Thứ Tư, 22 tháng 9, 2010
Cảm xúc sáng tác nên (kỳ bốn)
炎邦何事久紛紛
半是天行半是人
只識五胡能亂晉
寧知三戶可亡秦
奉圭獻幣徒多事
擊楫揮戈幾個臣
可怪衣冠文物地
而今胡服已成群
阮春溫
Cảm tác kỳ tứ
Viêm Bang hà sự cửu phân phân
Bán thị thiên hành bán thị nhân
Chỉ thức ngũ Hồ năng loạn Tấn
Ninh tri tam hộ khả vong Tần
Phụng khuê hiến tệ đồ đa sự
Kích tiếp huy qua kỷ cá thần
Khả quái y quan văn vật địa
Nhi kim Hồ phục dĩ thành quần
Nguyễn Xuân Ôn
(Bản dịch sắp có...)
-----------------------
Bản Hán do Leopard tự gõ (có trợ giúp của TĐVH):
01. Âm "phân":
分: bộ đao 刀
雰: bộ vũ 雨
紛: bộ mịch 糸 (# bộ mịch 冖 )
02. Âm "cảm":
敢: bộ phác (phốc) 攴
感: bộ tâm 心 Đọc tiếp →
Thứ Bảy, 28 tháng 8, 2010
Diễn ngôn/ngôn từ, hành động/hành vi?

When it was announced that Octavio Paz was awarded the Nobel Prize in Literature (October 11, 1990), the Press Release quoted Paz's view of poetry: "Between what I see and what I say, / between what I say and what I keep silent, / between what I keep silent and what I dream, / between what I dream and what I forget: / poetry." I was overwhelmed by these words and headed immediately to the library to find the entire poem. When I discovered it in Paz's book of poems A Tree Within, I typed it out and read it over and over again. When I taught kids in the California-Poets-in-th-Schools program, my first workshop handout was "What Is Poetry?" I'd include Paz's poem along with the vision of poetry by Shakespeare, Dante, Goethe, and Emily Dickinson. What I like about Paz's idea of poetry is that it is not fixed and quite elusive— between yes & no, between silence & speech, between what is & what is not. Isn't this the dilemma of Hamlet— "To be or not to be. That is the question." I love the closing of stanza 2— "Eyes close, / the words open." It echoes Emily Dickinson's Poem #1212— A word is dead / When it is said, / Some say. / I say it just / Begins to live / That day." Yes, how true! The poet's words never die on the page, but lives on in the hearts of its readers— opening our minds to new vistas of the universe. (Peter Y. Chou)
Between What I See and What I Say... (1976)
for Roman Jakobson
1
Between what I see and what I say,
Between what I say and what I keep silent,
Between what I keep silent and what I dream,
Between what I dream and what I forget:
poetry.
It slips
between yes and no,
says
what I keep silent,
keeps silent
what I say,
dreams
what I forget.
It is not speech:
it is an act.
It is an act
of speech.
Poetry
speaks and listens:
it is real.
And as soon as I say
it is real,
it vanishes.
Is it then more real?
2
Tangible idea,
intangible
word:
poetry
comes and goes
between what is
and what is not.
It weaves
and unweaves reflections.
Poetry
scatters eyes on a page,
scatters words on our eyes.
Eyes speak,
words look,
looks think.
To hear
thoughts,
see
what we say,
touch
the body of an idea.
Eyes close,
the words open.
— Octavio Paz (1914-1998),
"Between What I See and What I Say..."
A Tree Within, (Poems 1976-1987)
XXX
*Source: http://www.wisdomportal.com/PoetryAnthology/OctavioPaz-Anthology.html
---------------------------
Decir, Hacer - Octavio Paz
A Roman Jakobson
Entre lo que veo y digo,
Entre lo que digo y callo,
Entre lo que callo y sueño,
Entre lo que sueño y olvido
La poesía.
Se desliza entre el sí y el no:
dice
lo que callo,
calla
lo que digo,
sueña
lo que olvido.
No es un decir:
es un hacer.
Es un hacer
que es un decir.
La poesía
se dice y se oye:
es real.
Y apenas digo
es real,
se disipa.
¿Así es más real?
Idea palpable,
palabra
impalpable:
la poesía
va y viene
entre lo que es
y lo que no es.
Teje reflejos
y los desteje.
La poesía
siembra ojos en las páginas
siembra palabras en los ojos.
Los ojos hablan
las palabras miran,
las miradas piensan.
Oír
los pensamientos,
ver
lo que decimos
tocar
el cuerpo
de la idea.
Los ojos
se cierran
Las palabras se abren.
---------------------------------
* Act/action/deed/ behavior:
http://figureground.ca/2010/01/22/intentionality-and-action/
http://books.google.com.vn/books?id=0SWWAOazlRUC&pg=PA9&lpg=PA9&dq=%22difference+between+action+and+act%22&source=bl&ots=A_b7sAJiH0&sig=cnwKz-NKQBtZbJOKZRtnUx11JtA&hl=vi&ei=yZl6TLaOGs_JcaegmfIF&sa=X&oi=book_result&ct=result&resnum=1&ved=0CBQQ6AEwAA
* Talk/speech/discourse:
... Đọc tiếp →
Thứ Tư, 18 tháng 8, 2010
My back pages
Crimson flames tied through my ears, throwing high and mighty traps
Countless fire and flaming road, using ideas as my maps.
"We'll meet on edges, soon," said I, proud ‘neath heated brow.
Ah, but I was so much older then, I'm younger than that now.
Half-wracked prejudice leaped forth, "Rip down all hate," I screamed.
Lies that life is black and white spoke from my skull, I dreamed.
Romantic facts of musketeers, foundation deep, somehow.
Ah, but I was so much older then, I'm younger than that now.
Girls' faces formed the forward path from phony jealousy
To memorizing politics of ancient history
Flung down by corpse evangelists, unthought of, though, somehow.
Ah, but I was so much older then, I'm younger than that now.
A self-ordained professor's tongue, too serious to fool
Spouted out that liberty is just equality in school
"Equality," I spoke the word as if a wedding vow
Ah, but I was so much older then, I'm younger than that now.
In a soldier's stance, I aimed my hand at the mongrel dogs who teach,
Fearing not I'd become my enemy in the instant that I preach.
My pathway led by confusion boats, mutiny from stern to bow.
Ah, but I was so much older then, I'm younger than that now.
My guard stood hard when abstract threats, too noble to neglect,
Deceived me into thinking I had something to protect.
Good and bad, I define these terms, quite clear, no doubt, somehow.
Ah, but I was so much older then, I'm younger than that now.
Bob Dylan
"... Tấm chắn của tôi đã vẫn cứng cáp khi những lời cảnh báo trừu tượng,
Quá cao nhã để bỏ qua,
Lừa tôi nghĩ rằng tôi có điều gì đó để bảo vệ.
Tốt và xấu, tôi định nghĩa những thuật ngữ này,
Khá rõ, không nghi ngờ, cách nào đó.
Chao ôi, nhưng tôi đã quá già hơn khi đó, bây giờ tôi trẻ hơn rồi."
