống (dịch chữ thiên hà); Rửa sạch khí giới, mãi mãi không dùng đến nữa.
8. Vị báo: vị (chưa), báo (đáp trả lại).
9. Long Tuyền: tên một loại gươm báu thời xưa.

Bản dịch của Phan Kế Bính:

Việc đời bối rối tuổi già vay,
Trời đất vô cùng một cuộc say.
Bần tiện gặp thời lên cũng dễ,
Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay.
Vai khiêng trái đất mong phò chúa,
Giáp gột sông trời khó vạch mây.
Thù trả chưa xong đầu đã bạc,
Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày.

Trích nhận xét:

Thơ đời Trần, bất kể là vui hay buồn thường thể hiện sự khẳng định nhân phẩm và niềm tự hào về bản lĩnh con người. Và ngay cả trong cái buồn của thơ ca cuối thế kỷ thứ 14 vẫn còn còn phảng phất dư ba của hào khí Đông A[12]. Và Thuật hoài, bài thơ duy nhất còn lại của Đặng Dung, được chép trong Toàn Việt Thi Lục của Lê Quí Đôn (1726 - 1784) chính là một trong những bài thơ hay và tiêu biểu cho phong cách thơ ấy[13].

Từ điển Văn học (bộ mới) đánh giá: Tuy là thơ của một người ôm hận vì bất lực trước thời thế, "người đọc vẫn thấy toát lên ở đây tình cảm cao cả tràn khắp đất trời, đó là lòng yêu nước thiết tha của một tráng sĩ vì nước bôn ba, là niềm tin và quyết tâm bảo vệ nền độc lập dân tộc qua hình tượng rất đẹp, rất thơ: “Mấy phen mang gươm Long Tuyền mài dưới trăng”". "Thuật hoài" ra đời vào những ngày cuối cùng của nhà Trần, nhưng vẫn mang trọn hào khí dân tộc của những năm đầu dựng nước và giữ nước cả về nội dung lẫn hình thức. Lý Tử Tấn (1378 - ?, quan thời Lê) nhận xét "Phi hào kiệt chi sĩ bất năng" (Nếu không phải là kẻ sĩ hào kiệt thì không thể làm được bài thơ này)[14].

Bài thơ này hiện vẫn còn được nhiều người biết đến, và đang được giảng dạy trong chương trình văn học lớp 10 (nâng cao) thuộc hệ thống giáo dục Việt Nam.

* Đông A: Theo lối chiết tự, chữ Trần còn có thể đọc là Đông A, vì được ghép từ hai chữ Đông (東) và A (阿)

* Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/Thu%E1%BA%ADt_ho%C3%A0i_%28%C4%90%E1%BA%B7ng_Dung%29
Đọc tiếp →

Mưa xuân mới tạnh ở Lâm An



臨 安 春 雨 初 霽

世 味 年 來 薄 似 紗
誰 令 騎 馬 客 京 華
小 樓 一 夜 聽 春 雨  
深 巷 明 朝 賣 杏 花
矮 紙 斜 行 閑 作 草  
晴 窗 細 乳 戲 分 茶
素 衣 莫 起 風 塵 嘆  
猶 及 清 明 可 到 家

陸游

Lâm An xuân vũ sơ tễ

Thế vị niên lai bạc tự sa  
Thùy linh kỵ mã khách kinh hoa
Tiểu lâu nhất dạ thính xuân vũ  
Thâm hạng minh triêu mại hạnh hoa
Nụy chỉ tà hành nhàn tác thảo  
Tình song tế nhũ hý phân trà
Tố y mạc khởi phong trần thán  
Do cập Thanh minh khả đáo gia

Lục Du

Mưa xuân mới tạnh ở Lâm An

Năm tới vị đời mỏng tựa sa
Ai xui ruổi ngựa khách phồn hoa
Mưa xuân gác nhỏ đêm nghe vẳng
Hoa hạnh hẻm cùng sáng bán ra
Giấy xấu nét xiên đành viết thảo
Song hừng búp nhỏ bỡn pha trà
Áo tơ gió bụi than đừng nổi
Kịp đến Thanh minh trở lại nhà

(Đông A dịch)


Đọc tiếp →

Lên Hoành Sơn



Đăng Hoành Sơn

Sơn ngoại thanh sơn vạn lý trình
Sơn biên dã thảo tống nhân hành
Anh hùng mạc vãn thiên niên quốc
Chinh chiến không tồn nhất lũy danh
Bắc lĩnh đoạn vân thu túc vũ
Nam trang sơ hiểu đái tân tình
Há sơn phản giác đăng sơn khổ
Tự thán du du ủy tục tình


Cao Bá Quát


Bản dịch của tôi:

Lên Hoành Sơn

Đèo nối non xanh vạn dặm trường
Bên đèo nội cỏ tiễn lên đường
Anh hùng chớ kéo ngàn năm lại
Chiến trận còn trơ tiếng lũy suông
Ải bắc mây tan mưa tối dứt
Xóm nam trời hửng sáng mai hường
Xuống đèo mới thấu trèo đèo khổ
Lo lắng lòng than phó thói thường

Tôi chợt nhớ tới câu thơ của Nguyễn Du: Cổ kim vị kiến thiên niên quốc, xưa nay chưa bao giờ thấy có triều đại nào được nghìn năm. Câu thơ của Cao Bá Quát: Anh hùng mạc vãn thiên niên quốc, anh hùng đừng có cố kéo dài triều đại nghìn năm làm gì, chiến công xưa giờ chỉ còn mỗi cái tên lũy trơ trọi suông mà thôi. Tôi dịch câu thơ này không được trọn vẹn. Chẳng biết làm sao!

(Đông A dịch)

* Nguồn:
http://donga01.blogspot.com/2010/06/ang-hoanh-son.html


* Chứng tích lịch sử:

Hoành Sơn vốn là biên giới tự nhiên giữa nước Đại Việt và Chămpa. Hiện trên dãy Hoành Sơn còn phế tích Lũy Lâm Ấp của Chămpa có từ thế kỷ 4.

Từ năm 992, đường đèo qua dãy núi Hoành Sơn chính thức được xây dựng dưới sự chỉ đạo của Ngô Tử An[3].

Thế kỷ 17, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nói với sứ của Nguyễn Hoàng rằng "Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân". Nguyễn Hoàng đã qua Hoành Sơn đến Thuận Hóa và làm nên nghiệp lớn của chúa Nguyễn ở Đàng Trong và nhà Nguyễn sau này.

Thời nhà Nguyễn, Hoành Sơn Quan được xây dựng trên đỉnh đèo Ngang và hình tượng trưng cho dãy Hoành Sơn được khắc vào Huyền đỉnh (một trong Cửu đỉnh).

