Chủ Nhật, 27 tháng 11, 2011

Xem nhạc ngoài trời




Hôm nay có 1 buổi đứng nghe nhạc ngoài trời rất thú vị. Khoảng hơn chục cây violin cùng viola, 3 cello, và 2 contrabass chơi nhiều bài nghe rất phê...

Có thời điểm chợt nghĩ đến Flaubert, khi mà mấy cha nội nào đó xì xồ ngay cạnh tai, nghĩ về cái sự song hành giữa cái đẹp và cái tầm thường của ông ta. Thế là phải tự cười mình cái, rồi tập trung nghe nhạc tiếp.

Người trẻ trung mà đọc Bà Bovary chả hiểu sẽ mang tâm thế ra sao nhỉ...



Por una cabeza (tango), Carlos Gardel:


Libiamo ne'lieti calici (brindisi/drinking song), Verdi's La traviata (opera):


The Music of the Night, Andrew Lloyd Webber's The Phantom of the Opera (musical theatre):
Đọc tiếp →

Thứ Sáu, 11 tháng 11, 2011

Giữa chợ đời

Giữa chợ đời

Giấy mực đau lòng chữ nghĩa

Tài hoa phô giữa chợ đời

Những nghĩ e hồng thẹn tía

Chi cho bướm cợt ong cười

Mấy độ phai sương nhạt nắng

Mắt xanh còn luyến gót đường

Giữ chút niềm Trinh ý Trắng

Gửi lòng tri kỷ muôn phương


Xuân Giáp Thìn 1964

Đông Hồ


* Lan man:



"Lên chơi ai cũng lom khom cúi
Chẳng khéo tu mà chẳng vụng tu"
Đọc tiếp →

Tượng Phật


An aerial view of a flooded temple in Ayutthaya province October 15, 2011/Stringer

Xem bức ảnh chụp tượng Phật trong cảnh ngập lụt ở Thái Lan, bất giác nhớ tới bài thơ của Cao Ngọc Anh. Tượng trong bức ảnh trên có thể là của Tuyết Sơn thích ca, còn bài thơ của Cao Ngọc Anh là về Phật Di Lặc, ở Việt Nam có cách gọi 2 vị Phật này là ông nhịn ăn mà mặc và ông nhịn mặc mà ăn.

Phật Di Lặc

Ăn cho to lớn hỡi ông ơi
Chẳng biết chi chi chỉ biết cười
Bể khổ mênh mông dương mắt ngó
Tòa sen ngất ngưởng xếp chân ngồi
Hương khuya hoa sớm vui cùng đạo
Kẻ khấn người kêu mặc kệ đời
Hai chữ Nam vô quên nhớ nhỉ
Hay là ngọng miệng chỉ vì xôi

Cao Ngọc Anh



Ảnh Di Lặc lục tặc (Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp).


Tượng gỗ Di Lặc lục tặc

"Di-lặc hay Di Lặc (zh. 彌勒, sa. maitreya, pi. metteyya là cách phiên âm, dịch nghĩa là Từ Thị (慈氏), "người có lòng từ", cũng có tên khác là Vô Năng Thắng (zh. 無能勝, sa. ajita), phiên âm Hán-Việt là A-dật-đa, là một vị Bồ Tát và cũng là vị Phật cuối cùng sẽ xuất hiện trên trái Đất.... "
http://tudien.daitangkinhvietnam.org/index.php?title=Di-l%E1%BA%B7c


Như vậy Di Lặc sang đến bên Tàu thì mới thành ra một ông má phính bụng béo, miệng cười toe toét. Nguyên bên Ấn là hình tượng cho tính chất Từ và Bi, sang bên Tàu thì trở thành hình tượng cho tính chất Hỉ và Xả.

大腹能容 容天下難容之事
慈顏常笑 笑世閒可笑之人
Đại phúc năng dung dung thế gian nan dung chi sự
từ nhan thường tiếu tiếu thế gian khả tiếu chi nhân

Sự biến đổi này liệu có phải là một bước tiến? Đọc TTPGAĐ của E. Conze do Hạnh Viên dịch, thấy có đoạn bàn về bốn chữ từ, bi, hỉ, xả... Cảm giác giống như được thấy 2 mặt của một đồng xu.
(Chú ý, đoạn trên là tản mạn của một người chưa am tường gì về các kiến thức Phật pháp)



"Nam Mô (cũng Nam vô): Có 6 nghĩa: kính lễ, quy y, phụng thờ, cứu ngã, độ ngã, quy mạng.
A: Có nghĩa là Vô, Không
Di Đà: Nghĩa là lượng
Phật: Người giác ngộ.
Nam mô A Di Đà Phật là: Kính lễ đấng giác ngộ vô lượng; cũng có nghĩa là: Con quay về nương tựa vào đấng giác ngộ vô lượng."




Đọc tiếp →