-----------------
I was always embarrassed by the words sacred, glorious, and sacrifice and the expression in vain. We had heard them, sometimes standing in the rain almost out of earshot, so that only the shouted words came through and had read them, on proclamations that were slapped up by billposters over other proclamations, now for a long time, and I had seen nothing sacred, and the things that were glorious had no glory and the sacrifices were like the stockyards at Chicago if nothing was done with the meat except to bury it. There were many words that you could not stand to hear and finally only the names of places had dignity. Certain numbers were the same way and certain dates and these with the names of the places were all you could say and have them mean anything. Abstract words such as glory, honor, courage or hallow were obscene beside the concrete names of villages, the numbers of roads, the name of rivers, the numbers of regiments and the dates.
(Ernest Hemingway, In A Farewell to Arms)
"... Có nhiều ngôn từ mà bạn đã ko thể tiếp tục nghe nổi và sau hết chỉ tên gọi của nơi chốn là có phẩm giá. Những con số nhất định đã theo cùng một cách đó cùng với những ngày tháng nhất định, và những thứ này với tên gọi nơi chốn đã là tất cả những thứ bạn có thể nói tới và cho chúng ý nghĩa nào đó. Những ngôn từ trừu tượng như là vinh quang, danh dự, lòng can đảm, hay thiêng liêng đã là thô bỉ bên cạnh tên gọi cụ thể của làng mạc, số ghi đường xá, tên gọi sông ngòi, số ghi của các trung đoàn và ngày tháng."
Đọc tiếp →
Thứ Tư, 9 tháng 6, 2010
Người đào hát ở Đằng Châu tên là Phú Nhi muốn xin thơ, nhân viết tặng
Cổ nhân bất thức kim nhân hận,
Tài đáo thương ly thuyết tận tình.
Minh nhật dục từ Nam phố đạo,
Hà nhân cánh xướng Bắc cung thanh?
Hàn y cô quán phong sương thiểu,
Vụ hợp thâm thôn trúc thụ bình.
Tiếu sát Tầm Dương tuý Tư Mã,
Thanh sam hà lệ sự tung hoành?
Cao Bá Quát
Người đào hát ở Đằng Châu tên là Phú Nhi muốn xin thơ, nhân viết tặng
Người trước biết đâu hận người nay
Mới buồn ly biệt đã than dầy
Phố Nam ngày tới rời chân vội
Cung Bắc ai còn xướng giọng thay
Áo lạnh quán đơn sương gió ngớt
Trời mù thôn thẳm cỏ cây bày
Tầm Dương cười ngất chàng Tư Mã
Khăn áo lệ dàn phải rượu say
Leopard dịch.
* Ghi chú của A2Z:
Trong Cao Bá Quát - Danh nhân truyện ký của Trúc Khê có tên là Đề đào nương xá (Đề nhà ả đào), còn trong Thơ văn Cao Bá Quát của Nhà xuất bản Văn học thì có tên là Đằng Châu ca giả Phú Nhi ký hữu sở dữ, thư dĩ tặng chi (Người đào hát ở Đằng Châu tên là Phú Nhi muốn xin thơ, nhân viết tặng).
------------------
滕州歌賈富兒寄有所與書以贈之
古人不識今人恨
纔到傷離說盡情
明日欲辭南浦道
何人更唱北宮聲
寒衣孤館風霜少
霧合深村竹樹平
笑殺潯陽醉司馬
青衫何淚事縱橫
高伯适
* Cao Bá Quát 高伯适 (1809?-1855) tự Chu Thần 周臣 sinh tại Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội, mất giữa trận tiền Quốc Oai trong cuộc khởi nghĩa chống triều đình thời Tự Đức... Tự Đức tru di ba họ Cao Bá Quát, thu hồi tiêu hủy văn chương ông. Nhưng ông được lòng dân bảo vệ: một rừng truyền thuyết ca ngợi tài thơ, lòng dũng cảm, trí thông minh và tinh thần thương dân yêu nước của ông. Tác phẩm của ông còn được lưu đến nay là 1353 bài thơ, 21 bài văn xuôi, một số bài ca trù và khá nhiều câu đối...
http://www.thivien.net/viewauthor.php?ID=249 Đọc tiếp →
Thứ Ba, 20 tháng 4, 2010
Danh sách blog
(http://blogdonga.blogspot.com/)
Miễn bình luận.
Rem: http://1851872.blogspot.com/
Miễn bình luận.
Phi Long và đồng đội: http://philong58.blogspot.com/
Miễn bình luận.
Blog của Dương Danh Huy: Xxx
Xem bác này bên TLW, hâm mộ vãi. Xong lâu không theo dõi, giờ đến cái web cũng quên mất tiêu.
Thích Học Toán (Ngô Bảo Châu): http://thichhoctoan.wordpress.com/
Xem kiểu cưỡi ngựa xem hoa.
Blog Khoa Học Máy Tính: http://www.procul.org/blog
(Ngô Quốc Hưng: http://www.cse.buffalo.edu/~hungngo/vietnamese.html)
Xem kiểu cưỡi ngựa xem hoa.
Trang của Trần Hữu Dũng: http://www.viet-studies.info/kinhte/kinhte.htm
Người nổi tiếng... Lưu trữ nhiều tư liệu, hay nhất là về cụ Phan Khôi.
Trang của Đàm Thanh Sơn: http://damtson.wordpress.com/
Như người nổi tiếng nốt.
tuan's blog (Nguyễn Văn Tuấn): http://tuanvannguyen.blogspot.com/
Mới tìm hiểu. Viết nhìu quá, bét nhè chè Thái Nguyên.
Vìu: http://vietidea.blogspot.com/
Mới xem. Hình như cũng có tiếng.
