Chủ Nhật, 25 tháng 10, 2009
The Fish
Although you hide in the ebb and flow
Of the pale tide when the moon has set,
The people of coming days will know
About the casting out of my net,
And how you have leaped times out of mind
Over the little silver cords,
And think that you were hard and unkind,
And blame you with many bitter words.
* Source
* A comment about this poem
Yeats, The Fish And Your Cousin By LowellWriter
Telling Tales
Although you hide in the ebb and flow
Of the pale tide when the moon has set,
The people of coming days will know
About the casting out of my net,
And how you have leaped times out of mind
Over the little silver cords,
And think that you were hard and unkind,
And blame you with many bitter words.
-William Butler Yeats-
When we read anything by the Irish poet and dramatist, William Butler Yeats, we are aware of the many levels hidden behind his simplistic images and words. The poem The Fish is no exception. True, what lies on the surface exceeds satisfaction. Yet, digging deeper, we find so much more.
In the first line, we are told that someone or something is hiding. Were it not for the title, this line could apply to any living creature. Reading further, we are told that they hide in the night, “when the moon has set.” Who is hiding? Why are they hiding? These words evoke images of fugitives and every unsavory character that we are told from childhood to stay away from.
Next, you learn that the speaker has every intention of telling others about this creature. Not only that, they will tell of how an attempt was made to catch the subject. They will say that, despite a great deal of effort on the speaker’s part, the creature escaped. While they may hide, their hiding is in vain because everyone knows they exist. Though it is neither said nor suggested, undoubtedly, someone, after learning of this story, will seek out this fugitive.
Lastly, for a long time to come, possibly even forever, the speaker will think badly of the fish. He will blame his failure on the fish, not even taking into account that he may have simply lacked the skill to catch it. You save face when you can blame things on others.
In my opinion, this fish stands for a lover, a friend, an enemy, a salesperson and many other characters. It is the one that got away, not because you let them, but because they were too heartless and selfish to stay. Taken in this light, this poem was written for everyone who can’t take ownership for their shortcomings.
Everyone seems to have a friend or family member who falls in love with a cute person without even first getting to know them (often, not even learning of their name until they are deeply in love.). Each time you see your person, they give you an update on their “progress” i.e. he smiled at me, she laughed too hard at one of my jokes and such. When you finally encourage them to take things to the next level/actually talk to this person, things don’t go as planned. Your person has misinterpreted signals. As they were about to lower their net on to the cutie, the cutie said they weren’t interest, figuratively jumping out of the net. What is your friend/cousin/yourself to do? It is quite simple. In order to come off looking like your pride is still intact, you tell a story of how your cutie turned on you and was rude or, just before you were about to ask them out, they did something disgusting or mistreated someone and you realized you couldn’t handle being with someone like that. To tell the truth that they politely declined your advances would be too much of a blow. Over time, the fish turns into a great white whale.
To return to the actual fish, though I don’t know many people who fish, all of the ones I do know have a story like this poem. They were just about to reel in a huge fish when the line snapped or something like that. While in truth, they could’ve accidentally let the fish go or never actually got to this point to begin with, the legend of this fishing trip and that mean fish who didn’t know its place will out live the life any actual fish. No one wants their pride publicly wounded. Besides, hiding is for cowards and honesty is for the brave. Let this fish hide.
To me, Yeats wrote this poem both to release him of the negative feelings he felt about losing the fish and for others like him to know they are not alone. Though written years ago, failure has always been quite common. Since the dawn of time, people have been made to feel cheated by others. Still, with the fish supposedly in hiding and the speaker telling his cover story to all who will listen, thus hiding from the truth, you have to wonder who the coward really is.
---------------------------
To read more poetry analysis by this writer, please click on the link below.
http://www.triond.com/users/lowellwriter Đọc tiếp →
Thứ Sáu, 23 tháng 10, 2009
Ma Bohème
Đời di gan của tôi (Tưởng tượng)
Ðông A dịch.
Tôi bỏ đi tay đút túi quần rách
Áo khoác ngoài thành lý tưởng tuyệt vời
Nàng Thơ ơi, nô lệ nàng, tôi dạo bước dưới trời
Ô lá la, tôi mơ tình yêu lấp lánh
Đã thủng lớn chiếc quần duy nhất
Chú Bé Tí lịm người điệu khúc tôi chơi
Khi tôi býớc. Quán trọ tôi tận Bắc Ðẩu xa vời
Những ngôi sao của tôi trên trời rì rào xao xác
Và tôi lắng nghe, ngồi bệt xuống vỉa hè
Chiều tháng chín từng giọt sương rơi nhẹ
Xuống trán tôi như những giọt rượu nồng
Nhịp khúc vang giữa bóng tối diệu kỳ
Tựa thất cầm. Tôi gảy dây thun khẽ
Của đôi giày tả tơi, một chân sát tâm hồng.