(Wikipedia)
Đọc tiếp →

Ngày Thanh Minh cảm tác hoạ thơ Trần Ngộ Hiên



清明日感作和陳遇軒

悠悠人事幾洼隆,
節自驚心此夜同。
波靜寒魚空吸影,
月明高鳥尚疑宮。
江河勢逐嬴虛水,
今昔愁連上下風。
含石只勞精衛恨,
移山長笑老愚公。

Thanh Minh nhật cảm tác, hoạ thơ Trần Ngộ Hiên

Du du nhân sự kỷ oa long,
Tiết tự kinh tâm thử dạ đồng.
Ba tĩnh hàn ngư không hấp ảnh,
Nguyệt minh cao điểu thượng nghi cung.
Giang hà thế trục doanh hư thuỷ,
Kim tích sầu liên thượng hạ phong.
Hàm thạch chỉ lao tinh vệ hận,
Di sơn trường tiếu lão Ngu công.

Cao Bá Quát

Ngày Thanh Minh cảm tác, hoạ thơ Trần Ngộ Hiên

Thế sự miên man sụt với chồi
Đêm nay thời tiết hãi lòng người
Chim cao trăng sáng ngờ cung hão
Cá lạnh sóng yên đợp bóng chơi
Nước dẫn thế sông khi dấy cạn
Gió đưa sầu thế lúc dâng hồi
Hoài công Tinh Vệ còn tha đá
Dời núi Ngu Công để tiếng cười

Leopard dịch.
=====================
Leopard dịch nghĩa:

Việc đời dằng dặc, mấy bận lõm lồi (thịnh suy)
Thời tiết vốn lay động lòng người, đêm nay cũng vậy
Sóng yên con cá lạnh lẽo hoài đớp cái bóng
Trăng sáng con chim nơi cao vẫn nghi có chiếc cung.
Sông hồ, sức chảy theo con nước đầy vơi
Xưa nay, nỗi sầu cùng ngọn gió lên xuống
Ngậm đá chỉ nhọc sức, chim Tinh Vệ hận
Dời núi, cười dài ông lão Ngu Công. Đọc tiếp →

Thứ Sáu, 25 tháng 6, 2010

Ngẫu hứng tiết Thanh Minh

Thanh Minh ngẫu hứng

Đông phong trú dạ động giang thành
Nhân tự bi thê thảo tự thanh
Xuân nhật hữu thân phi thiếu tráng
Thiên nhai vô tửu đối Thanh minh
Thôn ca sơ học tang ma ngữ
Dã khốc thời văn chiến phạt thanh
Khách xá hàm sầu dĩ vô hạn
Mạc giao mao thảo cận giai sinh

Nguyễn Du, Thanh Hiên thi tập.

Ngẫu hứng tiết Thanh Minh

Gió đông sớm tối lộng bên thành
Người cứ buồn thương cỏ cứ xanh
Xuân đến nào thân thời trẻ khỏe
Trời bên không rượu tiết Thanh Minh
Câu ca trong xóm hay canh cửi
Tiếng khóc ngoài đồng tưởng chiến tranh
Quán trọ ôm sầu khôn kể xiết
Gần thềm chớ để cỏ leo quanh

Đông A dịch.
Đọc tiếp →

Sớm xuân

Xuân hiểu

Xuân miên bất giác hiểu
Xứ xứ văn đề điểu
Dạ lai phong vũ thanh
Hoa lạc tri đa thiểu

Mạnh Hạo Nhiên


Sớm xuân

Giấc xuân vùi đâu hay trời sáng
Khắp chốn nơi đua tiếng chim ca
Đêm qua mưa dội gió gào

Cánh hoa rơi rụng biết là bao nhiêu

Leopard dịch.
Đọc tiếp →

Thứ Tư, 23 tháng 6, 2010

Đỗ thuyền đêm trên bến Phong Kiều



楓橋夜泊  

月落烏啼霜満天

江楓漁火対愁眠

姑蘇城外寒山寺

夜半鐘声到客船

張継

Phong Kiều dạ bạc

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

Trương Kế

Đỗ thuyền đêm trên bến Phong Kiều

Sương đầy trời quạ kêu trăng lẩn
Đối giấc sầu cây bến lửa chài
Cô Tô thuyền khách đậu ngoài
Nửa đêm vọng tới chuông chùa Hàn San.

Leopard dịch.


===============================

Chữ đáo 到 : tạo bởi ghép chữ chí 至 (nghĩa) + đao刂(âm). Nghĩa nằm ở chữ “chí”: hình con chim chạm, đáp xuống đất…Đáo cho nghĩa của sự đến, đáp xuống đích, tới nơi, đạt được. Đến với chủ ý, không ngẫu nhiên. (Phật học: đáo bỉ ngạn: sang bờ bên kia, giác ngộ)

Giang phong: cây phong, hàng phong, mọc theo bờ sông, phong: (chiết tự: mộc + phong: cây uốn theo gió) cây phong Tàu, theo người sinh trưởng tại vùng này, cho biết tương tự như giống phong (maple) ở Ontario, Canada, nhưng nhỏ cây và nhỏ lá hơn.

Ngư hỏa: đèn (hay ánh đèn) của thuyền đánh cá trên sông.

http://chuyendaudau.blogspot.com/2009/03/tieng-chuong-chua-trong-phong-kieu-da.html
Đọc tiếp →

Lên cao




Đăng cao

Phong cấp thiên cao viên khiếu ai
Chử thanh sa bạch điểu phi hồi
Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ
Bất tận trường giang cổn cổn lai
Vạn lý bi thu thường tác khách
Bách niên đa bệnh độc đăng đài
Gian nan khổ hận phồn sương mấn
Lạo đảo tân đình trọc tửu bôi

Đỗ Phủ

Lên cao

Gió gấp trời cao vượn ỉ ôi
Bến trong cát trắng cánh chim hồi
Xạc xào lá rụng không biên giới
Cuồn cuộn sông về chẳng lúc thôi
Vạn dặm thu sầu thường nhiễu khách
Trăm năm thân yếu vẫn leo đồi
Gian nan khổ hận đầu thêm bạc
Xiêu đảo mới dừng chén rượu hôi

Leopard dịch.

--------------------------

登高

風急天高猿嘯哀
渚清沙白鳥飛回
無邊落木蕭蕭下
不盡長江滾滾來
萬里悲秋常作客
百年多病獨登臺
艱難苦恨繁霜鬢
潦倒新停濁酒杯

杜甫

* Đỗ Phủ 杜甫 (712-770) tự Tử Mĩ, hiệu Thảo Đường, người đời sau gọi là Đỗ Thiếu Lăng, Đỗ Lăng Tẩu, Đỗ Công Bộ hay còn gọi là Lão Đỗ để phân biệt với Tiểu Đỗ là Đỗ Mục.
Đọc tiếp →

Thứ Ba, 22 tháng 6, 2010

Cảm xúc đầu thu kỳ II



Sơ thu cảm hứng (II)

Giang thượng tây phong mộc diệp hy
Hàn thiền chung nhật táo cao chi
Kỳ trung tự hữu thanh thương điệu (1)
Bất thị sầu nhân bất hứa tri

Nguyễn Du

Cảm hứng đầu thu (II)

Gió thổi trên sông lá lắt lay
Cành cao ve lạnh suốt hôm rầy
Vì chưng tiếng có thanh thương điệu
Chẳng phải người buồn chẳng biết thay

Leopard dịch.