-----------------------
Các trang dưới cũng miễn bình luận... Một số còn chả nhớ ra là ai. :)
Sonata: http://sonatan05.blogspot.com/
Lilia: http://liliapl.blogspot.com/
Lestat: http://vinhattieu.wordpress.com/
Hoang Yen: http://hoangyen-hy.blogspot.com/
Khuê Việt: http://khueviet.blogspot.com/
Goldmund: http://lamvuthao.blogspot.com/
Marcus: http://marcuscello.blogspot.com/
Everywhere Land: http://everywhereland.blogspot.com/
(Tho dich Vũ Hoàng Linh: http://thocanuocngoai.blogspot.com/)
Nhị Linh: http://nhilinhblog.blogspot.com/
Hải Ngọc: http://hieutn1979.blogspot.com/
Tung H: http://loanhquanh.blogspot.com/
Kazenka: http://kazenka.blogspot.com/
Mr. Do: http://blogmrdo.blogspot.com/
Huy Bom: http://huyminh.wordpress.com/
5xu: http://5xublog.wordpress.com/
Binh Minh:http://vn.myblog.yahoo.com/tuongbminh
Neo: http://neonumbertwo.wordpress.com/feed/
Chu Nam Cuong: http://chunamcuong.blogspot.com/
Tuduy's Blog: http://tuduy.wordpress.com/
Daysss: http://daysss.wordpress.com/
Hiep: http://hiep1980.wordpress.com/
Tequilla: http://teq316.wordpress.com/
Grassie's Recycle Bin http://grassiee.blogspot.com/
(the long and winding road: http://grassiee.wordpress.com/)
I like nice life: http://i-like-nice-life.blogspot.com/
Persuasive Writing: http://wordsofemerson.blogspot.com/
Every Bob Dylan Song: http://everybobdylansong.blogspot.com/
Global rock legends of the '60s and '70s: http://globalrocklegends.blogspot.com/
Tom the Piper's Son: http://tomclohessy.blogspot.com/
Music Saves Lives: http://vlasdance.blogspot.com/
Just A Song: http://justasong2.blogspot.com/
And a bit more… hí hí Đọc tiếp →
Thứ Năm, 15 tháng 4, 2010
Sonnet II
Nhà thơ nhìn về phía trước thời gian khi tuổi trẻ sẽ già đi và dùng diều này như một suy luận để thúc đẩy anh đừng lãng phí thời gian, và có một đứa trẻ để sao chép và bảo tồn vẻ đẹp của anh. Hình ảnh của việc già đi được dùng như một cuộc chiến vây hãm, 40 mùa đông là đội quân bủa vây, mà đào những rãnh hào trên những cánh đồng trước thành phố bị đe dọa. Những rãnh hào tương ứng với những rãnh ruộng và những đường nhăn sẽ in vào trán người thanh niên ngay khi anh ta già. Anh ta được nài là đừng vứt bỏ tất cả vẻ đẹp của anh bằng việc dâng mình cho sự tận hưởng riêng, mà có con trẻ, do đó làm thoả mãn thế giới, và Tự nhiên, cái sẽ giữ một lý do cho những gì anh ta đã làm với cuộc đời mình.
1.When forty winters shall besiege thy brow,
Khi bốn mươi mùa đông sẽ bủa vây trán ngươi,
2. And dig deep trenches in thy beauty's field,
Và đào những rãnh sâu trên cánh đồng vẻ đẹp ngươi,
3. Thy youth's proud livery so gazed on now,
Chế phục tự hào của tuổi trẻ ngươi được chú mục lúc này,
4. Will be a totter'd weed of small worth held:
Sẽ là một bộ cánh rách rưới ít giá trị được giữ:
5. Then being asked, where all thy beauty lies,
Khi đó được hỏi, đâu là nơi mọi vẻ đẹp của ngươi nằm lại,
6. Where all the treasure of thy lusty days;
Đâu là nơi mọi châu báu của những ngày cường tráng của ngươi;
7. To say, within thine own deep sunken eyes,
Đáp rằng, trong đôi mắt trũng sâu của riêng ngươi,
8. Were an all-eating shame, and thriftless praise.
Là một nỗi xấu hổ ăn cạn, và sự ngợi ca vô ích.
9. How much more praise deserv'd thy beauty's use,
Bao nhiêu ngợi ca cho đáng sự sử dụng vẻ đẹp của ngươi,
10. If thou couldst answer 'This fair child of mine
Nếu ngươi có thể đáp rằng 'Đứa trẻ đẹp đẽ này của tôi
11. Shall sum my count, and make my old excuse,'
Sẽ tính kết quả của tôi, và làm ra sự bào chữa tuổi già của tôi,'
12. Proving his beauty by succession thine!
Chứng minh vẻ đẹp của anh ta là thành công của ngươi
13. This were to be new made when thou art old,
Điều này là sự làm mới khi ngươi già
14. And see thy blood warm when thou feel'st it cold.
Và thấy máu của ngươi ấm áp khi ngươi cảm thấy nó lạnh đi.
* Link Sonnets (Explained) Book
* http://www.shakespeares-sonnets.com/iicomm.htm Đọc tiếp →
Sonnet I
Như là son nét mở đầu theo trình tự, cái này dễ thấy có một tầm quan trọng đặc biệt. Nó xuất hiện để nhìn cả trước và sau, về tương lai và quá khứ... Nó đặt ra một giọng cho nhóm sau đấy cái gọi là các son nét 'sinh sôi' 1 -17. Thêm nữa, nhiều ý tưởng hấp dẫn của những bài son nét sau đó được phác hoạ đầu tiên từ đây - vẻ đẹp của người thanh niên, tính dễ tổn thương của khi đối diện với những quá trình tàn nhẫn của thời gian, tiềm lực của anh ta để gây hại tới thế giới và tới chính anh ta, (có lẽ cũng tới những người yêu của anh), vẻ đẹp của tự nhiên mà là buồn tẻ trong sự so sánh với vẻ đẹp của anh, sự đe doạ của bệnh tật và lở loét, sự điên rồ của những hiện hữu bủn xỉn, nhu cầu để thấy thế giới trong một ý nghĩa rộng hơn cái nhìn giới hạn của một người.
'Fair youth, be not churlish, be not self-centred, but go forth and fill the world with images of yourself, with heirs to replace you. Because of your beauty you owe the world a recompense, which now you are devouring as if you were an enemy to yourself. Take pity on the world, and do not, in utter selfish miserliness, allow yourself to become a perverted and self destructive object who eats up his own posterity'.
Tuổi trẻ đúng đắn, không hạ đẳng, không xem mình là trung tâm mà tiến lên và làm đầy thế giới bằng những hình ảnh của chính bạn, bằng những người kế tục thay thế bạn. Bởi vẻ đẹp của bạn, bạn nợ thế giới một báo đền, thứ lúc này bạn đang ngấu nghiến như thể bạn là kẻ thù của chính mình. Hãy thương tiếc thế giới và đừng bằng sự keo kiệt ích kỉ tuyệt đối mà cho phép mình trở thành một đối tượng lầm lạc và tự huỷ hoại, kẻ ngốn hết cả hậu thế của riêng mình.
I
1. From fairest creatures we desire increase,
Ta khao khát sự sinh sôi từ những tạo vật đẹp đẽ nhất
2. That thereby beauty's rose might never die,
Mà theo đó bông hồng của cái đẹp có lẽ không bao giờ chết
3. But as the riper should by time decease,
Nhưng như kẻ chín muồi sẽ đúng thời điểm chết đi
4. His tender heir might bear his memory:
Kẻ thừa kế trẻ trung của hắn có lẽ mang ký ức của hắn:
5. But thou contracted to thine own bright eyes,
Nhưng ngươi giao ước với đôi mắt đẹp của riêng ngươi,
6. Feed'st thy light's flame with self-substantial fuel,
Hãy nuôi sống ngọn lửa ánh sáng của ngươi bằng nhiên liệu tự thực thể ngươi
7. Making a famine where abundance lies,
Và làm ra một sự khan hiếm ở nơi vốn dồi dào
8. Thy self thy foe, to thy sweet self too cruel:
Cái tôi của ngươi là kẻ thù của ngươi, quá tàn nhẫn với cái tôi tươi trẻ của ngươi
9. Thou that art now the world's fresh ornament,
Ngươi giờ là vật trang hoàng tươi mới của thế giới
10. And only herald to the gaudy spring,
Và sứ giả duy nhất về mùa xuân sặc sỡ
11. Within thine own bud buriest thy content,
Ở trong mầm sống riêng của ngươi chôn bản thể của ngươi
12. And, tender churl, mak'st waste in niggarding:
Và, kẻ quê mùa đáng yêu, hãy lãng phí một cách dè xẻn
13. Pity the world, or else this glutton be,
Nuối tiếc thế giới, hoặc là thành kẻ háu ăn
14. To eat the world's due, by the grave and thee.
Để ăn quyền lợi của thế giới, bằng nấm mộ và ngươi.
