Bertrand Russell
Những yếu tố Đạo đức, của Bertrand Russell, đã được xuất bản lần đầu vào năm 1910, trong cuốn "Những tiểu luận triết học" của ông. (Nó được biên soạn từ một số bài báo trước đó của ông; ông mô tả nơi bắt nguồn của nó trong lời ghi chú mở đầu.) Ấn bản trực tuyến này dựa trên văn bản miền công cộng như nó xuất hiện trong ấn bản sách thường Routledge 1994 của lần tái bản Những tiểu luận triết học. (ISBN 0-415-10579-X).
Contents
I. The Subject-Matter of Ethics
II. The Meaning of Good and Bad
III. Right and Wrong
IV. Determinism and Morals
V. Egoism
VI. Methods of Estimating Goods and Evils
I. Chủ đề của Đạo đức học
"Những gì dưới đây dựa trên Principia Ethica của ông G.E. Moore ở mức độ lớn, mà người đọc được dẫn tới nó để có một sự thảo luận đầy đủ hơn. Phần I và II của tiểu luận dưới đây được in lại từ New Quarterly, tháng 2, 1910; phần III từ New Quarterly, tháng 5, 1910. phần 4 từ Hibbert Journal, tháng 10 1908; phần V và VI từ New Quarterly, tháng 9, 1910."
1. Nghiên cứu về Đạo đức học có lẽ được hình dung (conceived) phổ thông nhất như là liên quan đến những câu hỏi "Những loại hành vi nào con người phải thực hiện?" và "Những loại hành vi nào con người phải tránh?" Nó được hình dung, tức là nói rằng, như là phân giải (dealing with) hành xử của con người, và như là quyết định những gì là đức hạnh và những gì là tội lỗi giữa những kiểu tư cách (conduct) mà khi thực hành người ta được kêu gọi chọn lựa trong số chúng. Do quan điểm này về địa phận của đạo đức, nó đôi khi được xem như nghiên cứu thực hành, những nghiên cứu khác đối nghịch với nó được xem như lý thuyết; cái thiện hảo và cái chân thực đôi khi được nói tới như những vương quốc độc lập, cái trước thuộc về đạo đức học, trong khi cái sau thuộc về khoa học.
Quan điểm này, tuy nhiên, khiếm khuyết nước đôi. Đầu tiên, nó bỏ qua sự thực rằng mục tiêu của đạo đức học, theo những gì nó đề cập, là phải khám phá những mệnh đề chân thực về tư cách (conduct) đức hạnh và tư cách đồi bại, và rằng những mệnh đề này cũng là một phần của chân lý nhiều như những mệnh đề về khí oxy hay bảng cửu chương. Đích nhắm, là không có tính thực tiễn, mà là những mệnh đề về thực tiễn; và những mệnh đề về thực tiễn thì tự chúng không có tính thực tiễn hơn chút nào so với những mệnh đề về khí hay thể khí. Một người có thể cũng nhất quyết (maintain) rằng thực vật học là rau quả hay động vật học là thú vật. Do vậy, nghiên cứu về đạo đức học không là thứ gì đó bên ngoài khoa học và cộng tác với (coordinate with) khoa học: nó đơn thuần (merely) là một trong những khoa học.
2. Thứ hai, cái nhìn đang đề cập giới hạn quá thể địa phận của đạo đức học. Khi chúng ta được bảo rằng những hành vi thuộc những kiểu nhất định phải được thực hiện hay tránh khỏi, như là, đề ví dụ, chúng ta phải nói thật, hay như chúng ta phải không ăn cắp, chúng ta có thể luôn hỏi lý do một cách hợp lệ, và lý do này sẽ luôn luôn liên quan không chỉ đến chính những hành vi mà cũng đến tính tốt và tính xấu của những hệ quả chắc chắn (likely) dẫn tới từ những hành vi như thế. Chúng ta sẽ được bảo rằng việc nói thật phát sinh sự tin tưởng lẫn nhau, những tình bạn keo sơn, tạo điều kiện cho sự khẩn trương của công việc, và từ đây tăng trưởng sự giàu mạnh của xã hội mà thực hành nó, v.v.. Nếu chúng ta hỏi tại sao ta nên nhắm tới sự tin tưởng lẫn nhau, hay tình bạn keo sơn, ta có thể được bảo rằng những thứ này dễ thấy là tốt, hay rằng chúng dẫn đến hạnh phúc, và hạnh phúc thì tốt. Nếu ta vẫn hỏi tại sao, người có tính tình mộc mạc chắc chắn sẽ cảm thấy cáu kỉnh, và sẽ phản hồi rằng anh ta không biết. Sự cáu kỉnh của anh ta là do sự xung khắc của hai cảm nhận – một cái, rằng bất kỳ thứ gì đúng phải có một lý do; cái kia, rằng cái lý do anh ta đã đưa ra là dễ thấy đến mức chỉ là sinh sự để yêu cầu một lý do cho lý do đấy. Tại cái thứ hai trong những cảm nhận này anh ta có thể là đúng; tại cái thứ nhất, anh ta chắc chắn là sai. Trong đời thường, người ta chỉ hỏi tại sao khi họ không thấy thuyết phục. Nếu một lý do được đưa ra mà họ không nghi ngờ, họ thỏa mãn. Từ đây, khi họ đã hỏi tại sao, họ thường xuyên có một quyền lợi về luận lý (logic) để mong chờ một câu trả lời, và họ đi tới nghĩ rằng một niềm tin mà không có lý do nào cho nó được đưa ra là một niềm tin vô lý. Nhưng tại điều này họ bị nhầm lẫn, ngay khi (as) họ sẽ sớm phát hiện ra liệu có phải thói quen hỏi tại sao của họ đã là ngoan cố (persistent) hơn không.