(1) Thanh thương điệu: Âm điệu buồn nhất trong ngũ âm của nhạc cổ.

*
http://thohanviet.tripod.com/




----------------------

初秋感興其二

江上西風木葉稀
寒蟬終日噪高枝
其中自有清商調
不是愁人不許知

阮攸


Đọc tiếp →

Trăng non

初月

吸得陽光纔上天,
初三初四未團圓。
嫦娥妝鏡微開匣,
壯士彎弓不上弦。
千里關山無改色,
一庭霜露共愁眠。
徘徊正憶鴻山夜,
卻在羅浮江水邊。

Sơ nguyệt

Hấp đắc dương quang tài thướng thiên,
Sơ tam sơ tứ vị đoàn viên.
Thường Nga trang kính vi khai hạp,
Tráng sĩ loan cung bất thướng huyền.
Thiên lý quan san vô cải sắc,
Nhất đình sương lộ cộng sầu miên.
Bồi hồi chính ức Hồng sơn dạ,
Khước tại La Phù giang thuỷ biên.

Nguyễn Du

Trăng non

Hớp chút ánh dương mới ló mày
Mùng ba mùng bốn chẳng tròn đầy
Hằng Nga gương điểm hơi xô nắp
Tráng sĩ cung giương chửa kéo dây
Ngàn dặm quan san không sắc đổi
Một sân sương móc giấc sầu bày
Bồi hồi ngay nhớ đêm Hồng Lĩnh
Giờ bến La Phù lại ở đây

Đông A dịch

* http://thohanviet.tripod.com/
Đọc tiếp →

Thứ Sáu, 11 tháng 6, 2010

Trên ao



Trì thượng

Tiểu oa sanh tiểu đỉnh,
Thâu thái bạch liên hồi.
Bất giải tàng tung tích,
Phù bình nhất đạo khai.

Bạch Cư Dị

Trên ao

Một thuyền gái nhỏ chèo
Sen trắng bẻ về theo
Chẳng nghĩ che tung tích
Lối đi mở mặt bèo.

Leopard dịch.




-------------------

池上

小娃撐小艇
偷採白蓮回
不解藏蹤跡
芙萍一道開

白居易

* Bạch Cư Dị (772-846) tên chữ là Lạc Thiên, hiệu là Hương Sơn cư sĩ, người Hạ Thành (nay là Thiểm Tây).
Đọc tiếp →

Thứ Tư, 9 tháng 6, 2010

Người đào hát ở Đằng Châu tên là Phú Nhi muốn xin thơ, nhân viết tặng

Đằng Châu ca giả Phú Nhi ký hữu sở dữ, thư dĩ tặng chi

Cổ nhân bất thức kim nhân hận,
Tài đáo thương ly thuyết tận tình.
Minh nhật dục từ Nam phố đạo,
Hà nhân cánh xướng Bắc cung thanh?
Hàn y cô quán phong sương thiểu,
Vụ hợp thâm thôn trúc thụ bình.
Tiếu sát Tầm Dương tuý Tư Mã,
Thanh sam hà lệ sự tung hoành?

Cao Bá Quát

Người đào hát ở Đằng Châu tên là Phú Nhi muốn xin thơ, nhân viết tặng

Người trước biết đâu hận người nay
Mới buồn ly biệt đã than dầy
Phố Nam ngày tới rời chân vội
Cung Bắc ai còn xướng giọng thay
Áo lạnh quán đơn sương gió ngớt
Trời mù thôn thẳm cỏ cây bày
Tầm Dương cười ngất chàng Tư Mã
Khăn áo lệ dàn phải rượu say

Leopard dịch.



* Ghi chú của A2Z:

Trong Cao Bá Quát - Danh nhân truyện ký của Trúc Khê có tên là Đề đào nương xá (Đề nhà ả đào), còn trong Thơ văn Cao Bá Quát của Nhà xuất bản Văn học thì có tên là Đằng Châu ca giả Phú Nhi ký hữu sở dữ, thư dĩ tặng chi (Người đào hát ở Đằng Châu tên là Phú Nhi muốn xin thơ, nhân viết tặng).
------------------

滕州歌賈富兒寄有所與書以贈之

古人不識今人恨
纔到傷離說盡情
明日欲辭南浦道
何人更唱北宮聲
寒衣孤館風霜少
霧合深村竹樹平
笑殺潯陽醉司馬
青衫何淚事縱橫

高伯适

* Cao Bá Quát 高伯适 (1809?-1855) tự Chu Thần 周臣 sinh tại Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội, mất giữa trận tiền Quốc Oai trong cuộc khởi nghĩa chống triều đình thời Tự Đức... Tự Đức tru di ba họ Cao Bá Quát, thu hồi tiêu hủy văn chương ông. Nhưng ông được lòng dân bảo vệ: một rừng truyền thuyết ca ngợi tài thơ, lòng dũng cảm, trí thông minh và tinh thần thương dân yêu nước của ông. Tác phẩm của ông còn được lưu đến nay là 1353 bài thơ, 21 bài văn xuôi, một số bài ca trù và khá nhiều câu đối...

http://www.thivien.net/viewauthor.php?ID=249
Đọc tiếp →

Chủ Nhật, 6 tháng 6, 2010

Ký ức về cha tôi

The memory of my father

Every old man I see
Reminds me of my father
When he had fallen in love with death
One time when sheaves were gathered.

That man I saw in Gardiner Street
Stumble on the kerb was one,
He stared at me half-eyed,
I might have been his son.

And I remember the musician
Faltering over his fiddle
In Bayswater, London.
He too set me the riddle.

Every old man I see
In October-coloured weather
Seems to say to me
"I was once your father."

Patrick Kavanagh.

Những người già tôi từng trông
Đều nhắc nhớ tới cha tôi

Ngày ông cận kề cái chết
Lúa vàng được gặt trên đồng

Trên phố dài Ga-đin-nơ
Một ông già ngồi bên đường
Một mắt nhìn tôi chăm chú
Như tôi từng là con ông

Phố lớn Bay-uêt, Luân Đôn
Một nghệ sĩ chơi đàn vĩ
Lẩy bẩy đưa tay kéo đàn
Đưa đến tôi điều khó nghĩ.

