Thứ Ba, 29 tháng 9, 2009

Lập ngôn?

Sĩ vị khả dĩ ngôn nhi ngôn, thị dĩ ngôn thiểm chi. (MT)

Kẻ sĩ lúc chưa đáng nói mà nói, là dùng lời nói để thăm dò.

...

(cont.)
Đọc tiếp →

Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2009

Plea for Reason, Evidence and Logic



Dịch dật tí chơi.

----------------
Plea for Reason, Evidence and Logic
by Alan Sokal


Transcript of a talk presented at a forum at New York University on October 30, 1996. It was reprinted in New Politics 6(2), pp. 126-129 (Winter 1997).


Công chiện hôm nay đã mang đến một số chủ đề khó tin, và tôi ko thể mơ tới chiện diễn thuyết về mọi điều trong 10 phút, do đó hãy để tôi khai mào bằng cách giới hạn (circumscribing) bài nói của mình. Tôi không muốn lên gối (belabor) vào sự yếu kém của Social Text cả trước và sau khi công bố bản văn nhái (parody) của mình: SC ko phải kẻ thù, ko phải mục tiêu trí thức chính của tôi. Tôi sẽ không đi vào những chủ đề đạo đức liên hệ tới tính đúng đắn của hành vi xỏ xiên (hoaxing) (dù tôi sẽ vui lòng biện hộ cho đạo đức của mình khi nào được hỏi). Tôi sẽ ko diễn thuyết về văn vở của đám người theo thuyết ngu dân (obscurantist prose) và sự sùng bái danh tiếng không phê phán mà đã tiêm nhiễm vào các lĩnh vực luỵ thời nhất định của nhân tính học giới Mẽo... (infected certain trendy sectors of the American academic humanities) (dù đây là những vấn đề quan trọng mà tôi hi vọng người tham gia khác sẽ diễn thuyết). Tôi sẽ không bước vào những chủ đề chiên môn của triết học khoa học (philosophy of science) (dù lần nữa tôi sẽ vui lòng làm điều đó khi nào được hỏi). Tôi sẽ ko thảo luận về vai trò xã hội của khoa học và công nghệ (dù đây là những chủ đề quan trọng). Thực ra, tôi muốn nhấn mạnh rằng chiện hôm nay, theo quan điểm của tôi, không chính yếu về khoa học - dù nó là sự bào chữa (excuse) cho việc dựng nên bản văn nhái của tôi - cũng ko là một mâu thuẫn về lề lối (disciplinary conflict) giữa những nhà nhà khoa học và nhà chủ nghĩa nhân văn (humanist), những người thực sự đại diện cho các phía của cuộc luận chiến. Điều tôi tin tưởng là cuộc luận chiến này chủ yếu về - và điều tôi muốn tập trung tối nay - bản chất của sự thật, lý trí và tính khách quan: những chủ đề tôi tin là cốt yếu (crucial) với tương lai của hoạt động chính trị phe tả (left politics).

Tôi đã ko viết bài văn nhái vì lý do các bạn có lẽ nghĩ đến đầu tiên. Mục tiêu của tôi không phải bảo vệ khoa học khỏi những đám phê bình văn chương man rợ hay xã hội học. Tôi biết hoàn toàn rõ ràng rằng những mối đe doạ chính với khoa học ngày nay tới từ những quản trị viên tập đoàn và những nhà chính trị chủ trương cắt giảm ngân quỹ (budget-cutting politicians and corporate executives), chứ ko tới từ một nhúm các học giả hậu hiện đại. Hơn nữa, mục đích của tôi là phải bảo vệ thứ mà mọi người gọi là thế giới quan khoa học (scientific worldview) - được định nghĩa rộng ra như một phương diện về bằng chứng và logic, và về sự đối chiếu không ngừng của những lý thuyết với thế giới thực; ngắn gọn hơn, với suy luận duy lý đặt trên sự mị dân, mê tín và mộng tưởng. Và động cơ của tôi để cố gắng bảo vệ những ý tưởng lỗi thời này, về cơ bản, là có tính chính trị. Tôi lo lắng về những trào lưu trong phe người Mẽo cánh tả (trends in the American Left) - xét riêng trong giới học giả ở đây - mà một lượng tối thiểu làm chúng ta chệch hướng khỏi nhiệm vụ công thức hoá sự phê phán xã hội tiến bộ (formulating a progressive social critique), bằng cách dẫn dắt những người tận tâm và thông minh tới trào lưu mà sau cùng chỉ là những kiểu cách trí thức rỗng tuếch, và có thể thực sự ngầm phá hoại những triển vọng về sự phê phán nói trên, bằng sự đề xướng thứ triết học của những người theo thuyết tương đối và thuyết chủ quan mà theo quan điểm của tôi là ko nhất quán (inconsistent) để đưa ra một bản phân tích thực tế về xã hội mà chúng ta cùng với những bạn công dân của mình sẽ tìm thấy sự thuyết phục.