-------------------------
My Bohemian Life (.Fantasy)
translated by Wallace Fowlie.
I went off, my fists in my torn pockets;
My coat too was becoming ideal;
I walked under the sky, Muse! and I was your vassal;
Oh! Oh! What brilliant loves I dreamed of!
My only pair of trousers had a big hole.
Tom Thumb in a daze, I sowed rhymes
As I went along. My inn was at the Big Dipper.
—My stars in the sky made a soft rustling sound.
And I listened to them, seated on the side of the road,
In those good September evenings when I felt drops
Of dew on my brow, like a strong wine;
Where, rhyming in the midst of fantastic shadows,
Like lyres I plucked the elastics
Of my wounded shoes, one foot near my heart!
-------------
http://www.mag4.net/Rimbaud/Poetry.html
http://poems.com/special_features/prose/essay_rivard.php
.
Đọc tiếp →
Thứ Tư, 21 tháng 10, 2009
Without music, life would be a mistake
George probably had no intention of recording any of these songs; he was just fond of Dylan. He did, however, release a cover of 'If Not For You' the following year on _All Things Must Pass_.
The songs [and seek times] are:
0. Sudio Noise [0.00]
0. Ramblin' Woman (false start) [0.40]
1. Ramblin' Woman (Harrison) [1.10]
2. I Threw It All Away (Dylan) [3.11]
3. Mama, You Been On My Mind (Dylan) [5.14]
Recorded on 9 January 1969
. Đọc tiếp →
Thứ Sáu, 16 tháng 10, 2009
Cây cầu... đã gãy
Bao nhiêu sao rớt xuống hết lòng đường
Bầu trời chết -
Thành dòng sông đen thẫm...
Anh ở một bờ
Và bờ khác -
Mình em...
Vũ khúc
Những xoáy chìm thăm thẳm cuốn theo nhau
Những lục lạc trắng ngà rung rinh hát
Những khoảnh khắc nổ -
Tĩnh lặng
Và ánh sáng lung linh...
Bởi như thể gặp nhau là diễm phúc
Và trắng ngà rung rinh
Lục lạc hát...
Và thăm thẳm xoáy chìm
Cuốn theo nhau...
Và Người đến -
Hình hài hai - cái - Chết...
Còn chút gì sót lại môi run?
Và chẳng hiểu vì đâu
Nước mắt...
* Thơ Thảo Phương: Source Đọc tiếp →
Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2009
An introduction to...
* books.google.com.vn
------------------------
denmark!!!
. Đọc tiếp →
Chủ Nhật, 4 tháng 10, 2009
Briefly on quantum mechanics and dialectics
Briefly on quantum mechanics and dialectics
Remarks on quantum mechanics
by Phil, Seattle (from Communist Voice #21, August 15, 1999)
Joseph yêu dấu,
Bạn đề nghị tôi nói chiện với bạn về điều tôi nghĩ về Cơ Lượng Tử (QM) và bản phân tích "non-standard' của bạn. Trong bài báo gần đây của bạn trong CV (1), bạn bình luận về những cố gắng của những nhà vật lý đầu thế kỷ 20 để tạo ra một triết học dựa trên lý thuyết lượng tử, và cách họ đã thường xuyên viện đến chủ nghĩa duy tâm để làm điều này. Một thời gian lâu trước đây, tôi đã đọc một cuốn sách của Werner Heisenberg (về nguyên lý Bất định danh tiếng) có tên là "Triết học và Vật lý", trong đó ông ta đã có sải những bước rất xa để bác bỏ chủ nghĩa duy vật đơn giản và giải thích cách thông dịch về QM của trường phái Copenhagen là cách thông dịch duy nhất có thể. Ti nhiên, tôi ko tin ông ta đã bác bỏ tất cả định dạng của chủ nghĩa duy vật, bởi vì ông ta ko có khái niệm về biện chứng và thứ duy nhất được gọi là "biện chứng duy vật" mà ông ta đã đối phó với hai nhà khoa học Xô-Viết, Blochinzev và Alexandrov, những người trích dẫn Lenin và cố gắng tái công thức hoá QM theo một cách không ảnh hýởng đến khái biệm về chủ nghĩa duy vật của họ. Nhý thế, họ phải trục xuất người quan sát khỏi bất kỳ vai trò nào trong thí nghiệm - một khái niệm tôi nghĩ là là trệch khỏi tiêu điểm của QM và dẫn đến một khái niệm sai trái về chủ nghĩa duy vật khá nhiều.