Những người già tôi từng trông
Dưới trời nhuốm sắc tháng Mười
Với tôi dường như đều nói:
"Ta có lần là cha ngươi."

Leopard dịch.
Đọc tiếp →

Thứ Sáu, 4 tháng 6, 2010

Hoàng Hạc lâu

.
Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu...


Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du.
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.
Nhật mộ hương quan hà xứ thị,
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

Thôi Hiệu



Thấy bài thơ hay (vô đối) mà không sao dịch nổi
Vì ông Leopard đã dịch mất rồi...


Người trước bay đâu cùng cánh hạc
Chốn này trơ lại mỗi lầu không
Hạc vàng một chuyến không về lại
Mây trắng ngàn năm mãi lượn vòng
Sông tạnh Hán Dương cây rõ bóng
Cỏ thơm Anh Vũ bãi xanh nồng
Chiều buông mắt dõi quê đâu tá
Khói sóng khơi buồn tỏa mặt sông.

Leopard dịch.
--------------------

黃鶴樓

昔人已乘黃鶴去
此地空餘黃鶴樓
黃鶴一去不復返
白雲千載空悠悠
晴川歷歷漢陽樹
芳草萋萋鸚鵡洲
日暮鄉關何處是
煙波江上使人愁

崔顥 (704-754?)

* 黃鶴樓: Lầu Hoàng hạc ở phía tây nam thành Vũ Xương.
Đọc tiếp →

Một bao thuốc lá



...




Tôi đang ngồi và ngắm một bầu trời xa lạ qua một cửa sổ xa lạ
Và không thể thấy một vì sao quen thuộc nào.
Tôi từng dạo bước trên mọi con đường đây đó,
Từng ngoảnh lại và không thể thấy dấu chân mình.

Nhưng nếu có một bao thuốc trong túi áo,
Có nghĩa là mọi thứ không quá tệ hôm nay.
Và nếu có chiếc vé để lên chiếc máy bay cánh bạc
Khi bay lên để lại chỉ cái bóng trên mặt đất này...

Và thiếu men rượu, không ai còn muốn gây tội lỗi
Không ai còn muốn để bàn tay trần vào trong lửa
Và thiếu âm nhạc, cái chết không còn đẹp đẽ
Thiếu âm nhạc, không ai mong muốn bỏ mình.

Nhưng nếu có một bao thuốc trong túi áo,
Có nghĩa là mọi thứ không quá tệ hôm nay.
Và nếu có chiếc vé để lên chiếc máy bay cánh bạc
Khi bay lên để lại chỉ cái bóng trên mặt đất này...

Пачка сигарет / Pachka sigaret / A Pack of Cigarettes
Kino / КИНО



=========================
Các bản dịch E được tận dụng:

01. Translated by zaicbl

I'm sitting and watching alien sky from the alien window
and don't see any familiar star
I've walked by all roads back and forth
Then turned back and can't see footprints

But if there a pack of cigarettes in my pocket
It not so bad at present
And a ticket on a plane with a silvery wing
that flies up and left to earth only shadow

And nobody wants be guilty without wine
And nobody wants rake up the fire
And without music death isn't beauty
And without music don't want to die out

But if there a pack of cigarettes in my pocket
It not so bad at present
And a ticket on a plane with a silvery wing
that flies up and left to earth only shadow

02. Translated by fedrmihalich

i'm sitting and staring at other's sky from the other's window
and i can see no known stars there
i walked all the roads forward and backward
looked back and couldn't find my footsteps

but if there's the cigarette pack in the pocket
everything's not so bad this day
if there's the ticket on the plane with silvery wings
that takes off and leaves only its shadow to the land

and nobody wanted to be guilty without wine
and nobody wanted to bank the fire with their own hands
but death's not so fine without music
no one wants to perish without music

but if there's the cigarette pack in the pocket
everything's not so bad this day
if there's the ticket on the plane with silvery wings
that takes off and leaves only its shadow to the land

03. Translated by ...

I'm sitting and looking at someone else's sky from someone else's window
and can't even see one familiar star
i walked on all roads, there and here
turned around and couldn't find footprints

but if in a pocket there's a pack of cigarettes
it means that everything isn't that bad, today
and the ticket to a plane with a silver wing
which lifts off, leaving just a shadow on the earth

And noone wanted to be guilty without wine,
And noone wanted to take the heat with bare hands,
(idiomatic expression meaning: take the bame or anger)
And without music in the world death is not pretty
And without music nobody wants to perish





Link download mp3:
http://zvukoff.ru/a4131/s17102.html
Đọc tiếp →

Thứ Năm, 3 tháng 6, 2010

Người đu xà treo




Em hãy nhớ ra anh, và hạnh phúc
Cạnh bên khóm hoa hồng đang cười rộ
Trên cằm anh đầy những vết thâm tím
Ta đếm từng chiếc xe đen qua đường

Ngôi nhà em lên xuống một quả đồi
Cho tới ngày họ tóm ta trong bếp
Cùng bản đồ dãy núi với ống heo
Một cảnh hình giờ đây thật xa xôi

Nhưng hãy nhớ ra anh, và trìu mến
Anh nghe kể em hãy còn xinh đẹp.
Họ còn kể trên cánh cổng thiên đường
Có những lời muốn nói được khắc lên

Như "Gặp lại nhau" và "Kệ mịa người"
Hay "Nói mẹ tôi xin đừng lo lắng"
Và các thiên thần với những nắm tay
Nhưng luôn làm theo một lối vội vàng

Và hãy nhớ anh, ngày hội Hóa Trang
Ta khiến láng giềng hóa ra kẻ ngốc
Khuôn mặt ta sơn một màu trắng bệch
Cho tới nửa đêm ta lãng quên nhau

...


Iron & Wine
Đọc tiếp →

Thái Thọ Huyệt Dương Minh Khảo Luận (+18)

Leopard: Copy toàn văn, từ từ ngâm cứu ngõ hầu biết mình mất hay còn...

====================================
THÁI THỌ HUYỆT DƯƠNG MINH KHẢO LUẬN ( Tư Liệu)


Trước lúc đọc bài phần khảo luận này Quí Vị cần phải xem trước bài viết trước (nếu chưa xem bài trước thì chưa nên đọc bài khảo luận này)

Bấm vào đây để đọc:
http://thuannghia.vnweblogs.com/post/7291/232509
__________

Lấy tư cách là một lương y, hậu nhân của Thanh Long Phái, một Y phái đã xuất thế nhiều Quan Ngự Y cho các triều đại, Vua, Chúa từ đời Hậu Lê cho đến đời Chúa Nguyễn Phúc Thuần. Tôi khẳng định huyệt Dương Minh mà Bà Lương Y Phạm Thị Hồng đã đề cập đến là có thật 100%.