David Whiteis, trong một bài báo gần đây, đã nói rất rõ:




Rất nhiều học giả, an toàn trong toà tháp ngà của mình và được cách ly khỏi những hệ quả ngoài đời thực mà tới từ ý tưởng họ tán thành, dường như mù loà trước một thực tế rằng sự phi lý (non-rationality) từ rất lâu đã là một trong những vũ khí mạnh mẽ nhất trong những pháo đài ý thức hệ (ideological arsenals) của những kẻ đàn áp. Tính siêu chủ quan (hypersubjectivity) ở những nhà hậu hiện đại là một ca rõ ràng (perfect case) tại điểm sau: không những là một sự kế thừa từ công cuộc bài trừ thánh tượng của phe tả (leftist iconoclasm), như một số chủ trương tuyên bố rất không chân thật, nó thực sự... đóng vai những nhà chống duy lý một cách hoàn hảo. - chống tư tưởng thực sự - một thiên kiến hiện đang tiêm nhiễm tới xu thế chủ đạo của văn hoá Mẽo (infects "mainstream" U.S. culture).

Theo những dòng trên, triết gia khoa học Larry Laudan đã nhận xét một cách chua chát rằng:




Sự thế chỗ ý tưởng về chất liệu bằng chứng và thực kiện (facts and evidence matter) bởi ý tưởng mọi thứ cô cạn (boils down) thành những cách hiểu và sở thích chủ quan - chỉ lần thứ hai tới trong những cuộc vận động chính trị Mẽo - là sự thị uy nguy hại và nổi bật nhất của chủ nghĩa phản trí thức trong thời đại của chúng ta.
(Ngày nay, trở thành phản trí thức hay vận động chính trị ở Mẽo thực ra đều khá kỳ công.)

Bi giờ dĩ nhiên là, chả ai sẽ chấp nhận dựa vào logic, bằng chứng và lý trí - giống như dựa vào Motherhood và Apple Pie. Hơn thế, những ngườii bạn hậu cấu trúc và hậu hiện đại của chúng ta sẽ tuyên bố ủng hộ thứ lý trí nào đó mới lạ và sâu sắc hơn, ví dụ như sự tán dương những "tri thức địa phương" (local knowledges) và những "cách hiểu biết tuỳ chọn" (alternative ways of knowing) như một liều thuốc giải, cái được kêu là "Phương pháp luận khoa học Trung Âu" (Eurocentric scientific methodology) (các bạn biết, những thứ như tái tạo, điều khiển, thí nghiệm có tính hệ thống...v.v). Bạn tìm thấy một thành ngữ ma thuật "Tri thức địa phương", lấy ví dụ, trong những bài báo Andrew Ross và Sandra Harding trong chủ đề Science Wars của Social Text. Nhưng toàn bộ những "tri thức địa phương" có tuyệt vời ko? Và khi những tri thức địa phương mâu thuẫn, thì chúng ta nên tin tri thức địa phương nào? Trong nhiều vùng ở Midwest, những tri thức địa phương bẩu rằng bạn nên phun nhiều thuốc diệt cỏ để có vụ mùa lớn hơn. Khoa học khách quan lỗi thời thì bẩu thuốc diệt cỏ là độc hại với nông phu và con người phía hạ lưu. Tại thành phố New York, rất nhiều tri thức địa phương đã cho là có một làn sóng những bà mẹ teengage đang huỷ diệt những chỉ dẫn đạo đức (moral fiber) của chúng ta. Những dữ liệu nhàm chán thì chỉ ra tỉ suất sinh đẻ của những bà mẹ teenage về cơ bản là không thay đổi kể từ năm 1975, và bằng phân nửa tỷ suất mẫu mực của năm 1950. Một từ khác để gọi "tri thức địa phương" là định kiến.