3. riper = older, more mature, (person, plant, thing) more ready for harvesting.
8. Thy self thy foe = being an enemy to yourself.
11. content = substance. Also, probably, pleasure. GBE suggests that content also = semen, and probably there is here a secondary meaning of masturbation, self-pleasure, as opposed to the pleasure of procreation. SB mentions that Shakespeare exploits the possibility that rosebuds were phallic in appearance. (p.324. note to 12-13). Content(s) even today has the double meaning of a) happiness, pleasure, and b) that which is contained in something.
12. tender churl - probably a phrase indicating affection, rather than criticism, rather like 'silly fool', or 'yer daft idiot'. The context makes all the difference to such forms, which spoken angrily can be insulting, spoken tenderly are terms of endearment. churl countryman, rustic;
14. by the grave and thee. Presumably, a duty owed to the world because the grave is all devouring, and therefore to be fought; and a duty owed also to yourself, because it is in the nature of things that beauty should procreate, otherwise 'three score years will bear the world away', and so on. You purpose to be such a glutton as to consume both what the world and you yourself should have as a right. The construction is not noticeably opaque until one starts to analyse it.
* http://www.shakespeares-sonnets.com/icomm.htm Đọc tiếp →
Mama You've Been On My Mind
An' cov'rin' the crossroads I'm standing at,
Or maybe it's the weather or something like that,
But Mama, you been on my mind.
Có lẽ đấy là màu sắc của mặt trời bị cắt ra
Và trùm lên ngã tư mà tôi đang đứng đó
Hay có lẽ đấy là thời tiết hay thứ gì như thế
Nhưng, Mama, em từng ở trong tâm trí của tôi
I don't mean trouble, please don't put me down, don’t get upset,
I am not pleading or saying that "I can't forget you."
I do not pace the floor bowed down and bent, but yet,
Mama, you been on my mind.
Tôi không có ý làm phiền, đừng hạ thấp tôi hay cáu kỉnh,
Tôi đang không nài xin hay nói rằng, "Tôi không thể quên em"
Tôi không đi lại trong phòng, cúi mình và khuất phục/quỵ luỵ,
Mama, em từng ở trong tâm trí của tôi.
Even though my eyes are hazy and my thoughts they might be narrow,
Where you been don't bother me or bring me down in sorrow.
I don't even mind who you'll be waking with tomorrow,
Mama, you're just on my mind.
Cho dù tâm trí tôi mịt mờ và suy nghĩ của tôi có lẽ là hạn hẹp,
Nơi đâu em từng ở không làm phiền tôi hay mang tôi đến sự buồn sầu.
Tôi thậm chí không bận tâm sáng mai em thức dậy cùng ai,
Mama, em mới đây còn trong tâm trí của tôi.
I am not askin' you to say words like "yes" or "no,"
Please understand me, I have no place I’m callin’ you to go.
I'm just whispering to myself so I can't pretend that I don't know,
Mama, you been on my mind.
Tôi đang không hỏi em để nói những từ như "có" hay "không",
Hãy hiểu tôi, tôi không có nơi nào để gọi em đi.
Tôi chỉ nói thầm với mình rằng tôi không thể vờ là tôi không biết,
Mama, em từng ở trong tâm trí của tôi.
When you wake up in the mornin', baby, look inside your mirror,
You know I won't be next to you, you know I won't be near.
I'd just be curious to know if you can see yourself as clear
As someone who has had you on his mind.
Khi em thức dậy vào buổi sáng, em yêu, hãy nhìn vào trong tấm gương của em
Em biết tôi sẽ không kế bên em, em biết tôi sẽ không gần đấy.
Tôi chỉ muốn biết rằng liệu em có thấy mình trong sạch
Như ai đó từng có em trong tâm trí của mình.
* Bob Dylan's hit:
* Jeft Buckley's hit:
http://www.youtube.com/watch?v=KyJLpEs5jGI
* Download mp3:
http://www.strangerdance.com/cover-project-mama-you-been-on-my-mind-dylan-beatles-johnny-cash-buckley/
. Đọc tiếp →
Chủ Nhật, 14 tháng 2, 2010
Chủ Nhật, 4 tháng 10, 2009
Briefly on quantum mechanics and dialectics
Briefly on quantum mechanics and dialectics
Remarks on quantum mechanics
by Phil, Seattle (from Communist Voice #21, August 15, 1999)
Joseph yêu dấu,
Bạn đề nghị tôi nói chiện với bạn về điều tôi nghĩ về Cơ Lượng Tử (QM) và bản phân tích "non-standard' của bạn. Trong bài báo gần đây của bạn trong CV (1), bạn bình luận về những cố gắng của những nhà vật lý đầu thế kỷ 20 để tạo ra một triết học dựa trên lý thuyết lượng tử, và cách họ đã thường xuyên viện đến chủ nghĩa duy tâm để làm điều này. Một thời gian lâu trước đây, tôi đã đọc một cuốn sách của Werner Heisenberg (về nguyên lý Bất định danh tiếng) có tên là "Triết học và Vật lý", trong đó ông ta đã có sải những bước rất xa để bác bỏ chủ nghĩa duy vật đơn giản và giải thích cách thông dịch về QM của trường phái Copenhagen là cách thông dịch duy nhất có thể. Ti nhiên, tôi ko tin ông ta đã bác bỏ tất cả định dạng của chủ nghĩa duy vật, bởi vì ông ta ko có khái niệm về biện chứng và thứ duy nhất được gọi là "biện chứng duy vật" mà ông ta đã đối phó với hai nhà khoa học Xô-Viết, Blochinzev và Alexandrov, những người trích dẫn Lenin và cố gắng tái công thức hoá QM theo một cách không ảnh hýởng đến khái biệm về chủ nghĩa duy vật của họ. Nhý thế, họ phải trục xuất người quan sát khỏi bất kỳ vai trò nào trong thí nghiệm - một khái niệm tôi nghĩ là là trệch khỏi tiêu điểm của QM và dẫn đến một khái niệm sai trái về chủ nghĩa duy vật khá nhiều.