Huyệt này là một biệt huyệt nằm trên Thái Thọ Cân Kinh nối giữa Thủ Dương Minh Đại Trường Kinh với Thủ Thiếu Dương Tam Tiêu và Thủ Thái Dương Tiểu Trường Kinh. Huyệt này là huyệt chủ của Cân Thọ (sự bền vững của Gân, Cơ)

Sách Linh Khu Tố Vấn viết " Thiếu niên chủ Thọ về Cốt khí, Trung niên chủ thọ về Huyết khí, Lão niên chủ thọ về Cân khí. Nam giới chủ thọ về Gân Cốt bền vững, Nữ giới chủ thọ về Khí Huyết đầy đủ..."

Lại nói "Dương Minh là Thái Cân Kinh chủ huyệt, là hội huyệt của các Lạc và biệt Kinh nối ba đường thủ dương Kinh (ba đường Kinh dương ở tay). Thiếu niên huyệt hội (sáng sủa, lộ rõ) là Cốt khí thịnh vượng, dương khí còn minh nguyên chưa bị âm tà hoạnh hại. Trung niên huyệt hội là khí lực cường tráng, vận lực hanh thông, không bị tổn vì âm tà hoạnh hại. Lão niên huyệt hội là gân cốt còn đầy đủ, thâu nạp khí âm mà tàng dương đó là cái lý khí của Đại thọ vậy..."

Như vậy theo sách Linh Khu thì Dương Minh không chỉ là huyệt Đồng tử mà nói thật chính xác đó chính là Thọ Huyệt.

Và có thể với con mắt thao luyện dày dặn của nghề nghiệp, người Thầy Thuốc có thể dựa vào huyệt Dương Minh mà xác định định được là còn Đồng Tử hay không Đồng Tử.

Nhưng nói như Lương Y Phạm Thị Hồng, là nếu thiếu niên đã gần gũi một lần nữ sắc, thì huyệt Dương Minh bị đứt hẳn là chưa chính xác.

Người thầy thuốc có nghề vọng Thần, có thể thấy được huyệt Dương Minh có thần khí tăm tối hay sáng sủa mà xác định được người bệnh có thái quá trong việc chăn gối hay không, để mà xác định được sự vắn dài tuổi thọ của bệnh nhân. Như vậy sao nói Dương Minh huyệt tuyệt đứt được.

Huyệt Dương Minh chính là nơi hội tụ và phát tiết thần sắc của con người. Thần khí sáng sủa, trong lành hay u ám mờ tối là do chính từ Dương Minh huyệt phát tiết, chứ không phải là do Minh Đường, Dịch Mã, Thái Dương sinh ra như một số người đã nghĩ.

Các bạn hãy nhìn sự tích hợp khí huyết của ba đường kinh dương trên cơ thể sau đây, thì các bạn sẽ hiểu rõ thêm tại sao Huyệt Dương Minh lại có vai trò thần diệu như vậy



KINH THỦ DƯƠNG MINH ĐẠI TRƯỜNG




KINH THỦ THIẾU DƯƠNG TAM TIÊU




KINH THỦ THÁI DƯƠNG TIỂU TRƯỜNG

------------------------------------------
ĐƯỜNG LƯU CHUYỂN KHÍ TRONG CÁC MẠCH LẠC KINH THỦ DƯƠNG MINH ĐẠI TRƯỜNG

1-KINH CHÍNH

Khởi đầu từ bờ ngoài chân móng ngón tay trỏ, đi dọc theo mép trên của ngón tay, qua hố lào giải phẫu, đến nếp gấp bờ ngoài khuỷ tay, chạy dọc theo mé trước- ngoài cánh tay, đến đầu trên cánh tay, chỗ hõm khớp vai, ra bờ sau vai, giao với kinh Tiểu Trường ở huyệt Bỉnh Phong, hội với Đốc Mạch ở Đại Chùy và đi sâu vào trong hõm xương đòn, từ đây phân ra 2 nhánh: Một nhánh lặn vào Phế, qua cơ hoành để vào Đại Trường ; Một nhánh từ hố xương đòn, lên cổ, hàm, đi vào giữa hàm răng dưới, vòng quanh mép miệng giao nhau ở Nhân Trung đến cánh mũi phía bên đối diện.

2-KINH BIỆT

Khởi từ huyệt Kiên Ngung, phân thành nhiều nhánh: Một nhánh ra sau ngực hội ở Đại Chùy, Một nhánh đến trước ngực phân nhánh vào Đại Trường, vào Phế, nổi lên ở hố trên xương đòn (ở huyệt Phù Đột) để hội với kinh Biệt Phế.

3-LẠC DỌC

Từ huyệt Lạc - Thiên Lịch chạy đến mỏm vai, lên cổ, vào hàm dưới,
phân một nhánh vào răng - tai và một nhánh vào Phế.

4-LẠC NGANG

Từ huyệt Lạc - Thiên Lịch chạy theo bờ ngoài cẳng tay vào huyệt Nguyên của Phế là Thái Uyên.

5-KINH CÂN

Khởi lên ở bờ ngoài chân móng ngón tay trỏ, đi dọc theo bờ ngoài cẳng tay, lên khuỷ tay đến đầu cánh tay, kết ở Kiên Ngung, phân một nhánh vòng theo bả vai áp vào 2 bên cột sống, còn một nhánh đi từ Kiên Ngung lên đến cổ, chia: một chi nhánh lên má kết ở trong xương gò má và chạy vào tai, một chi nhánh lên trên đến góc trán, vào trong tóc, vòng quanh sọ, xuống phía hàm đối diện cùng kinh.

___

ĐƯỜNG LƯU CHUYỂN KHÍ TRONG CÁC MẠCH LẠC KINH THỦ THIẾU DƯƠNG TAM TIÊU.

1-KINH CHÍNH:

Khởi từ góc trong ngón tay áp úp, dọc theo khe giữa của 2 ngón tay 4-5, ở mu bàn tay, đến mặt ngoài cổ tay, lên trên, đi dọc theo mặt sau cẳng tay giữa xương trụ và xương quay, đến mỏm khuỷ tay, đi theo mặt sau cánh tay lên vai, trong chỗ lõm của đầu xương vai và đầu xương cánh tay. Qua đỉnh cao xương bả vai thì đường kinh bắt chéo ra sau kinh Đởm, chạy xuống rãnh trên xương đòn (h.Khuyết Bồn) rồi đi sâu vào trong ngực đến Tâm Bào Lạc, qua cơ hoành và liên hệ với Tam Tiêu. Một nhánh đi từ ngực (h.Chiêu Trung) trở lên rãnh trên xương đòn để ra sau cổ, liên lạc với Đốc Mạch (h.Đại Chùy), chạy lên sau gáy, vào sau tai, vòng quanh tai, đến góc trên tai, đi vòng xuống mặt và trở lên kết ở bờ dưới ổ mắt. Một nhánh từ sau tai (h.Khế Mạch) vào trong tai và ra trước tai, qua trước h.Thượng Quan (Đởm), vòng xuống góc hàm dưới và liên kết ở góc ngoài đuôi lông mày để liên lạc với kinh Túc Thiếu Dương Đởm ở phía ngoài đuôi mắt (h.Đồng Tử Liêu).