Tôi xin lỗi phải nói điều này, nhưng dưới ảnh hưởng của hậu hiện đại một số người rất thông minh có thể ngã vào lối suy nghĩ tuỳ tiện một cách khó tin, và tôi muốn đưa ra 2 ví dụ. Cái đầu tới từ một bài báo đầu trang trên tờ New York Times thứ ba trýớc (10/22/96) về mâu thuẫn giữa những nhà khảo cổ học và một số nhà Sáng tạo luận người Mẽo bản địa (archaeologists and some Native American creationists). Tôi ko muốn diễn thuyết tại đây về những phương diện luật pháp và đạo đức của cuộc tranh luận này - người ta nên làm chủ việc sử dụng nốt 10,000 năm còn lại của nhân loại - mà chỉ về vấn đề nhận thức. Có ít nhất 2 quan điểm xung khắc về nơi mà cư dân bản địa Mẽo xuất phát. Sự nhất trí của khoa học, dựa trên những bằng chứng khảo cổ bao quát, là nhân loại tiến vào Châu Mĩ lần đầu tiên từ Châu Á vào khoảng 10-20,000 năm trước, băng qua eo biển Bering. Nhiều nhà Sáng tạo luận Mẽo bản địa thì quả quyết rằng, trái lại, người bản địa đã luôn luôn sinh sống tại châu Mĩ, kể từ khi tổ tiên của họ xuất hiện trên mặt đất từ một thế giới bí hiểm của tinh thần. Và bài báo Times nhận xét rằng rất nhiều nhà khảo cổ học, "bị giằng co giữa sự đồng cảm với văn hoá bản địa và khí chất khoa học của mình, ... đã hướng gần đến chủ nghĩa tương đối hậu hiện đại mà khi đấy khoa học cũng không hơn một hệ thống niềm tin." Ví dụ như, Roger Anyon, một nhà khảo cổ học Anh Cát Lợi, người đã từng làm việc với người Zuni, đã được trích dẫn là nói thế này "Khoa học chỉ là một trong nhiều cách nhận biết thế giới. ... [Quan điểm về thế giới của người Zuni là] cũng có giá trị như (*) quan điểm của khảo cổ học về những gì thuộc về thời tiền sử.


Bi giờ, có thể Dr. Anyon đã bị trích dẫn sai, nhưng tất cả chúng ta đã nghe đi nghe lại những khẳng định như trên, và tôi muốn hỏi những khẳng định như thế có thể có nghĩa gì. Chúng ta có ở đây hai lý thuyết ko tương hợp với nhau. Chúng ko thể cùng đúng; chúng cũng ko thể gần đúng. Dĩ nhiên, chúng có thể cùng sai, nhưng tôi ko tưởng tượng được rằng điều mà Dr. Anyon muốn nói là "cũng có giá trị nhý nhau (*)". Theo tôi thì dường như Anyon đã để sự đồng cảm về văn hoá và chính trị làm tối mờ lập luận của mình một cách khá giản đơn. Và không có sự biện minh nào cho điều đấy. Chúng ta có thể nhớ hoàn toàn rõ ràng đến những nạn nhân của một sự diệt chủng khủng khiếp và giúp đỡ những mục tiêu chính trị hợp lý của họ, nhưng không thể tán thành những truyền thuyết về sáng tạo cổ xưa của họ theo cách thiếu phê phán (hay phê phán giả tạo). Hơn thế, thái độ của những người theo thuyết tương đối là cực kỳ kẻ cả: Họ đối xử với một xã hội phức tạp như với một cục đá nguyên khối, che đậy những xung đột bên trong nó, và xem những bè cánh theo chủ thuyết ngu dân mạnh mẽ nhất như là phát ngôn viên cho tất cả.