Sự quan sát chỉ một hành vi phàm tục, không phải của tâm trí. Trong thế giới vật lý vĩ mô, phát ngôn này dường như có ít tác động thực tiễn, nhưng trong thế giới vật lý vi mô tác động của nó là sâu xa. Khi tôi tham gia vào một phép đo vật lý, tôi đang sử dụng phương tiện vật chất để nhận thức những thực kiện vật chất, và phản ứng của thiết bị vật chất mà tôi dùng để đo với đối tượng trong phép đo của tôi là bản chất của phép đo. Thông thường (trong thế giới vật lý vĩ mô) những yếu tố của phản ứng này hiện diện trong hệ thống đýợc quan sát, bất kể sự có mặt hay vắng mặt của người quan sát, và sự đưa người quan sát vào hệ thống tạo thành một nhiễu loạn vi phân mà kết quả của nó đýợc bao hàm trong khung sai số của quan sát. Thế giới vật lý vi mô không có điều này. Sự có mặt của ngýời quan sát tại đó là sự thay đổi chính của hệ thống trong quan sát, bởi vì anh ta phải đưa vào những yếu tố mà không ở đó trong điều kiện bình thường, và chúng được bao hàm cho mục đích rõ ràng của sự thực hiện quan sát. Hơn thế, những thuật ngữ dùng để mô tả tương tác cần được bổ nghĩa - trong thế giới vật lý vĩ mô sự khác biệt giữa "hạt" và "sóng" là rõ ràng và riêng biệt, trong khi với thế giới vật lý vi mô hai thuật ngữ này lỏng lẻo về tính chất riêng của chúng. Một hạt là một khối lượng-điểm, bán kính và các kích thước vật lý của nó không đồng cỡ với khung hoạt động của chúng - nó hoàn toàn đàn hồi và hầu như giới hạn về phạm vi. Một sóng, mặt khác, có tính chất khuyếch tán, với những đường biên bất định và các kích cỡ vật lý mà có lẽ tương tác với môi trường quanh nó. Trong thế giới vật lý vi mô, hai thứ đối lập này hình thành một thể thống nhất - chúng bổ sung cho nhau hơn là xung đột. Do đó, chúng cũng có cùng những khái niệm như ngẫu nhiên và chắc chắn (chance & certainty), hỗn loạn và nhân quả, kế tiếp và đồng thời, không và thời gian.
Điều này có làm hại tới tính khách quan của khoa học không? Không nó hoản toàn bắt chúng ta tái công thức hoá tính khách quan mà tự nhiên hay thế giới vật chất đã mang đến cho chúng ta, hơn là áp đặt cho nó những điều trong đầu chúng ta. "Paradigm shift" (được diễn tả bởi Kuhn) có lẽ chỉ dẫn tính tương đối của thuật ngữ khoa học hoặc chỉ dẫn tính bất tương xứng của thuật ngữ khoa học và nhu cầu phát triển một tập hợp các thuật ngữ tốt hơn, chính xác hõn căn cứ vào tính hiện thực của thế giới hơn là khái niệm của chúng ta về nó.
Tôi đánh giá cao sự thảo luận về những ý tưởng nói trên.
. Revolutionary regards,
. Phil, Seattle.
------------------------------------
Response by Joseph Green, June 12, 1999
Phil,
Cảm ơn những lời nhận xét về QM. Bạn đóng đinh vào đầu mình với ghi chú "Sự quan sát chỉ một hành vi phàm tục, không phải của tâm trí" và "và phản ứng của thiết bị vật chất mà tôi dùng để đo với đối tượng trong phép đo của tôi là bản chất của phép đo". Sự thông dịch của những người duy tâm là ý thức của người quan sát đã làm thay đổi tình huống vật lý và tạo ra "sự co của hàm sóng", nhưng thực sự nó là một tương tác vật lý giữa hai thực thể vật chất và chúng đã làm cái điều đấy. Chúng ta có lẽ sử dụng một trong những thực thể đấy (như dòng photon/tia sáng) để tạo ra một quan sát lên chùm electron, nhưng nó không liên hệ với tương tác vật lý dù chúng ta làm photon xuất hiện (dù thứ nào khác làm), dù chúng ta đang dùng photon để tiến hành phép đo, hoặc dù chúng ta ý thức về những kết quả của quan sát. Tất cả vật chất là photon ở đấy, và đang tương tác với chùm electron.
