Thứ Sáu, 30 tháng 7, 2010

Sơn trà



山茶

春來客贈我山茶
醉裏曚曨不辨花
白髮蒼顏吾老矣
紅袍金帶子真耶
尋常細雨驚穿葉
蕭瑟晨風怨落茄
近日相看惟以鼻
了無香氣一呵呵

阮勸


Sơn trà

Xuân lai khách tặng ngã sơn trà
Tuý lý mông lung bất biện hoa
Bạch phát thương nhan ngô lão hĩ
Hồng bào kim đái tử chân da
Tầm thường tế vũ kinh xuyên diệp
Tiêu sắt thần phong oán lạc già
Cận nhật tương khan duy dĩ tỵ
Liễu vô hương khí nhất kha kha

Nguyễn Khuyến

Sơn trà

Xuân tới có người gởi tặng hoa
Đương say ta chẳng biết sơn trà
Mặt xanh tóc trắng ta già vậy
Đai bạc áo hồng bác đấy a
Mưa nhỏ tầm thường e xỏ lá
Gió mai hiu hắt ngại rơi hoa
Buổi nay nhìn ngắm duy nhờ mũi
Đếch thấy hơi hương một tiếng khà

Pang De dịch dật.


-------------------------
(1) Sơn trà: loại hoa có sắc mà không có mùi hương.

(2) Xuyên lá: dịch sát chữ “xuyên diệp 穿葉”. Tiếng Việt có thành ngữ “xỏ lá” để chỉ những hành động thâm hiểm, đểu cáng. Tác giả đưa thành ngữ Việt này vào thơ Hán thành “xuyên diệp” với hàm ý đả kích kẻ đã chơi trò “xỏ lá” tặng cây trà.

(3) Rụng đài hoa: dịch sát chữ “lạc già 落茄”. Đây tác giả cũng có ngụ ý chơi chữ, thể hiện rõ trong bài tự dịch nôm thành “rơi già” (đồng âm với dơi già, con dơi già).

Xem thêm bài "Tạ lại người cho hoa trà" (Tác giả tự dịch bài "Sơn trà") phần thơ Nôm.

Trong cuốn sách "Chu Mạnh Trinh - Thơ và giai thoại", NXB VHTT, 2000, tác giả Lê Văn Ba đã đưa ra những cứ liệu thuyết phục để khẳng định rằng Chu Mạnh Trinh không phải là người tặng hoa trà cho Nguyễn Khuyến.

Nguồn:
1. Thơ Văn Nguyễn Khuyến, Nhà xuất bản Văn học, 1971.
2. Nguyễn Khuyến - Tác phẩm, Nguyễn Văn Huyền biên khảo, NXB KHXH, 1984.
3. Trần Văn Nhĩ, Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến, NXB Văn Nghệ, 2005.
-----------------------------
* Bản tự dịch của Tam nguyên Yên Đổ:

Tết đến người cho một chậu trà,
Đương say ta chẳng biết rằng hoa.
Da mồi, tóc bạc ta già nhỉ,
Áo tía đai vàng bác đó a?
Mưa nhỏ những kinh phường xỏ lá,
Gió to luống sợ lúc rơi già.
Xem hoa, ta chỉ xem bằng mũi,
Đếch thấy hơi hương một tiếng khà.

------------------------------------------

* Nguồn: http://www.thivien.net/viewpoem.php?ID=39407
Đọc tiếp →

Thứ Hai, 26 tháng 7, 2010

Khóc Ân Dao kỳ một



哭殷遙其一

送君返喪石樓山
松柏蒼蒼賓馭還
埋骨白雲長已矣
空餘流水向人間

Khốc Ân Dao kỳ nhất

Tống quân phản táng Thạch lâu san,
Tùng bách thương thương tân ngự hoàn.
Mai cốt bạch vân trường dĩ hĩ,
Không dư lưu thuỷ hướng nhân gian.

Vương Duy

Khóc Ân Dao kỳ một

Đưa anh lại núi Thạch Lâu vùi
Tùng bách xanh màu ngựa khách lui
Mây trắng chôn xương người đã tận
Trần còn dòng nước chảy về xuôi

Leopard dịch.