2-KINH BIỆT:

Khởi từ huyệt Giác Tôn của kinh Chính Tam Tiêu đi lên đỉnh đầu ở h.Bá Hội rồi trở xuống vòng sau tai, đến h.Thiên Dũ, qua h.Khuyết Bồn (Vị) để vào sâu trong ngực liên lạc với Tâm Bào Lạc và Tam Tiêu.

3-LẠC DỌC:

Khởi từ huyệt Lạc - Ngoại Quan, theo kinh Chính lên phía sau cánh tay qua hõm trên xương đòn, rồi xuyên vào trong ngực đến Tâm Bào Lạc.

4-LẠC NGANG:

Khởi từ huyệt Lạc - Ngoại Quan, đi dọc theo bờ ngoài cẳng tay để đổ vào Kinh Chính Tâm Bào ở huyệt Nguyên - Đại Lăng.

5-KINH CÂN:

Khởi từ góc trong của móng ngón tay áp út, đến cổ tay, lên phía sau cẳng tay và sau khuỷ tay, theo bờ ngoài cánh tay lên mỏm vai, qua cổ hội với kinh Cân Thủ Thái Dương Tiểu Trường, đến góc hàm dưới, tại đây phân hai nhánh: Một nhánh đi vòng dưới góc hàm dưới để tiến sâu vào họng và kết ở cuống lưỡi. Một nhánh đi lên cao, dọc trước tai, chia nhánh vào tai và đến góc ngoài mắt, kết ở miền trán thái dương tại huyệt Bản Thần
___________________

ĐƯỜNG LƯU CHUYỂN KHÍ TRONG CÁC MẠCH LẠC KINH THỦ THÁI DƯƠNG TIỂU TRƯỜNG

1-KINH CHÍNH

Khởi lên từ góc trong chân móng ngón tay út, chạy dọc theo bờ trong bàn tay, phía xương trụ, lên cổ tay, đi dọc theo phía sau trong cánh tay qua giữa mỏm khuỷ tay vào sau khớp vai, đi ngoằn ngoèo ở gai xương bả vai, đến hội với kinh Bàng Quang và Đốc Mạch hội tại h. Đại Chùy, rồi trở ra hố xương đòn.

Từ hố xương đòn vùng huyệt Khuyết Bồn phân thành hai nhánh: Một nhánh lặn vào Tâm, qua cơ hoành đến Vị, Tiểu Trường và xuống liên hệ với huyệt Hạ Cự Hư của kinh Túc Dương Minh Vị (huyệt Hợp dưới của Tiểu Trường). Một nhánh lên cổ, gò má, tới góc ngoài mắt và vào tai; tại vùng má có nhánh đến bờ dưới hố mắt, hốc mũi và kết ở huyệt Tình Minh (Bq).

2-KINH BIỆT

Khởi từ sau vai ở huyệt Nhu Du, nhập vào nách tại huyệt Uyên Dịch (Đởm), vào ngực và phân nhánh vào Tâm, xuyên cơ hoành xuống liên hệ với Tiểu Trường, Một nhánh chạy đến khóe mắt trong ở huyệt Tình Minh (Bq).

3-LẠC DỌC

Từ huyệt Lạc - Chi Chánh chạy ra ngoài bờ sau cánh tay, lên tới vai vào vùng huyệt Khuyết Bồn (Vị) rồi chạy vào Tâm.

4-LẠC NGANG

Từ huyệt Lạc - Chi Chánh vòng ngang bờ ngoài cánh tay đến huyệt Nguyên của kinh Tâm là Thần Môn.

5-KINH CÂN

Khởi từ phía trong ngón út, men theo cổ tay, chạy dọc bờ trong sau cánh tay phân thành hai nhánh: Một nhánh vòng xuống kết dưới ổ nách, Một nhánh vòng lên vai, cổ, đi trước kinh Túc Thái Dương Bàng Quang và Thiếu Dương Đởm: phân một nhánh đến sau tai và vào trong tai, còn một nhánh đi vòng quanh tai rồi đổ xuống xương hàm dưới, và chạy ngược lên trên đến góc ngoài mắt, kết thành nhiều mao mạch dưới ổ mắt.
_______

Nhìn trên đồ huyệt và đường luân chuyển khí huyết của ba đường Thủ Dương Kinh (lưu ý chổ có gạch đít), chúng ta đều thấy dù là đường luân chuyển kinh chính, kinh biệt, lạc dọc, lạc ngang hay cân kinh, đều thấy cả ba đường kinh Dương này đều cũng có một sự hội tụ ở cuối xương quai hàm và đi vào trong tai. Điểm tích hợp đó chính là Dương Minh huyệt.

Lúc này đây chúng ta mới hiểu được lý luận logic của Y Lý là vì sao Thận khai khiếu ở tai (80% bệnh ù tai - Tinitut là liên quan đến thận). Khai khiếu có nghĩa là bóng ảnh biểu hiện ra ngoài của nội tạng, Trong trường hợp này tạm hiểu nôm na là mọi tình trạng của Thận biểu hiện ra ở Tai. Và chúng ta mới thật thấu ngộ tại vì sao huyệt Dương Minh lại thể hiện được những hiện trạng có liên quan đến sự thịnh suy của quả Thận. Bởi vì Kinh Thận vốn là đường kinh Âm, nhưng Thận chính là cái bể khí, tàng trữ khí Nguyên Dương (Chân Khí). Vì vậy mà xét về sự thịnh-suy của Thận, chính là dựa vào nơi hội tụ khí Dương, nơi khai khiếu của Thận. Đó chính là điều huyền vi của Y Lý cổ truyền.
(Việc Thận khai khiếu ở Tai và ba đường kinh Dương ở tay hội ở huyệt Dương Minh ảnh hưởng đến khí Nguyên Dương của Thận, lý giải rất rõ ràng cho các động tác vận động của Tay, nhịp nhàng, uyển chuyển, và nhu thuận của môn khí công Thiên Lý Tiêu Dao, tại sao lại có thể là một môn khí công Cường Dương Tráng Thận được...)

Là người thầy thuốc và chính người có bệnh về Thận, xác định đúng vị trí huyệt Dương Minh, có thể chỉ bằng một vài thủ thuật đơn giản ( trước đây là bí truyền) có thể khắc phục được cấp bách tình trạng suy chức năng tình dục, để bảo đảm được hạnh phúc gia đình trong việc phòng the.