Ví dụ thứ hai của tôi về lối suy nghĩ tuỳ tiện tới từ bài báo của đồng chủ biên Social Text, Bruce Robbins, trong tạp chí Tikkun số tháng 9/10 năm 1996, mà ông ta cố gắng bảo vệ - mặc dù miễn cưỡng - công cuộc phá đảo của chủ nghĩa hậu cấu trúc/ hậu hiện đại tới những ý niệm có tính quy ước/ước lệ về sự thật (conventional notions of truth). "Có phải quyền lợi của phụ nữ, những người Mẽo gốc Phi, và những người bị bóc lột cùng cực khác (super-exploited people)", Robbins hỏi, "đòi hỏi rằng tính đồng nhất và sự thật phải là những kiến tạo của xã hội? Có hay không," ông ta khẳng định. "Ko, bạn ko thể nói về sự bóc lột mà thiếu đi sự kiểm chứng" - chính xác theo quan điểm của tôi - "Nhưng đúng là," Robbins tiếp, "sự thật có thể là khởi nguồn của sự áp bức." Huh??? Sự thật có thể áp bức ai đó như thế nào? Ồ, những lời kế tiếp của Robbins giải thích điều anh ta muốn nói: "Cách đây không quá lâu," anh ta nói, "những nhà khoa học với những thẩm quyền đầy đủ của họ đã giải thích tại sao phụ nữ và những người Mẽo gốc Phi... cố hữu là thấp kém." Nhưng có phải Robbins đang tuyên bố đó là sự thật? Tôi nên hi vọng là ko! Chắc chắn, rất nhiều người nói không đúng về phụ nữ và người Mẽo Phi; và đúng là, những sự sai trái đó thi thoảng được khẳng định bởi cái danh xưng là "khoa học", "lý trí" và tất cả những thứ còn lại. Nhưng tuyên bố những thứ như thế không làm nên sự thật, và thực tế rằng con người - bao gồm các nhà khoa học - thi thoảng tạo ra các tuyên bố sai trái không có nghĩa chúng ta nên loại bỏ hay xét duyệt lại khái niệm về sự thật. Khá trái ngược: Điều đó có nghĩa là chúng ta nên kiểm tra những bằng chứng đằng sau những tuyên bố về sự thật một cách hết sức cẩn thận, và chúng ta nên loại bỏ những khẳng định là sai trái theo phán đoán duy lý nhất của mình.


Thật ko may, lỗi này lập lại xuyên suốt bài luận của Robbins; một cách có hệ thống anh ta từ chối sự thật bằng những tuyên bố về sự thật, từ chối thực kiện bằng những khẳng định về thực kiện, và từ chối tri thức bằng những kỳ vọng về tri thức. Những sự elision đó là cơ sở của lối tư duy tuỳ tiện về "sự kiến tạo xã hội" (social construction) mà được phổ biến trong học giới ngày nay, và khiến những sự tiến bộ phải kìm hãm lại. Chắc rằng, chúng ta chỉ ra những quyền lợi về ý thức hệ, chính trị và kinh tế được phụng sự bởi sự giải trình về "hiện thực" của ngýời đối địch với chúng ta; nhưng trước hết hãy chứng minh, bằng cách sắp đặt bằng chứng và logic, tại sao những sự giải trình đó về khách quan là sai trái (hay trong một số trường hợp là đúng nhưng ko phải tất cả).Gần cuối bài báo của mình, Robbins thẳng thắn thừa nhận rằng "những người hoạt động chính trị về văn hoá đôi khi hành động cứ như thể Sự thật luôn luôn và tại bất kỳ đâu là một vũ khí của cánh hữu". Bi giờ, đó là một thái độ tự thua đầy kinh ngạc với một người đã nhận mình là cánh tả. Nếu Sự thật ở phía cánh hữu, thì chúng ta không nên - ít ra là người chân thật nhất trong chúng ta - trở thánh người cánh hữu (right-wingers) sao? Về phần tôi, tôi là người phe tả và theo thuyết bình quyền dựa vào logic và bằng chứng (kết hợp cùng với những yếu tố đạo đức), chứ không bất chấp tất cả.


Lời biện hộ của tôi cho lý trí, bằng chứng và logic hầu như là đã có từ trước; hàng tá nhà chủ nghĩa nhân văn tiến bộ, nhà khoa học xã hội và nhà khoa học tự nhiên đã nói cùng điều này trong nhiều năm. Nhưng nếu bản văn nhái (parody) của tôi trên Social Text chỉ phần nhỏ nào giúp khuyếch đại tiếng nói của họ và khơi gợi một cuộc luận chiến cần thiết trong phe tả, khi đó nó đã phục vụ cho mục đích đề ra.