Sự quan sát chỉ một hành vi phàm tục, không phải của tâm trí. Trong thế giới vật lý vĩ mô, phát ngôn này dường như có ít tác động thực tiễn, nhưng trong thế giới vật lý vi mô tác động của nó là sâu xa. Khi tôi tham gia vào một phép đo vật lý, tôi đang sử dụng phương tiện vật chất để nhận thức những thực kiện vật chất, và phản ứng của thiết bị vật chất mà tôi dùng để đo với đối tượng trong phép đo của tôi là bản chất của phép đo. Thông thường (trong thế giới vật lý vĩ mô) những yếu tố của phản ứng này hiện diện trong hệ thống đýợc quan sát, bất kể sự có mặt hay vắng mặt của người quan sát, và sự đưa người quan sát vào hệ thống tạo thành một nhiễu loạn vi phân mà kết quả của nó đýợc bao hàm trong khung sai số của quan sát. Thế giới vật lý vi mô không có điều này. Sự có mặt của ngýời quan sát tại đó là sự thay đổi chính của hệ thống trong quan sát, bởi vì anh ta phải đưa vào những yếu tố mà không ở đó trong điều kiện bình thường, và chúng được bao hàm cho mục đích rõ ràng của sự thực hiện quan sát. Hơn thế, những thuật ngữ dùng để mô tả tương tác cần được bổ nghĩa - trong thế giới vật lý vĩ mô sự khác biệt giữa "hạt" và "sóng" là rõ ràng và riêng biệt, trong khi với thế giới vật lý vi mô hai thuật ngữ này lỏng lẻo về tính chất riêng của chúng. Một hạt là một khối lượng-điểm, bán kính và các kích thước vật lý của nó không đồng cỡ với khung hoạt động của chúng - nó hoàn toàn đàn hồi và hầu như giới hạn về phạm vi. Một sóng, mặt khác, có tính chất khuyếch tán, với những đường biên bất định và các kích cỡ vật lý mà có lẽ tương tác với môi trường quanh nó. Trong thế giới vật lý vi mô, hai thứ đối lập này hình thành một thể thống nhất - chúng bổ sung cho nhau hơn là xung đột. Do đó, chúng cũng có cùng những khái niệm như ngẫu nhiên và chắc chắn (chance & certainty), hỗn loạn và nhân quả, kế tiếp và đồng thời, không và thời gian.
Điều này có làm hại tới tính khách quan của khoa học không? Không nó hoản toàn bắt chúng ta tái công thức hoá tính khách quan mà tự nhiên hay thế giới vật chất đã mang đến cho chúng ta, hơn là áp đặt cho nó những điều trong đầu chúng ta. "Paradigm shift" (được diễn tả bởi Kuhn) có lẽ chỉ dẫn tính tương đối của thuật ngữ khoa học hoặc chỉ dẫn tính bất tương xứng của thuật ngữ khoa học và nhu cầu phát triển một tập hợp các thuật ngữ tốt hơn, chính xác hõn căn cứ vào tính hiện thực của thế giới hơn là khái niệm của chúng ta về nó.
Tôi đánh giá cao sự thảo luận về những ý tưởng nói trên.
. Revolutionary regards,
. Phil, Seattle.
------------------------------------
Response by Joseph Green, June 12, 1999
Phil,
Cảm ơn những lời nhận xét về QM. Bạn đóng đinh vào đầu mình với ghi chú "Sự quan sát chỉ một hành vi phàm tục, không phải của tâm trí" và "và phản ứng của thiết bị vật chất mà tôi dùng để đo với đối tượng trong phép đo của tôi là bản chất của phép đo". Sự thông dịch của những người duy tâm là ý thức của người quan sát đã làm thay đổi tình huống vật lý và tạo ra "sự co của hàm sóng", nhưng thực sự nó là một tương tác vật lý giữa hai thực thể vật chất và chúng đã làm cái điều đấy. Chúng ta có lẽ sử dụng một trong những thực thể đấy (như dòng photon/tia sáng) để tạo ra một quan sát lên chùm electron, nhưng nó không liên hệ với tương tác vật lý dù chúng ta làm photon xuất hiện (dù thứ nào khác làm), dù chúng ta đang dùng photon để tiến hành phép đo, hoặc dù chúng ta ý thức về những kết quả của quan sát. Tất cả vật chất là photon ở đấy, và đang tương tác với chùm electron.
Vấn đề về ý thức của chúng ta có chăng dẫn tới sự co của hàm sóng hay một tương tác vật chất, như bạn chỉ ra, là vấn đề của duy tâm với duy vật. (Nó có thể thành sự ngu dốt siêu nghiệm trong luận chiến giữa các nhà vật lý, xem nó nhý một vấn đề của "thuyết bất khả tri" [tham chiếu tới một thành phần thứ ba đề cập tiếp theo - JG]). Nếu như có nghi ngờ về các tương tác vật lý hay ý thức có hay không dẫn tới sự co của hàm sóng, nó dường nhý có thể được giải quyết bằng thực nghiệm. (Thí nghiệm hai khe nổi tiếng có thể được thực hiện theo cách nhý thế - Nó có thể đã xảy ra? - hãy xem những tương tác của photon và chùm electron có hay không thay đổi cách electron hoạt động, hay sự quan sát của chúng ta có hay không dẫn tới týõng tác của photon và chùm electron).
Một khía cạnh thú vị khác của vấn đề này, đó là có một số cuộc luận chiến giữa các nhà vật lý rằng các prôton có thể chăng được "quan sát" bằng các neutron trong hạt nhân (đây rõ ràng là một "quan sát"độc lập với ý thức con người). Vấn đề là tại sao những proton bên trong hạt nhân nguyên tử là bền - tại sao chúng không phân rã? Các nhà vật lý nào đó đã đưa ra lý do là chúng bị xô đẩy liên tục bởi các neutron, theo cách đó các neutron quan sát xem chúng có tồn tại hay không. Kết quả là sự co tức khắc của hàm sóng. Sự co bất biến này của hàm sóng không cho hàm sóng của proton có đủ thời gian để tiến đến điểm mà nó có thể phân rã. Sự thông dịch này không được toàn thể tán thành, và bị từ chối bởi các nhà vật lý khác. Nhưng nó chỉ ra ý tưởng về những quan sát được xem xét rõ ràng như một tương tác vật chất, độc lập với ý thức, cuối cùng có lẽ khiến nó có ảnh hưởng trong vật lý. (Xem David Wick, The Infamous Boundary, pp. 168-170. tác giả không có khái niệm về biện chứng, nhưng anh ta đã thực sự tranh luận một số thứ có ích.)
Tôi khá thích tranh luận của bạn về nỗ lực tái công thức hoá QM của Blochinzev và Alexandrov, tại điểm bạn chỉ ra họ đã không hiểu đúng đắn về chủ nghĩa duy vật. Điều này dường nhý là một trong những ví dụ sớm về những nỗ lực liên tiếp tái công thức hoá QM trái với niềm tin là cần bảo toàn QM. (Vấn đề này, dĩ nhiên, không hẳn là có sự cấm đoán những cố gắng tái thông dịch QM, mà là các nhà vật lý tin rằng nó bị đòi hỏi bởi chủ nghĩa duy vật.) Theo cách đó, khi bạn nói rằng "Họ phải loại bỏ ngýời quan sát khỏi bất kỳ vai trò nào trong thí nghiệm", điều này có phải có ý là họ bị bối rối bởi hiên tượng "sự co của hàm sóng", có phải không thể xem xét bất kỳ sự lựa chọn nào về cách thông dịch của những nhà duy tâm, và do đó tin tưởng rằng họ phải tái công thức hoá QM để tránh việc trước đấy?
Như tôi hiểu, cách tiếp cận của bạn với sự thông dịch Copenhagen và sự co của hàm sóng là giống như tôi. Bạn chia cách vấn đề duy tâm hay duy vật (Dù có chăng ý thức của chúng ta dẫn tới sự co của hàm sóng hay một tương tác vật chất dẫn tới) khỏi vấn đề những mối liên hệ biện chứng liên đới.