------------------------------------------
01. Thương thương:

* VôDanhKhách viết:

1. Xanh sẫm của cỏ như trong 蒼海 = thương hải = bể xanh
2. Xanh như trong 倉海 = thương hải = bể xanh.
3. Mông mênh như trong 滄海 = thương hải = bể khơi.

Có vài bài thơ Đường xài hai chữ 蒼海. Khách không tìm thấy bài nào xài chữ 倉海.

Có thể nói tất cả các bài thơ cửa Lý Thương Ẩn xài hai chữ 滄海 như trong bài: Cẩm Sắt, Yết Sơn, Diêu Lạc....

* Vi Nhất Tiếu viết:

Gốc chữ thương 倉, thêm bộ thảo thành thương 蒼, thêm bộ thủy thành 滄, đều trỏ vào màu xanh. Tuy nhiên màu xanh của chữ thương khác với màu xanh của chữ thanh 青. Thanh là màu xanh "cơ bản", xanh của ngũ hành, tượng cho Mộc ở phương Đông. Đông tà Hoàng Dược Sư là "thanh bào quái khách" chứ không phải "thương bào quái khách", chúa xuân theo gió Đông mà đến nên gọi là Thanh đế chứ không phải Thương đế.

Chữ thương 蒼 có bộ thảo nên dùng trỏ sắc xanh của cây cối, chiêu Thương tùng nghênh khách của Hoa Sơn chính là dùng chữ thương này. Ngoài ra còn dùng để trỏ màu sắc của bầu trời, trong bài tế hoa phù dung của Bảo Ngọc câu đầu tiên là 天何如是之蒼蒼兮 - Thiên hà như thị chi thương thương hề (trời kia sao xanh xanh quá vậy)...

Chữ thương 滄 có bộ thủy nên dùng để tả biển cả, còn có hàm ý bát ngát trùng khơi chứ không đơn giản là chỉ màu sắc. Ngoài ra do điển cố "thương hải biến vi tang điền" nên dùng chữ "thương hải" thường kín đáo bộc lộ tình cảm, mang màu sắc ưu tư trước những biến động của nhân gian.

Chữ thanh 清 có bộ thủy vào lại chuyển sang mang nghĩa là nước trong, là thanh sạch, giản dị, chứ không còn là màu xanh nữa, nên ít dùng để tả biển, có chăng hay dùng để tả trời (cõi thái thanh) hay gió (thanh phong minh nguyệt)...

Thương khung thần kiếm viết là 蒼穹神剑, chữ thương bộ thảo, còn chữ khung nghĩa là vòm, thương khung là cái vòm màu xanh >>> chỉ trời...

http://www.vietkiem.com/forums/index.php?showtopic=16363


* Thơ Đỗ Phủ:

Thiên thượng phù vân như bạch y
Tu du hốt biến vi thương cẩu

天上浮雲如白衣
斯須變幻為蒼狗

http://hi.baidu.com/%BC%AA%CB%FB%C9%F9/blog/item/dc5cce06a6ee3577020881b9.html

* Kiêm gia - Kinh thi:

Kiêm hà (gia) thương thương (蒼蒼), bạch lộ vi sương


02. Trường dĩ hĩ:

Đỗ Phủ có thơ là "Tồn giả thả thâu sinh, tử giả trường dĩ hỹ" (存者且偷生,死者長已矣). Nghĩa là "Kẻ còn sống qua ngày, kẻ chết thế là hết."