 
 
 

-----------------------

* Bản tiếng Anh:
http://www.physics.nyu.edu/faculty/sokal/nyu_forum.html


Đọc tiếp →

Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2009

Lời thô tục ý u tồn

Lời thô tục ý u tồn
Ý nào u tục thô ngôn là lời
Giả danh chân đế cũng rồi
Giả danh tục đế đẩy lời cũng qua
Trăm năm trong cõi người ta
Lọ là Long Thọ hay là Khổng Khâu
Vàng beo, lục gấu, trắng trâu
Đìu hiu trăng mọc, nhịp cầu phù du
Nay mai cơn mộng hư phù
Mẹ xin chiếu cố sa mù cho con.



...
Câu thứ năm y như lời mở đầu truyện Kiều, nhưng không thấy để trong ngoặc kép hay chú thích rõ ràng như thường tình, làm sao mà Bùi-Giáng chẳng biết nhưng có thể ông cho đó là chuyện nhỏ ai mà chẳng biết, mới lại chẳng lẽ ông “yếu” đến nỗi phải “đạo văn” một câu như thế sao! nên chẳng đáng lưu tâm, nên đã không nói gì cả.

Bài thơ này thiếu nhan đề, không ngắt câu xuống hàng, viết như một đoạn văn xuôi ở giữa hai đoạn văn xuôi khác, nơi một bài luận về “Sở Dĩ Nhiên” thấy trong cuốn tạp bút Ngày Tháng Ngao Du do nhà An-Tiêm xuất bản tại Sài-Gòn năm 1971, có thể đây thực sự chỉ là đoạn văn xuôi nhưng tình cờ nó đã vần điệu với nhau làm thành bài thơ, thật đúng như người đời ca tụng, ông không làm thơ, chẳng nghĩ thơ… thơ đến tự nhiên tuôn ra như nước chẩy.

source link


Chu Hy viết: "Cùng lý là muốn biết cái sở dĩ nhiên (1) của sự vật với cái sở đương nhiên (2) của sự vật mà thôi. Biết cái sở dĩ nhiên cho nên cái chí không hoặc (*), biết cái sở đương nhiên cho nên việc làm không lầm." Trích từ Trần Trọng Kim, sđd., Hạ tập, tr. 165

source link



(1): cause; (2): fact (?)

(*): nghi hoặc; "tứ thập nhi bất hoặc", Khổng tử.
------------------

Updated 03/08/2010:

已然: dĩ nhiên (己 kỉ, 火 hỏa)
當然: đương nhiên (田 điền,火 hỏa )
所: sở (cái) (戶 hộ)
礎: cơ sở (石 thạch )
所已然: sở dĩ nhiên
所當然: sở đương nhiên
Đọc tiếp →

Thứ Hai, 14 tháng 9, 2009

If not me, then who?

01. Sự thay đổi của Andrei Sakharov



Sự thay đổi của Andrei Sakharov Người chế tạo bom hydro của Liên Xô trở thành một nhà hoạt động vì hòa bình và nhân quyền. Điều gì đã khiến ông thay đổi như vậy?
...
Khi một đồng nghiệp của hỏi ông tại sao ông lại làm những việc như vậy, Sakharov đã trả lời: "Nếu không phải tôi thì ai đây?" (*)

http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=90&News=2060&CategoryID=24


(*): In the 1970s one of his colleagues Vladimir Ritus, asked him why he had taken the steps he did thereby putting himself in such grave danger. Sakharov's reply was, "If not me, who?"

http://oldweb.uwp.edu/academic/criminal.justice/1486017.pdf



02. Andrey Dmitrievich Sakharov (1921-1989)

Andrey Dmitrievich Sakharov chào đời ngày 21/5/1921 tại thành phố Moscow, nước Nga. Ông Sakharov là một nhà vật lý hạch tâm, một nhân vật can đảm tranh đấu cho nhân quyền, đòi hỏi các tự do dân sự (civil liberties) cũng như các cải tiến tại Liên Xô. Vào tháng 12 năm 1975, ông Andrey D. Sakharov được trao tặng Giải Thưởng Nobel Hòa Bình (the Nobel Prize for Peace) vì các công trình hoạt động của ông trong nhiều năm trường.