Vấn đề về ý thức của chúng ta có chăng dẫn tới sự co của hàm sóng hay một tương tác vật chất, như bạn chỉ ra, là vấn đề của duy tâm với duy vật. (Nó có thể thành sự ngu dốt siêu nghiệm trong luận chiến giữa các nhà vật lý, xem nó nhý một vấn đề của "thuyết bất khả tri" [tham chiếu tới một thành phần thứ ba đề cập tiếp theo - JG]). Nếu như có nghi ngờ về các tương tác vật lý hay ý thức có hay không dẫn tới sự co của hàm sóng, nó dường nhý có thể được giải quyết bằng thực nghiệm. (Thí nghiệm hai khe nổi tiếng có thể được thực hiện theo cách nhý thế - Nó có thể đã xảy ra? - hãy xem những tương tác của photon và chùm electron có hay không thay đổi cách electron hoạt động, hay sự quan sát của chúng ta có hay không dẫn tới týõng tác của photon và chùm electron).
Một khía cạnh thú vị khác của vấn đề này, đó là có một số cuộc luận chiến giữa các nhà vật lý rằng các prôton có thể chăng được "quan sát" bằng các neutron trong hạt nhân (đây rõ ràng là một "quan sát"độc lập với ý thức con người). Vấn đề là tại sao những proton bên trong hạt nhân nguyên tử là bền - tại sao chúng không phân rã? Các nhà vật lý nào đó đã đưa ra lý do là chúng bị xô đẩy liên tục bởi các neutron, theo cách đó các neutron quan sát xem chúng có tồn tại hay không. Kết quả là sự co tức khắc của hàm sóng. Sự co bất biến này của hàm sóng không cho hàm sóng của proton có đủ thời gian để tiến đến điểm mà nó có thể phân rã. Sự thông dịch này không được toàn thể tán thành, và bị từ chối bởi các nhà vật lý khác. Nhưng nó chỉ ra ý tưởng về những quan sát được xem xét rõ ràng như một tương tác vật chất, độc lập với ý thức, cuối cùng có lẽ khiến nó có ảnh hưởng trong vật lý. (Xem David Wick, The Infamous Boundary, pp. 168-170. tác giả không có khái niệm về biện chứng, nhưng anh ta đã thực sự tranh luận một số thứ có ích.)
Tôi khá thích tranh luận của bạn về nỗ lực tái công thức hoá QM của Blochinzev và Alexandrov, tại điểm bạn chỉ ra họ đã không hiểu đúng đắn về chủ nghĩa duy vật. Điều này dường nhý là một trong những ví dụ sớm về những nỗ lực liên tiếp tái công thức hoá QM trái với niềm tin là cần bảo toàn QM. (Vấn đề này, dĩ nhiên, không hẳn là có sự cấm đoán những cố gắng tái thông dịch QM, mà là các nhà vật lý tin rằng nó bị đòi hỏi bởi chủ nghĩa duy vật.) Theo cách đó, khi bạn nói rằng "Họ phải loại bỏ ngýời quan sát khỏi bất kỳ vai trò nào trong thí nghiệm", điều này có phải có ý là họ bị bối rối bởi hiên tượng "sự co của hàm sóng", có phải không thể xem xét bất kỳ sự lựa chọn nào về cách thông dịch của những nhà duy tâm, và do đó tin tưởng rằng họ phải tái công thức hoá QM để tránh việc trước đấy?
Như tôi hiểu, cách tiếp cận của bạn với sự thông dịch Copenhagen và sự co của hàm sóng là giống như tôi. Bạn chia cách vấn đề duy tâm hay duy vật (Dù có chăng ý thức của chúng ta dẫn tới sự co của hàm sóng hay một tương tác vật chất dẫn tới) khỏi vấn đề những mối liên hệ biện chứng liên đới.
Bạn cũng còn nói rằng tính lưỡng nguyên sóng hạt (wave-particle duality) trong giới vật lý vi mô là một ví dụ về thể thống nhất của các mặt đối lập, đó là biện chứng. Và bạn liên kết điều đó với những thứ khác như các mối liên hệ biện chứng. Tóm lược là thế.