--------------------------------

* http://www.viethoc.org/
Đọc tiếp →

Chủ Nhật, 25 tháng 7, 2010

Tạp thi kỳ một



雜詩其一

壯士白頭悲向天
雄心生計兩茫然
春蘭秋菊成虛事
夏暑冬寒奪少年
黃犬追歡鴻嶺下
白雲臥病桂江邊
村居不厭頻沽酒
尚有囊中三十錢

Tạp thi kỳ nhất

Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên
Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên
Xuân lan thu cúc thành hư sự
Hạ thử đông tàn đoạt thiếu niên
Hoàng khuyển truy hoan Hồng Lĩnh hạ
Bạch vân ngọa bệnh Quế Giang biên
Thôn cư bất yếm tần cô tửu
Thượng hữu nang trung tam thập tiền

Nguyễn Du

Tạp thi kỳ một

Đầu bạc trông trời tráng sĩ đau
Hùng tâm sinh kế vẫn chưa đâu
Xuân lan thu cúc thành suông cả
Hạ nóng đông hàn đoạt tuổi mau
Hồng Lĩnh chó vàng vui tìm mãi
Quế Giang mây trắng bệnh nằm lâu
Thôn quê chẳng chán hoài mua rượu
Ba chục tiền còn giắt túi sau

Leopard dịch.


* Hoàng khuyển: Thừa tướng nhà Tần là Lý Tư bị khép tội, lúc lâm hình còn nhớ tới cái thú dắt chó vàng đuổi muông thú. (Nguyễn Du có biệt hiệu là Hồng sơn hiệp lộ, nghĩa là phường săn ở núi Hồng.)

* Tam: Hán tự là 三, cũng đọc là "tám"?
Đọc tiếp →

Thứ Sáu, 23 tháng 7, 2010

Ngẫu hứng kỳ hai



偶興其二

一淚天涯洒斷蓬
羅浮江上起秋風
黃雲白水兩相照
急管悲絲萬不同
六尺拘縻長役役
四時拋擲太匆匆
征鴻影裏家何在
隱隱瓊雲三兩峰

Ngẫu hứng kỳ nhị

Nhất lệ thiên nhai sái đoạn bồng
La Phù giang thượng khởi thu phong
Hoàng vân bạch thuỷ lưỡng tương chiếu
Cấp quản bi ty vạn bất đồng
Lục xích câu my trường dịch dịch
Tứ thì phao trịch thái thông thông
Chinh hồng ảnh lý gia hà tại
Ẩn ẩn Quỳnh vân tam lưỡng phong

Nguyễn Du

Ngẫu hứng kỳ hai

Bồng đứt bên trời lệ thấm rơi
La Phù trên sóng gió thu khơi
Mây vàng nước trắng chung đôi chiếu
Sáo gấp tơ buồn chẳng thuận chơi
Sáu thước cột ràng hoài khổ nhọc
Bốn mùa quăng quật vẫn mau trôi
Xa trong bóng hạc nhà đâu tá
Thấp thoáng mây Quỳnh khóm núi phơi

Leopard dịch.




Đọc tiếp →

Trước rượu



對酒

趺坐閒窗醉眼開
落花無數下蒼苔
生前不盡樽中酒
死後誰澆墓上杯
春色漸遷黃鳥去
年光暗逐白頭來
百期但得終朝醉
世事浮雲真可哀

Đối tửu

Phu toạ nhàn song tuý nhãn khai
Lạc hoa vô số há thương đài
Sinh tiền bất tận tôn trung tửu
Tử hậu thuỳ kiêu mộ thượng bôi
Xuân sắc tiệm thiên hoàng điểu khứ
Niên quang ám trục bạch đầu lai
Bách kỳ đãn đắc chung triêu tuý
Thế sự phù vân chân khả ai

Nguyễn Du

Trước rượu

Mắt say ngồi xếp cạnh song nhàn
Hoa rụng rêu xanh bội cánh dàn
Chung rượu ngày còn ta chẳng cạn
Nấm mồ khi mất chén nào chan
Sắc xuân dần đổi oanh vàng bặt
Cảnh tháng ngầm trôi tóc trắng lan
Trăm tuổi mong ngày say trọn buổi
Việc đời mây nổi luống buồn than

Leopard dịch.