Chính là công việc của triết gia để hỏi những lý do chừng nào những lý do có thể được yêu cầu một cách hợp lệ, và để ghi nhận những mệnh đề mà đưa ra những lý do tối hậu nhất có thể đạt đến. Bởi vì một mệnh đề có thể chỉ được chứng minh nhờ sử dụng đến (by means of) những mệnh đề khác, [cho nên] dễ thấy rằng không phải tất cả mệnh đề có thể được chứng minh, bởi vì chứng minh có thể chỉ bắt đầu bằng việc giả định thứ gì đó. Và bởi vì những hệ quả không có sự chắc chắn hơn những tiền đề của chúng, [cho nên] những sự thể được chứng minh là không chẳc chắn hơn những sự thể được chấp nhận chỉ bởi chúng là dễ thấy, và khi đó được làm thành cơ sở cho những chứng minh của chúng ta. Do vậy trong trường hợp của đạo đức học, chúng ta phải hỏi tạo sao những hành vi thế nọ thế kia phải được thực hiện, và tiếp tục cuộc điều tra ngược lại để có những lý do cho tới khi ta với tới một loại những mệnh đề mà sự chứng minh chúng là bất khả, bởi vì nó quá đơn giản hay quá dễ thấy đến mức không thứ gì cơ bản hơn có thể được tìm thấy mà từ đó suy diễn (deduce) ra nó.
3. Bây giờ khi chúng ta hỏi những lý do ủng hộ cho những hành động các nhà đạo đức khuyến nghị (recommend), những lý do thường xuyên là do những hệ quả của hành động chắc chắn (likely) là tốt, hoặc nếu không hoàn toàn tốt lành thì ít ra cũng khả hữu nhất theo hoàn cảnh cho phép. Từ đây tất cả câu hỏi về tư cách thì giả định trước sự quyết định về những sự thể nào đó khác với tư cách là tốt và những gì là xấu. Những gì được gọi là tư cách tốt đẹp là tư cách như một phương tiện hướng tới những sự thể khác tốt đẹp tự thân (on their own account), và từ đây nghiên cứu về những gì là tốt lành tự thân là thiết yếu trước khi chúng ta có thể phân định những quy định (rules) về tư cách. Và nghiên cứu về những gì là tốt hay xấu tự thân phải được bao hàm trong đạo đức học, do vậy nó ngừng liên quan chỉ đến tư cách của con người.
Bước mở đầu trong đạo đức học, theo đó, là hoàn toàn rõ ràng về những gì chúng ta hàm nghĩa với tốt đẹp hay xấu xa. Chỉ khi đó chúng ta có thể trở lại với tư cách, và hỏi bằng cách nào tư cách chính trực liên hệ đến sự tạo ra điều tốt và sự tránh khỏi điều tội lỗi. Tại đấy, như ở mọi điều tra triết học, sau một sự phân tích ban đầu về những dữ liệu phức tạp chúng ta tiến hành một lần nữa xây dựng những sự thể phức tạp từ những thành tố đơn giản hơn, bắt đầu từ những ý tưởng chúng ta hiểu dù không thể định nghĩa chúng và từ những tiền đề chúng ta biết dù không thể chứng minh chúng. Sự xuất hiện của giáo điều trong quy trình này là nhầm lẫn, bởi những tiền đề là những thứ như lập luận thông thường giả định một cách vô thức, và trong việc tin tưởng chúng sau một khảo sát nghiêm khắc thì có ít tính giáo điều thực sự hơn là trong việc sử dụng chúng hoàn toàn (implicitly) mà không hề thẩm tra.
(tạm dịch hết chương I)
* Nguồn: http://fair-use.org/bertrand-russell/the-elements-of-ethics/ Đọc tiếp →