Một điểm thứ yếu. Bạn nói rằng những mặt đối lập "bổ sung cho nhau hơn là xung đột". Tôi đồng ý với nội dung mà tôi nghĩ bạn đã nói tại đây, nhưng bạn đụng chạm đến một vấn đề thuật ngữ mà tương tự với điều tôi đụng đến trong bài báo của mình như "sự vô lý" của những mâu thuẫn. Khi nhấn mạnh tính lưỡng nguyên, điều các nhà duy vật cơ học thấy khó khăn để hiểu, sự tranh đấu của những mặt đối lập không thể bị từ chối. Những mặt đối lập bổ sung là cũng "xung đột", nhưng không theo cách cách nhà duy vật cơ học giả định. Với những nhà duy vật cơ học, sóng và hạt "xung đột" có nghĩa là chúng không thể hình thành một tính lưỡng nguyên bổ sung, và một thực thể phải xác định là thứ này hay thứ khác; nhưng với một nhà biện chứng các bản chất của sóng và hạt có thể "xung đột", nhưng cũng là những mặt bổ sung của một thực thể - thực ra, điều này có lẽ là thứ một người mong muốn về những phương diện bổ sung. Sự thống nhất của các mặt đối lập có thể và thực sự bao hàm sự tranh đấu giữa của các mặt đối lập. Tôi cố gắng giải quyết một vấn đề thuật ngữ tương tự trong bài báo của tôi bằng sự phân biệt giữa những trái ngược vô lý và biện chứng (see p. 46, col. 1 [CV. Vol. 5, #1]). Những nhà duy vật toán học chỉ thấy những mâu thuẫn vô lý, và không thấy những mặt đối lập ảnh hưởng lẫn nhâu và nằm trong thể thống nhất. Những điểm khác biệt của tôi giữa mâu thuẫn "vô lý" và biện chứng có những vấn đề thuật ngữ riêng của nó. Một trong những vấn đề đấy tôi cố gắng giải quyết ở phần phụ chú, nơi tôi chỉ ra vấn đề không nhiều là một mâu thuẫn riêng lẻ là vô lý trong chính nó, nhưng dưới những điều kiện nhất định, nó là vô lý, và dưới những điều kiện khác, nó không là vô lý. Nhưng xa hơn điều đó, bằng sự suy ngẫm, tôi không chắc chắn rằng tài liệu biện chứng tham chiếu tới vấn đề của cùng thuật ngữ tôi đã sử dụng. Có lẽ đôi khi miêu tả sự thống nhất của các mặt đối lập như những mâu thuẫn vô lý, như sự thống nhất của những thứ mà vô lý khi xem xét tới một sự kết hợp, nhưng chúng thực sự được kết hợp. Và có lẽ đó là điểm chính. Sự thật, sau nhiều năm và thập kỷ làm việc với những mâu thuẫn nhất định (như tính lưỡng nguyên sóng hạt), thật khó để nghĩ nó là "vô lý". Nhưng điều gì đó là vô lý với cả sóng và hạt. Do đó, có lẽ, sau khi suy nghĩ về vấn đề này và nghiên cứu lại tài liệu về biện chứng nhiều hơn, tôi sẽ phải từ bỏ thuật ngữ "những mâu thuẫn vô lý" và đi đến một công thức giống như là những mâu thuẫn "vô bổ" ngược lại với những mâu thuẫn biện chứng - Với những nhà duy vật cơ học tư duy về tất cả những mâu thuẫn là vô bổ và "rời rạc".
So much for now,
. Regards,
. Joseph
Notes:
(1) This refers to Joseph Green's article "On Sokal and Bricmont's book Fashionable Nonsense/Postmodernism versus materialism" in Communist Voice, vol. 5, #1, March 28, 1999, and in particular to the sections entitled "The dialectics of nature" and "Dialectics, motion, and infinitesimals".--CV.
http://home.flash.net/~comvoice/21cQuantum.html
(tobecont.)
------------------------
Biên tập lại sau. Dịch xong chả hiểu mình dịch cái giề?! hẹ hẹ
Đọc tiếp →
Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2009
What Is Critical Reading?
Chú ý: Những ghi chú ở đây trước hết nhắm vào những văn bản không hư cấu (non-fictional texts).
Thực kiện và thông dịch (Facts v. Interpretation)
Với người đọc không phê phán, văn bản cung cấp những thực kiện. Người đọc thu được tri thức bằng cách ghi nhớ những phát ngôn trong văn bản.