Vậy thì huyệt Dương Minh nằm ở đâu mới chính xác?. Thật đơn giản! Cho dù huyệt Dương Minh là một động huyệt (Huyệt không có vị trí cố định) Nhưng cũng rất dễ dàng xác định.

Vì huyệt Dương Minh nằm dưới ngay điểm cuối cùng của dái tai (Nhĩ Châu) kéo tthẳng góc vào da mặt. Dái tai ai dài thì huyệt Dương Minh nằm dịch xuống gò Địa Các ( Giữa quai hàm và cằm ) nhiều hơn.
Vòm Địa Các vốn là nơi tích tụ phước khí. Địa Các sâu rộng vững chãi, thì hậu vận sung mãn, trường thọ. Dương Minh huyệt càng nằm xuống dưới, thì sinh lực càng cường tráng là vậy.

Điều này còn lý giải cho một lý luận của Tướng Số Mệnh Học là người có dái tai to, thòng xuống là tướng trường thọ (Huyệt Dương Minh là hội của Thái Thọ Cân Kinh mà...). Và dái tai ai kéo xếch ngược lên trên thì người ta nói đó tướng yểu mệnh bạc phước là vậy.

Huyệt Dương Minh còn có liên quan đến một môn công phu tương đối bá đạo, mà thời xưa các quan Ngự Y và thái giám thường giúp các bậc vua chúa để "chiến đấu" với hàng trăm, hàng ngàn cung nữ mà không biết mệt, đó chính là thuật "Dương Lang Thủ". Thuật này vốn bí truyền, chỉ lưu truyền trong giới có y thuật cao minh và phải phát thệ không truyền bá ra nhân gian kẻo sợ kẻ có tâm bất chánh làm chuyện tà dâm.

Ngày nay, trong những trường hợp đặc biệt các Lương Y đã truyền bá cho bệnh nhân để chữa bệnh suy thoái chức năng Thận, liệt dương

Dương Minh huyệt cũng còn có liên quan đến một phương pháp "hồi dương" cho người đã tuyệt khí. Ví dụ kéo dài hơi thở cuối cùng cho người tuyệt mệnh muốn chờ gặp con cháu chẳng hạn. Hay là dốc hết sinh lực của người sắp chết, nhằm mục đích chờ đợi một một phép mầu khác của Y thuật.

Dương Minh huyệt không phải chỉ có ở Đàn Ông, mà Đàn Bà cũng có huyệt ấy, cũng có những chức năng ấy. Nhưng sự huyền vi trong việc vọng Thần, thì ở Đàn Ông rõ nét và chính xác hơn.

Một huyệt khác ở Phụ Nữ có chức năng như huyệt Dương Minh ở đàn ông là huyệt Huyết Quyết Âm. Huyệt này chính huyệt ở lòng ngực, nằm giữa huyệt Cữu Vĩ và Nhũ Trung. Huyệt này phát Hình ở trên cườm tay trái phía trong, và phát thần ở đỉnh Châu Sa (chóp mũi) và dọi xuống Thủy Các ( làn môi). (Trong khuôn khổ bài viết này cho phép tôi miễn luận bàn về Huyết Quyết Âm huyệt).

Trong sách Linh Khu có nói, đại ý như sau: "Là một Thầy Thuốc nếu chưa thấu đáo được hết sự huyền vi của Dương Minh huyệt và Huyết Quyết Âm huyệt thì chưa thể gọi là một Danh Y. Là một nhà Tướng Mệnh Học, nếu chưa nắm được cái Thần của Dương Minh huyệt và Huyết Quyết Âm huyệt thì chưa thể gọi là một Thần Tướng được"

Câu nói đó thay cho lời kết luận của thiên khảo luận này.

___________________

Hì hì..thêm một quả tái bút:

- Lương Y Phạm Thị Hồng có nói về "Huyệt Dương Minh "...chị Hồng bùi ngùi nhớ lại. Chị bảo, cái huyệt đạo này người theo học y thuật phương Đông đều biết, nhưng nhiều người không để ý vì nó chẳng mấy tác dụng trong việc chữa bệnh, ngoài chức năng chứng minh sự trinh tiết."

Nói vậy là quá coi thường Dương Minh huyệt rồi, ít nhất nó cũng là một điểm để Vọng Thần trong Tứ Chẩn chứ (Vọng-Văn-Vấn-Thiết).

Ngoài tra Dương Minh còn là huyệt khá quan trọng cho việc phục nguyên cho Thận, sao lại nói là chẳng có mấy tác dụng trong việc chữa bệnh được. Có lẽ vì vị Lương Y tài ba và can đảm đầy tình Mẫu Tử này, chỉ căn cứ vào điểm huyệt Dương Minh cấm Châm và cấm Cứu, nên cho rằng nó không có tác dụng chăng?. Nên nhớ rằng trong Y học còn có một phép chữa bệnh cực kỳ thâm diệu nữa là phép Án-Ma (day bấm huyệt).

Chính vì vậy mà Dương Minh huyệt chính là "Tử Huyệt" của các đấng mày râu, họ sẽ bị gục như Từ Hải chết đứng, khi bị quí mợ "mơn trớn" thậm chỉ chỉ cần thổi nhẹ vào Dương Minh huyệt. Và nó cũng là "Sinh Huyệt" cho các quí ngài bị chứng " đã vội về khi chưa tới bến" khi biết khống chế huyệt Dương Minh.

Hà hà.... bạn cứ thử lấy ngón tay trỏ dí vào huyệt Dương Minh ( dí nhẹ thôi nhé). Ấn ngón tay và dí chếch lên trên sẽ cảm giác có một chổ hủm nhỏ, ấn nhẹ vào đó sẽ thấy cả hàm má nhói buốt lên tận mang tai, nơi có mạch Thái Dương, cái mạch hay nhảy cuồng lên như trống làng khi "lâm sự".
Vậy mới thấy cái huyền vi của Dương Minh trong chuyện phục nguyên Thận. Sao lại nói là không có tác dụng chi hè. Lạ thật

"..Chị đã đi gặp GS. Nguyễn Tài Thu - một trong số ít người quan tâm đến cái huyệt đó. GS. Nguyễn Tài Thu sau khi nghe chị thuật lại sự việc cũng lắc đầu bảo, khó lắm con ạ (GS luôn gọi chị là con ) chuyện này không đùa được, liên quan đến luật pháp, mà cái huyệt này chỉ những người rành y thuật phương Đông mới hiểu, khó làm chứng cứ minh oan lắm... Nói vậy nhưng GS cũng rất thương cho phạm nhân Lợi, chính ông đã móc ví lấy tất cả số tiền trong đó là 800 ngàn đồng gửi chị mua thuốc để tiêm cho Lợi, rồi động viên chị hãy bình tĩnh, làm từng bước cho chắc chắn."- trích trong bài báo "Bí mật huyệt Dương minh".