...

Năm 1947, ông Andrey D. Sakharov bảo vệ luận án Tiến Sĩ về Vật Lý Hạch Tâm (nuclear physics) rồi qua năm sau, 1948, được mời tham gia vào nhóm các nhà nghiên cứu khoa học mà nhiệm vụ của họ là làm phát triển các võ khí nguyên tử, với nhà bác học đứng đầu nhóm là ông Igor E. Tamm. Từ đầu năm 1950, nhà bác học Igor E. Tamm cùng với Tiến Sĩ Andrey D. Sakharov và nhóm chuyên gia, đã nghiên cứu và thử nghiệm các phản ứng nhiệt hạch tâm có kiểm soát (controlled thermonuclear reaction), rồi sau đó chế tạo các máy phát từ khổng lồ (magnetic generators), nhờ đó đã đạt được một kỷ lục về từ trường mạnh tới 25 triệu gauss.

Trong vòng 20 năm, ông Sakharov đã làm việc trong các điều kiện an ninh tuyệt đối, dưới các căng thẳng lớn, đầu tiên tại khu vực thành phố Moscow rồi về sau tại một trung tâm nghiên cứu bí mật. Các công trình nghiên cứu xuất sắc của ông Sakharov về khí động học của chất khí (gas dynamics), sự hạn chế từ tính của các hạt chứa điện tích (magnetic confinement of charged particles) cũng như các vấn đề chính yếu trong công trình chế tạo bom khinh khí (hydrogen bomb), lần đầu tiên được thử vào tháng 8 năm 1953. Do những đóng góp lớn lao này, ông Sakharov được bầu làm Viện Sĩ của Hàn Lâm Viện Khoa Học Liên Xô năm 32 tuổi, cũng như được trao tặng nhiều danh dự và thụ hưởng các đặc quyền, đặc lợi khác.

Vào thời gian đầu của thập niên 1950, ông Sakharov cũng như nhiều nhà bác học Liên Xô khác, đã say sưa với tầm quan trọng của công trình võ khí nguyên tử, tin tưởng rằng nhờ chương trình này mà có sự cân bằng thế lực trên thế giới, giữa hai khối tư bản và cộng sản, nhưng qua giữa thập niên, ông bắt đầu suy nghĩ tới các nguy hiểm do các vụ nổ nguyên tử gây ra, lo lắng về các phóng xạ từ trái bom khinh khí 100-megaton nổ trong không trung, rơi xuống nhiều miền đất rộng lớn, gây ra tai họa cho nhân loại và môi trường thiên nhiên. Tại một buổi họp trong Điện Kremlin vào năm 1961, ông Sakharov đã chuyển tới vị Tổng Bí Thư Nikita Khrushchev một bản viết chỉ trích việc tiếp tục các thí nghiệm võ khí hạch tâm. Ông Sakharov đã vận động thành công việc chống đối và vạch trần các chủ thuyết giả mạo (spurious doctrines) của nhà sinh học đầy thế lực T.D. Lysenko. Ông đã quan tâm tới các vấn đề sinh học (biological) cũng như đạo đức (moral) do bởi các thử nghiệm hạch tâm kể trên, rồi kể từ năm 1967, ông đã báo động cho nhiều người khác biết rõ các tai họa sẽ xẩy ra.

Trong bài luận văn viết vào năm 1968 với nhan đề là "Suy Nghĩ về Tiến Bộ, Cùng Sống trong Hòa Bình và Tự Do Trí Tuệ" (Reflections on Progress, Peaceful Coexistence, and Intellectual Freedom), ông Sakharov đã biện hộ việc giảm bớt căng thẳng (détente) giữa hai khối đối nghịch Đông và Tây và kêu gọi cách hội tụ của hai hệ
thống tư bản và xã hội chủ nghĩa.

...

http://vietsciences.free.fr/biographie/physicists/sakharov.htm

03. Sakharov's Chronology

...

1968, July. “Reflections on Progress, Peaceful Coexistence, and Intellectual Freedom” is published in the West.

1972, October. Sakharov’s first interview to a Western correspondent.

1973, August 21. Sakharov’s first press conference.

1973, August 23. In an interview with Western journalists, Sakharov says, “How can we speak of trust, if one of the sides is like a giant concentration camp?”