Bạn cũng còn nói rằng tính lưỡng nguyên sóng hạt (wave-particle duality) trong giới vật lý vi mô là một ví dụ về thể thống nhất của các mặt đối lập, đó là biện chứng. Và bạn liên kết điều đó với những thứ khác như các mối liên hệ biện chứng. Tóm lược là thế.
Một điểm thứ yếu. Bạn nói rằng những mặt đối lập "bổ sung cho nhau hơn là xung đột". Tôi đồng ý với nội dung mà tôi nghĩ bạn đã nói tại đây, nhưng bạn đụng chạm đến một vấn đề thuật ngữ mà tương tự với điều tôi đụng đến trong bài báo của mình như "sự vô lý" của những mâu thuẫn. Khi nhấn mạnh tính lưỡng nguyên, điều các nhà duy vật cơ học thấy khó khăn để hiểu, sự tranh đấu của những mặt đối lập không thể bị từ chối. Những mặt đối lập bổ sung là cũng "xung đột", nhưng không theo cách cách nhà duy vật cơ học giả định. Với những nhà duy vật cơ học, sóng và hạt "xung đột" có nghĩa là chúng không thể hình thành một tính lưỡng nguyên bổ sung, và một thực thể phải xác định là thứ này hay thứ khác; nhưng với một nhà biện chứng các bản chất của sóng và hạt có thể "xung đột", nhưng cũng là những mặt bổ sung của một thực thể - thực ra, điều này có lẽ là thứ một người mong muốn về những phương diện bổ sung. Sự thống nhất của các mặt đối lập có thể và thực sự bao hàm sự tranh đấu giữa của các mặt đối lập. Tôi cố gắng giải quyết một vấn đề thuật ngữ tương tự trong bài báo của tôi bằng sự phân biệt giữa những trái ngược vô lý và biện chứng (see p. 46, col. 1 [CV. Vol. 5, #1]). Những nhà duy vật toán học chỉ thấy những mâu thuẫn vô lý, và không thấy những mặt đối lập ảnh hưởng lẫn nhâu và nằm trong thể thống nhất. Những điểm khác biệt của tôi giữa mâu thuẫn "vô lý" và biện chứng có những vấn đề thuật ngữ riêng của nó. Một trong những vấn đề đấy tôi cố gắng giải quyết ở phần phụ chú, nơi tôi chỉ ra vấn đề không nhiều là một mâu thuẫn riêng lẻ là vô lý trong chính nó, nhưng dưới những điều kiện nhất định, nó là vô lý, và dưới những điều kiện khác, nó không là vô lý. Nhưng xa hơn điều đó, bằng sự suy ngẫm, tôi không chắc chắn rằng tài liệu biện chứng tham chiếu tới vấn đề của cùng thuật ngữ tôi đã sử dụng. Có lẽ đôi khi miêu tả sự thống nhất của các mặt đối lập như những mâu thuẫn vô lý, như sự thống nhất của những thứ mà vô lý khi xem xét tới một sự kết hợp, nhưng chúng thực sự được kết hợp. Và có lẽ đó là điểm chính. Sự thật, sau nhiều năm và thập kỷ làm việc với những mâu thuẫn nhất định (như tính lưỡng nguyên sóng hạt), thật khó để nghĩ nó là "vô lý". Nhưng điều gì đó là vô lý với cả sóng và hạt. Do đó, có lẽ, sau khi suy nghĩ về vấn đề này và nghiên cứu lại tài liệu về biện chứng nhiều hơn, tôi sẽ phải từ bỏ thuật ngữ "những mâu thuẫn vô lý" và đi đến một công thức giống như là những mâu thuẫn "vô bổ" ngược lại với những mâu thuẫn biện chứng - Với những nhà duy vật cơ học tư duy về tất cả những mâu thuẫn là vô bổ và "rời rạc".
So much for now,
. Regards,
. Joseph
Notes:
(1) This refers to Joseph Green's article "On Sokal and Bricmont's book Fashionable Nonsense/Postmodernism versus materialism" in Communist Voice, vol. 5, #1, March 28, 1999, and in particular to the sections entitled "The dialectics of nature" and "Dialectics, motion, and infinitesimals".--CV.
http://home.flash.net/~comvoice/21cQuantum.html
(tobecont.)
------------------------
Biên tập lại sau. Dịch xong chả hiểu mình dịch cái giề?! hẹ hẹ
Đọc tiếp →
Thứ Ba, 29 tháng 9, 2009
Lập ngôn?
Kẻ sĩ lúc chưa đáng nói mà nói, là dùng lời nói để thăm dò.
...
(cont.) Đọc tiếp →
Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2009
Plea for Reason, Evidence and Logic
Dịch dật tí chơi.
----------------
Plea for Reason, Evidence and Logic
by Alan Sokal
Transcript of a talk presented at a forum at New York University on October 30, 1996. It was reprinted in New Politics 6(2), pp. 126-129 (Winter 1997).
Công chiện hôm nay đã mang đến một số chủ đề khó tin, và tôi ko thể mơ tới chiện diễn thuyết về mọi điều trong 10 phút, do đó hãy để tôi khai mào bằng cách giới hạn (circumscribing) bài nói của mình. Tôi không muốn lên gối (belabor) vào sự yếu kém của Social Text cả trước và sau khi công bố bản văn nhái (parody) của mình: SC ko phải kẻ thù, ko phải mục tiêu trí thức chính của tôi. Tôi sẽ không đi vào những chủ đề đạo đức liên hệ tới tính đúng đắn của hành vi xỏ xiên (hoaxing) (dù tôi sẽ vui lòng biện hộ cho đạo đức của mình khi nào được hỏi). Tôi sẽ ko diễn thuyết về văn vở của đám người theo thuyết ngu dân (obscurantist prose) và sự sùng bái danh tiếng không phê phán mà đã tiêm nhiễm vào các lĩnh vực luỵ thời nhất định của nhân tính học giới Mẽo... (infected certain trendy sectors of the American academic humanities) (dù đây là những vấn đề quan trọng mà tôi hi vọng người tham gia khác sẽ diễn thuyết). Tôi sẽ không bước vào những chủ đề chiên môn của triết học khoa học (philosophy of science) (dù lần nữa tôi sẽ vui lòng làm điều đó khi nào được hỏi). Tôi sẽ ko thảo luận về vai trò xã hội của khoa học và công nghệ (dù đây là những chủ đề quan trọng). Thực ra, tôi muốn nhấn mạnh rằng chiện hôm nay, theo quan điểm của tôi, không chính yếu về khoa học - dù nó là sự bào chữa (excuse) cho việc dựng nên bản văn nhái của tôi - cũng ko là một mâu thuẫn về lề lối (disciplinary conflict) giữa những nhà nhà khoa học và nhà chủ nghĩa nhân văn (humanist), những người thực sự đại diện cho các phía của cuộc luận chiến. Điều tôi tin tưởng là cuộc luận chiến này chủ yếu về - và điều tôi muốn tập trung tối nay - bản chất của sự thật, lý trí và tính khách quan: những chủ đề tôi tin là cốt yếu (crucial) với tương lai của hoạt động chính trị phe tả (left politics).