Với người đọc phê phán, bất kỳ văn bản đơn lẻ nào cũng chỉ cung cấp sự mô tả về thực kiện, sự nắm bắt của một cá nhân về chủ đề (subject matter). Như thế, người đọc phê phán nhận ra không chỉ điều văn bản nói, mà còn cách văn bản mô tả chủ đề. Họ nhận ra những cách thức khác nhau mà vì thế mỗi một văn bản là sự thành tạo độc nhất của một tác giả độc nhất.
Một người đọc không phê phán có lẽ đọc một cuốn sách lịch sử để học những thực kiện của một tình huống, hoặc khám phá một sự thông dịch đã được công nhận về các sự kiện đó. Một người đọc phê phán thì có lẽ đọc cùng một thứ như thế mà để đánh giá bằng cách nào một cách phối cảnh/dàn dựng (perspective) riêng về những sự kiện, và một cách chọn lọc riêng những thực kiện có thể dẫn tới sự hiểu biết riêng biệt.
Điều một văn bản nói, làm và hàm ý: Hướng tới một sự thông dịch
Sự đọc không phê phán được thoả đáp bằng sự nhận ra điều một văn bản nói và nhắc lại những ghi chú chính.
Sự đọc phê phán đi hai bước xa hơn. Nhận ra điều văn bản nói, nó liên hệ tới điều văn bản làm bằng cách tạo ra những ghi chú như thế. Nó có đưa ra những ví dụ? Suy luận? Kêu gọi sự đồng thuận? Tạo ra sự tương phản để làm rõ một trọng điểm/tiêu điểm (point)? Sau cùng, người đọc phê phán khi suy diễn điều văn bản hàm ý như một chỉnh thể, dựa trên sự phân tích có trước.
Ba bước hay ba cách phân tích này được phản ánh trong ba kiểu đọc và thảo luận:
- Điều văn bản nói - Sự nhắc lại
- Điều văn bản làm - Sự mô tả
- Điều văn bản hàm ý - Sự thông dịch
Bạn có thể phân biệt mỗi cách phân tích theo chủ đề thảo luận:
- Điều văn bản nói - Sự nhắc lại - nói cùng một chủ đề với văn bản gốc
- Điều văn bản làm - Sự mô tả - thảo luận về những phương diện của chính cuộc thảo luận
- Điều văn bản hàm ý - Sự thông dịch - phân tích văn bản và khẳng định một ý nghĩa cho văn bản như là một chỉnh thể.
Những mục tiêu của sự đọc phê phán
Sách giáo khoa theo sự đọc phê phán yêu cầu sinh viên đạt đến những mục tiêu nhất định sau:
- nhận ra mục đich của tác giả
- nhận biết giọng điệu và những yếu tố có sức thuyết phục
- nhận ra thiên kiến
Lưu ý rằng không một mục tiêu nào ở trên thực sự tham chiếu tới những thứ trên trang viết. Chúng đòi hỏi những sự suy diễn từ bằng chứng trong văn bản:
- nhận ra mục đích bao hàm sự suy diễn một cơ sở của những chọn lựa về nội dung và ngôn ngữ/phương tiện diễn đạt (content & language)
- nhận ra giọng điệu và những yếu tố có sức thuyết phục bao hàm sự phân loại bản chất của những chọn lựa về ngôn ngữ
- nhận ra thiên kiến bao hàm sự phân loại bản chất những nguyên mẫu chọn lựa của nội dung và ngôn ngữ
Trang web này được thiết kế để mang sự bí ẩn ra khỏi sự đọc phê phán. Chúng được thiết kế đề chỉ ra cho bạn điều kiếm tìm (phân tích) và cách suy nghĩ về điều bạn tìm thấy (suy diễn).
Phần đầu - điều kiếm tìm - bao hàm sự nhận ra những phương diện của thảo luận mà nắm giữ ý nghĩa.
Phần hai - cách suy nghĩ về điều bạn tìm thấy - bao hàm những quá trình suy diễn, thông dịch dữ liệu từ trong văn bản.
Hãy nhớ ra sự đọc phê phán giả định rằng mỗi tác giả đưa ra một sự mô tả về chủ đề. Như thế, sự đọc phê phán dựa trên sự kiểm tra những lựa chọn mà mỗi một tác giả phải có khi tạo bộ khung trình bày/dàn bài: những lựa chọn về nội dung, ngôn ngữ và cấu trúc. Người đọc kiểm tra từng phạm vi lựa chọn, và xem xét tác động của chúng tới Ý nghĩa.
http://www.criticalreading.com/critical_reading.htm
----------
(tobecont.) Đọc tiếp →