1975, October 9. The Nobel Peace Prize award to Sakharov is announced.
...
http://people.bu.edu/gorelik/AIP_Sakharov_Photo_Chrono/AIP_Sakharov_Photo_Chronology.html


04. Andrei Sakharov's Nobel Lecture, December 11, 1975 (Peace, Progress, Human Rights):

http://nobelprize.org/nobel_prizes/peace/laureates/1975/sakharov-lecture.html

05. The opening paragraphs of Sakharov’s Reflections on Progress, Peaceful Coexistence, and Intellectual Freedom:

http://www.aip.org/history/sakharov/essay.htm
Đọc tiếp →

Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2009

Thơ Nga sưu tầm

01. Thơ sưu tầm của Bella Akhmadulina:


Trên phố nhà tôi (По улице моей)

Trên phố nhà tôi bao năm vẫn vọng
Tiếng bước chân, bè bạn tôi đi xa.
Họ chầm chậm theo nhau dần khuất bóng
Làm dày thêm khoảng tối phía sau nhà.

Bao công việc của họ bị bỏ qua,
Nhà lặng vắng không còn ai đàn hát,
Duy vẫn như xưa trên tác phẩm Dega
Thiếu nữ điệu đà sửa sang nhan sắc.

Biết làm sao, đừng gợi thêm nỗi sợ
Giữa đêm dày trong những kẻ bơ vơ.
Lòng khát khao sự bội phản không ngờ
Bạn tôi ơi, sẽ phủ mờ khoé mắt.

Ôi cô đơn! Sao ngươi tàn nhẫn thế,
Vung chiếc compa bằng sắt lạnh lùng,
Nghiệt ngã xoay tròn khép kín một vòng
Bỏ ngoài tai mọi nguyện thề vô ích.

Vậy hãy gọi ta, hãy thưởng ta đi!
Đứa con yêu hằng được ngươi âu yếm,
Ta bình yên được ngươi ôm vào ngực
Gột rửa mình trong lạnh giá thanh thiên.

Cho ta nhé, kiễng chân trong rừng thiêng,
Tận cuối kia tay ta đưa chầm chậm.
Tìm nhành lá ta ấp lên gương mặt
Để cô đơn thành hoan lạc trời trao.

Cho ta nhé các thư viện bình yên,
Các bản nhạc trang nghiêm còn vang vọng.
Và thông thái, ta quên đi hết thảy,
Kẻ chết người còn ta cũng quên luôn.

Ta ngộ ra trí tuệ với nỗi buồn,
Được giao phó biết bao nhiêu bí ẩn.
Mẹ thiên nhiên tựa vai ta tin cậy
Và trao ta những bí mật trẻ thơ.

Và khi đó, từ quá khứ ngu ngơ,
Từ nước mắt nhoà và từ bóng tối,
Những gương mặt bạn bè tôi dần hiện
Đẹp lạ lùng trước khoảnh khắc phôi pha.

1959


Giã từ (Прощание)

Và lời cuối hãy để cho tôi nói:
Giã từ thôi, anh chẳng phải cố yêu.
Tôi mất trí. Hoặc là tôi đang đến
Mức độ điên cao hơn thế rất nhiều.

Anh đã yêu thế nào? – hay anh nếm
Vị diệt vong. Nào chỉ thế thôi đâu.
Anh đã yêu thế nào? – hay anh chỉ
Hành hạ tôi. Anh mới vụng làm sao.

Thật nghiệt ngã … Vị sai lầm cay đắng
Làm sao tôi tha thứ nổi cho anh.
Thân tôi sống, mắt tôi còn thấy sáng
Nhưng trống không thể xác lạnh tanh.

Tay buông xuôi, dù mạch còn đập khẽ
Nơi thái dương dưới làn da trắng xanh.
Mọi cảm nhận màu sắc và mùi vị
Theo nhau rời tôi cùng những âm thanh.

1960

* Tykva dịch:
http://diendan.nuocnga.net/archive/index.php/t-74.html


* А напоследок я скажу (ПРОЩАНИЕ)- Valentina Ponomariova hát trong phin Bản tình ca nghiệt ngã:
http://www.youtube.com/watch?v=KL0KNYT5MQU


(cont.)
Đọc tiếp →