Tôi đã ko viết bài văn nhái vì lý do các bạn có lẽ nghĩ đến đầu tiên. Mục tiêu của tôi không phải bảo vệ khoa học khỏi những đám phê bình văn chương man rợ hay xã hội học. Tôi biết hoàn toàn rõ ràng rằng những mối đe doạ chính với khoa học ngày nay tới từ những quản trị viên tập đoàn và những nhà chính trị chủ trương cắt giảm ngân quỹ (budget-cutting politicians and corporate executives), chứ ko tới từ một nhúm các học giả hậu hiện đại. Hơn nữa, mục đích của tôi là phải bảo vệ thứ mà mọi người gọi là thế giới quan khoa học (scientific worldview) - được định nghĩa rộng ra như một phương diện về bằng chứng và logic, và về sự đối chiếu không ngừng của những lý thuyết với thế giới thực; ngắn gọn hơn, với suy luận duy lý đặt trên sự mị dân, mê tín và mộng tưởng. Và động cơ của tôi để cố gắng bảo vệ những ý tưởng lỗi thời này, về cơ bản, là có tính chính trị. Tôi lo lắng về những trào lưu trong phe người Mẽo cánh tả (trends in the American Left) - xét riêng trong giới học giả ở đây - mà một lượng tối thiểu làm chúng ta chệch hướng khỏi nhiệm vụ công thức hoá sự phê phán xã hội tiến bộ (formulating a progressive social critique), bằng cách dẫn dắt những người tận tâm và thông minh tới trào lưu mà sau cùng chỉ là những kiểu cách trí thức rỗng tuếch, và có thể thực sự ngầm phá hoại những triển vọng về sự phê phán nói trên, bằng sự đề xướng thứ triết học của những người theo thuyết tương đối và thuyết chủ quan mà theo quan điểm của tôi là ko nhất quán (inconsistent) để đưa ra một bản phân tích thực tế về xã hội mà chúng ta cùng với những bạn công dân của mình sẽ tìm thấy sự thuyết phục.
David Whiteis, trong một bài báo gần đây, đã nói rất rõ:
Rất nhiều học giả, an toàn trong toà tháp ngà của mình và được cách ly khỏi những hệ quả ngoài đời thực mà tới từ ý tưởng họ tán thành, dường như mù loà trước một thực tế rằng sự phi lý (non-rationality) từ rất lâu đã là một trong những vũ khí mạnh mẽ nhất trong những pháo đài ý thức hệ (ideological arsenals) của những kẻ đàn áp. Tính siêu chủ quan (hypersubjectivity) ở những nhà hậu hiện đại là một ca rõ ràng (perfect case) tại điểm sau: không những là một sự kế thừa từ công cuộc bài trừ thánh tượng của phe tả (leftist iconoclasm), như một số chủ trương tuyên bố rất không chân thật, nó thực sự... đóng vai những nhà chống duy lý một cách hoàn hảo. - chống tư tưởng thực sự - một thiên kiến hiện đang tiêm nhiễm tới xu thế chủ đạo của văn hoá Mẽo (infects "mainstream" U.S. culture).
Theo những dòng trên, triết gia khoa học Larry Laudan đã nhận xét một cách chua chát rằng:
Sự thế chỗ ý tưởng về chất liệu bằng chứng và thực kiện (facts and evidence matter) bởi ý tưởng mọi thứ cô cạn (boils down) thành những cách hiểu và sở thích chủ quan - chỉ lần thứ hai tới trong những cuộc vận động chính trị Mẽo - là sự thị uy nguy hại và nổi bật nhất của chủ nghĩa phản trí thức trong thời đại của chúng ta.(Ngày nay, trở thành phản trí thức hay vận động chính trị ở Mẽo thực ra đều khá kỳ công.)
Bi giờ dĩ nhiên là, chả ai sẽ chấp nhận dựa vào logic, bằng chứng và lý trí - giống như dựa vào Motherhood và Apple Pie. Hơn thế, những ngườii bạn hậu cấu trúc và hậu hiện đại của chúng ta sẽ tuyên bố ủng hộ thứ lý trí nào đó mới lạ và sâu sắc hơn, ví dụ như sự tán dương những "tri thức địa phương" (local knowledges) và những "cách hiểu biết tuỳ chọn" (alternative ways of knowing) như một liều thuốc giải, cái được kêu là "Phương pháp luận khoa học Trung Âu" (Eurocentric scientific methodology) (các bạn biết, những thứ như tái tạo, điều khiển, thí nghiệm có tính hệ thống...v.v). Bạn tìm thấy một thành ngữ ma thuật "Tri thức địa phương", lấy ví dụ, trong những bài báo Andrew Ross và Sandra Harding trong chủ đề Science Wars của Social Text. Nhưng toàn bộ những "tri thức địa phương" có tuyệt vời ko? Và khi những tri thức địa phương mâu thuẫn, thì chúng ta nên tin tri thức địa phương nào? Trong nhiều vùng ở Midwest, những tri thức địa phương bẩu rằng bạn nên phun nhiều thuốc diệt cỏ để có vụ mùa lớn hơn. Khoa học khách quan lỗi thời thì bẩu thuốc diệt cỏ là độc hại với nông phu và con người phía hạ lưu. Tại thành phố New York, rất nhiều tri thức địa phương đã cho là có một làn sóng những bà mẹ teengage đang huỷ diệt những chỉ dẫn đạo đức (moral fiber) của chúng ta. Những dữ liệu nhàm chán thì chỉ ra tỉ suất sinh đẻ của những bà mẹ teenage về cơ bản là không thay đổi kể từ năm 1975, và bằng phân nửa tỷ suất mẫu mực của năm 1950. Một từ khác để gọi "tri thức địa phương" là định kiến.
Tôi xin lỗi phải nói điều này, nhưng dưới ảnh hưởng của hậu hiện đại một số người rất thông minh có thể ngã vào lối suy nghĩ tuỳ tiện một cách khó tin, và tôi muốn đưa ra 2 ví dụ. Cái đầu tới từ một bài báo đầu trang trên tờ New York Times thứ ba trýớc (10/22/96) về mâu thuẫn giữa những nhà khảo cổ học và một số nhà Sáng tạo luận người Mẽo bản địa (archaeologists and some Native American creationists). Tôi ko muốn diễn thuyết tại đây về những phương diện luật pháp và đạo đức của cuộc tranh luận này - người ta nên làm chủ việc sử dụng nốt 10,000 năm còn lại của nhân loại - mà chỉ về vấn đề nhận thức. Có ít nhất 2 quan điểm xung khắc về nơi mà cư dân bản địa Mẽo xuất phát. Sự nhất trí của khoa học, dựa trên những bằng chứng khảo cổ bao quát, là nhân loại tiến vào Châu Mĩ lần đầu tiên từ Châu Á vào khoảng 10-20,000 năm trước, băng qua eo biển Bering. Nhiều nhà Sáng tạo luận Mẽo bản địa thì quả quyết rằng, trái lại, người bản địa đã luôn luôn sinh sống tại châu Mĩ, kể từ khi tổ tiên của họ xuất hiện trên mặt đất từ một thế giới bí hiểm của tinh thần. Và bài báo Times nhận xét rằng rất nhiều nhà khảo cổ học, "bị giằng co giữa sự đồng cảm với văn hoá bản địa và khí chất khoa học của mình, ... đã hướng gần đến chủ nghĩa tương đối hậu hiện đại mà khi đấy khoa học cũng không hơn một hệ thống niềm tin." Ví dụ như, Roger Anyon, một nhà khảo cổ học Anh Cát Lợi, người đã từng làm việc với người Zuni, đã được trích dẫn là nói thế này "Khoa học chỉ là một trong nhiều cách nhận biết thế giới. ... [Quan điểm về thế giới của người Zuni là] cũng có giá trị như (*) quan điểm của khảo cổ học về những gì thuộc về thời tiền sử.