Hè hè kẻ hèn này thời còn xuân xanh (23 tuồi) đã có dịp gặp gỡ vị Giáo Sư tài ba này, trong cuộc hội thảo Châm Cứu Cai Nghiện Ma Túy. Trong cuộc hội ngộ này tôi đã có trình bày với Giáo Sư có thể dùng thuật Dương Lang Thủ chữa trị bệnh suy Thận, dẫn đến chứng Dương Nuy. Nhưng có lẽ hồi ấy Giáo Sư ở tận trên trời, mà tôi thì tận dưới đáy, nên Giáo Sư không để ý đến. Cho nên bây giờ Ông vẫn coi nhẹ huyệt Dương Minh như vậy đó chăng. Trong khi Tổ Sư Gia Hải Thượng Lãn Ông có nói : "bá bệnh từ Thận mà sinh ra, nên lấy Thận làm trọng trong các thuật ôn bổ chính khí mà loại trừ bá bệnh". (Chính vì vậy mà Cụ Tổ mới lấy huyệt Thận Du và Mệnh Môn làm "Đại Chủ Huyệt" trong Y Thuật lừng danh kim cổ của Ông chứ.)

22.05.10
QN- Lê Thuận Nghĩa
Sưu tầm và biên khảo
==============================================


Đọc tiếp →

Bảy nguyên tắc của Da Vinci



Bảy nguyên tắc của da Vinci từ cuốn "Cách tư duy giống như Leonardo da Vinci" của Michael J. Gelb.
...

1. Tò mò: Một sự miêu tả chính xác về Da Vinci sẽ là “người tò mò nhất từng tồn tại,” Gelb đã nói. “Ông ta quá tò mò; một nhà phê bình từng nói ông ta sẽ không lấy “có” cho một câu trả lời.” Ở thời điểm khi không ai nghi vấn bất kỳ thứ gì, Da Vinci nghi vấn mọi thứ. Khi chúng ta tăng tốc hướng tới một thời đại thông tin kết nối mạng, bạn sẽ khôn ngoan khi làm cùng cái điều đó, Gleb khuyên vậy.

2. Suy nghĩ tự thân: Da Vinci không ngại phạm sai lầm và học hỏi từ chúng. Sát hạch tri thức qua kinh nghiệm.

3. Mài sắc các giác quan: "Theo Da Vinci, ngũ quan là người điều hành tâm hồn," Gleb đã nói. “ Ông ta rèn luyện sự nhận biết của cảm giác theo cùng cách vận động viên Olympic rèn luyện thân thể. Ông cảnh báo là phải tránh việc bị khóa kín và chẹn lại bởi những quá trình tư duy đơn điệu.”

4. Tiếp nhận sự đa nghĩa, nghịch lý và sự bất định: Một trong những đặc tính quan trọng nhất của người sáng tạo là sự cởi mở của họ với những thứ không biết và nhiệt tâm vận dụng trực giác của họ. "Là một người tư tưởng bậc nhất, Da Vinci học cách phiên dịch trí tưởng tượng thành một thứ ngôn ngữ kỹ thuật,” Gelb phát biểu. “Những đột phá chính yếu được trải nghiệm qua trực giác. Einstein chẳng hạn, đã tưởng tượng ra những thứ mà sẽ như là lướt sóng vào trong vũ trụ trên một tia sáng mặt trời.”

5. Cân bằng Nghệ thuật và Khoa học, Logic và Trí tưởng tượng bằng Trực giác: Sự tiếp cận mà da Vinci theo đuổi dựa trên lối tư duy là nếu như bạn muốn cách tân thì bạn sẽ phải tháo bỏ những nề nếp thông thường," Gleb nói. "Vấn đề là người ta hoặc kẹt trong cầu não trái hoặc cầu não phải. Chiên viên của thiên niên kỷ mới sẽ phải là một người tư duy cân bằng: sáng tạo, phân tích, chặt chẽ, hài hước và giàu trí tưởng tượng.

6. Cân bằng giữa thân thể và tâm trí: Bổ sung cho sự sắc sảo về tâm trí, da Vinci đã là một quái kiệt về sức khỏe, người từng nói, "Hãy tránh các tâm trạng sầu não và giữ tâm trí bạn vui tươi." Ông ta cũng nhấn mạnh rằng tâm thế ảnh hưởng tới thần thái và tầm quan trọng của việc giữ cho tâm trí và cơ thể gọn gàng và mau lẹ.

7. Cố gắng thấy cách mọi thứ kết nối với các thứ khác.
"Đó là tư duy hệ thống," Gelb giải thích. "Ông ta đã nói bạn phải thấy những khuôn mẫu, những mối quan hệ, và những quá trình và cách thức mọi thứ ăn khớp với nhau."


============================
* Nguồn:

Given the reality, what can we learn from one of the smartest men who ever
lived? Gelb has condensed da Vinci’s teachings into seven principles:

1. Be curious. “An accurate description of da Vinci would be ‘the most curious person who ever lived,’” Gelb said. “He was so curious; one critic said he wouldn’t take ‘yes’ for an answer.” At a time when no one questioned anything, da Vinci questioned everything. As we speed into a networked information age, you’d be wise to do the same thing, Gelb advised.

2.Think for yourself. Da Vinci was not afraid to make mistakes and learn from them. Test knowledge through experience.

3. Sharpen your senses. “According to da Vinci, the five senses are the ministers of the soul,” Gelb said. “He trained his sensory awareness the same way Olympic athletes train their bodies. He warned against being locked and blocked by the same thought processes.”

4. Embrace ambiguity, paradox, and uncertainty. One of the most significant characteristics of highly creative people is their openness to the unknown and willingness to use their intuition. “As a leading thinker, da Vinci learned to translate imagination into a technical language,” Gelb stated. “Major breakthroughs are experienced through intuition. Einstein, for example, imagined what it would be like to surf out into the universe on a sunbeam.”

5. Balance art and science, logic, and imagination with intuition. “The approach da Vinci followed was based on the thinking that if you hope to innovate you’re going to have to cut loose from conventional grooves,” Gelb said. “The problem is people are either stuck in a right- or left-brained world. The techie of the new millennium will have to be a balanced thinker—creative, analytical, rigorous, playful, and imaginative.

6. Balance body and mind. In addition to being mentally sharp, da Vinci was a fitness freak who said, ”Avoid grievous moods and keep your mind cheerful.” He also insisted that attitude affects well being and stressed the importance of keeping mind and body lean and active. (And you thought your trainer was smart.)

7. Try to see how everything connects to everything else. “That’s systems thinking,” Gelb explained. “He said you have to see patterns, relationships, and processes and how they all fit together.”

...

http://articles.techrepublic.com.com/5100-10878_11-5025672.html


=======================
* Xem thêm:


Đọc tiếp →