Bi giờ, có thể Dr. Anyon đã bị trích dẫn sai, nhưng tất cả chúng ta đã nghe đi nghe lại những khẳng định như trên, và tôi muốn hỏi những khẳng định như thế có thể có nghĩa gì. Chúng ta có ở đây hai lý thuyết ko tương hợp với nhau. Chúng ko thể cùng đúng; chúng cũng ko thể gần đúng. Dĩ nhiên, chúng có thể cùng sai, nhưng tôi ko tưởng tượng được rằng điều mà Dr. Anyon muốn nói là "cũng có giá trị nhý nhau (*)". Theo tôi thì dường như Anyon đã để sự đồng cảm về văn hoá và chính trị làm tối mờ lập luận của mình một cách khá giản đơn. Và không có sự biện minh nào cho điều đấy. Chúng ta có thể nhớ hoàn toàn rõ ràng đến những nạn nhân của một sự diệt chủng khủng khiếp và giúp đỡ những mục tiêu chính trị hợp lý của họ, nhưng không thể tán thành những truyền thuyết về sáng tạo cổ xưa của họ theo cách thiếu phê phán (hay phê phán giả tạo). Hơn thế, thái độ của những người theo thuyết tương đối là cực kỳ kẻ cả: Họ đối xử với một xã hội phức tạp như với một cục đá nguyên khối, che đậy những xung đột bên trong nó, và xem những bè cánh theo chủ thuyết ngu dân mạnh mẽ nhất như là phát ngôn viên cho tất cả.
Ví dụ thứ hai của tôi về lối suy nghĩ tuỳ tiện tới từ bài báo của đồng chủ biên Social Text, Bruce Robbins, trong tạp chí Tikkun số tháng 9/10 năm 1996, mà ông ta cố gắng bảo vệ - mặc dù miễn cưỡng - công cuộc phá đảo của chủ nghĩa hậu cấu trúc/ hậu hiện đại tới những ý niệm có tính quy ước/ước lệ về sự thật (conventional notions of truth). "Có phải quyền lợi của phụ nữ, những người Mẽo gốc Phi, và những người bị bóc lột cùng cực khác (super-exploited people)", Robbins hỏi, "đòi hỏi rằng tính đồng nhất và sự thật phải là những kiến tạo của xã hội? Có hay không," ông ta khẳng định. "Ko, bạn ko thể nói về sự bóc lột mà thiếu đi sự kiểm chứng" - chính xác theo quan điểm của tôi - "Nhưng đúng là," Robbins tiếp, "sự thật có thể là khởi nguồn của sự áp bức." Huh??? Sự thật có thể áp bức ai đó như thế nào? Ồ, những lời kế tiếp của Robbins giải thích điều anh ta muốn nói: "Cách đây không quá lâu," anh ta nói, "những nhà khoa học với những thẩm quyền đầy đủ của họ đã giải thích tại sao phụ nữ và những người Mẽo gốc Phi... cố hữu là thấp kém." Nhưng có phải Robbins đang tuyên bố đó là sự thật? Tôi nên hi vọng là ko! Chắc chắn, rất nhiều người nói không đúng về phụ nữ và người Mẽo Phi; và đúng là, những sự sai trái đó thi thoảng được khẳng định bởi cái danh xưng là "khoa học", "lý trí" và tất cả những thứ còn lại. Nhưng tuyên bố những thứ như thế không làm nên sự thật, và thực tế rằng con người - bao gồm các nhà khoa học - thi thoảng tạo ra các tuyên bố sai trái không có nghĩa chúng ta nên loại bỏ hay xét duyệt lại khái niệm về sự thật. Khá trái ngược: Điều đó có nghĩa là chúng ta nên kiểm tra những bằng chứng đằng sau những tuyên bố về sự thật một cách hết sức cẩn thận, và chúng ta nên loại bỏ những khẳng định là sai trái theo phán đoán duy lý nhất của mình.
Thật ko may, lỗi này lập lại xuyên suốt bài luận của Robbins; một cách có hệ thống anh ta từ chối sự thật bằng những tuyên bố về sự thật, từ chối thực kiện bằng những khẳng định về thực kiện, và từ chối tri thức bằng những kỳ vọng về tri thức. Những sự elision đó là cơ sở của lối tư duy tuỳ tiện về "sự kiến tạo xã hội" (social construction) mà được phổ biến trong học giới ngày nay, và khiến những sự tiến bộ phải kìm hãm lại. Chắc rằng, chúng ta chỉ ra những quyền lợi về ý thức hệ, chính trị và kinh tế được phụng sự bởi sự giải trình về "hiện thực" của ngýời đối địch với chúng ta; nhưng trước hết hãy chứng minh, bằng cách sắp đặt bằng chứng và logic, tại sao những sự giải trình đó về khách quan là sai trái (hay trong một số trường hợp là đúng nhưng ko phải tất cả).Gần cuối bài báo của mình, Robbins thẳng thắn thừa nhận rằng "những người hoạt động chính trị về văn hoá đôi khi hành động cứ như thể Sự thật luôn luôn và tại bất kỳ đâu là một vũ khí của cánh hữu". Bi giờ, đó là một thái độ tự thua đầy kinh ngạc với một người đã nhận mình là cánh tả. Nếu Sự thật ở phía cánh hữu, thì chúng ta không nên - ít ra là người chân thật nhất trong chúng ta - trở thánh người cánh hữu (right-wingers) sao? Về phần tôi, tôi là người phe tả và theo thuyết bình quyền dựa vào logic và bằng chứng (kết hợp cùng với những yếu tố đạo đức), chứ không bất chấp tất cả.
Lời biện hộ của tôi cho lý trí, bằng chứng và logic hầu như là đã có từ trước; hàng tá nhà chủ nghĩa nhân văn tiến bộ, nhà khoa học xã hội và nhà khoa học tự nhiên đã nói cùng điều này trong nhiều năm. Nhưng nếu bản văn nhái (parody) của tôi trên Social Text chỉ phần nhỏ nào giúp khuyếch đại tiếng nói của họ và khơi gợi một cuộc luận chiến cần thiết trong phe tả, khi đó nó đã phục vụ cho mục đích đề ra.
-----------------------
* Bản tiếng Anh:
http://www.physics.nyu.edu/faculty/sokal/nyu_forum.html
Đọc tiếp →