Đọc tiếp →

Thứ Tư, 21 tháng 7, 2010

Làm thay người đi thú lâu năm mong về

代作久戍思歸

關外秋風送笛吹
班超頭白未城歸
十年許國君恩重
千里離家旅夢遲
夜繡榮花身外幻
朝雲名利眼前非
隴阡歲歲瓜田熟
苦盡甘來尚有期

Đại tác cửu thú tư quy

Quan ngoại thu phong tống địch xuy
Ban Siêu đầu bạch vị thành quy
Thập niên hứa quốc quân ân trọng
Thiên lí ly gia lữ mộng trì
Dạ tú vinh hoa thân ngoại huyễn
Triêu vân danh lợi nhãn tiền phi
Lũng thiên tuế tuế qua điền thục
Khổ tận cam lai thượng hữu kì

Nguyễn Du

Làm thay người đi thú lâu năm mong về

Ải ngoài sáo thổi gió thu đưa
Tóc bạc Ban Siêu chửa lại nhà
Báo quốc mười năm ân vẫn nặng
Cách quê vạn dặm mộng còn xa
Gấm đêm phú quý ngoài thân ảo
Mây sớm lợi danh trước mắt qua
Khoảnh ruộng bao mùa dưa chín đỏ
Mong ngày khổ hết khúc vui ca

Leopard dịch.


* Qua điền thục: Liên Xưng và Quản Chi Phủ đi thú đất Quý Châu, khi đi thì mùa dưa chín, hẹn cùng người nhà đến mùa dưa chín năm sau sẽ về (Tả Truyện). Tức là đi thú chỉ một năm. Còn người trong này thì năm nào cũng thấy dưa chín ở bên cạnh nơi đồn trú, nhưng chưa được về.

http://www.hoasontrang.us/vietcothi/index.php?loi=14
Đọc tiếp →

Thứ Bảy, 17 tháng 7, 2010

Khúc hát Lương Châu

涼州詞

葡萄美酒夜光杯,
欲飲琵琶馬上催。
醉臥沙場君莫笑,
古來征戰幾人回。

王翰


Lương Châu từ


Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi
Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.

Vương Hàn

Khúc hát Lương Châu

Rượu vị bồ đào chén dạ quang
Toan nâng trên ngựa tiếng đàn ran
Say nằm chiến trận anh đừng mỉa
Chinh chiến xưa nay mạng khó toàn

Leopard dịch.



Đọc tiếp →

Thứ Năm, 15 tháng 7, 2010

Mưa đêm



夜雨

早蛩啼複歇,
殘燈滅又明。
隔窗知夜雨,
芭蕉先有聲。

Dạ vũ

Tảo cung đề phục yết,
Tàn đăng diệt hựu minh.
Cách song tri dạ vũ,
Ba tiêu tiên hữu thanh.

Bạch Cư Dị

Mưa đêm


Con dế sáng hết kêu rồi bặt
Ngọn đèn tàn đã tắt giờ khơi
Đêm nằm biết có mưa rơi
Tiếng tàu lá chuối vừa ngơi cửa ngoài

Leopard dịch.
Đọc tiếp →

Chủ Nhật, 11 tháng 7, 2010

Tạp ngâm



雜吟

踏遍天涯又海涯,
乾坤隨在即為家。
平生不起蒼蠅念,
今古誰同白蟻窩。
寥落壯心虛短劍,
蕭條旅悶對時歌。
閉門不識春深淺,
但見棠藜落盡花。


Tạp ngâm


Đạp biến thiên nha hựu hải nha,
Càn khôn tuỳ tại tức vi gia.
Bình sinh bất khởi thương dăng niệm,
Kim cổ thuỳ đồng bạch nghĩ oa?
Liêu lạc tráng tâm hư đoản kiếm,
Tiêu điều lữ muộn đối thì ca.
Bế môn bất thức xuân thâm thiển,
Đãn kiến đường lê lạc tận hoa.


Nguyễn Du

Tạp ngâm

Góc bể chân mây bước chẳng ngừng
Đất trời đâu đến ấy phòng cung
Nghĩ suy không để ruồi xanh bám
Ăn ở đâu cho kiến trắng chung
Sầu khách tiêu điều ca dễ lắng
Tráng tâm lưu lạc kiếm khôn dùng
Cửa cài không biết xuân còn hết
Chỉ thấy hoa lê rụng kiệt cùng

Leopard dịch.

=============================
* Thương dăng: Ruồi xanh, tức là nhặng.

* Bạch nghĩ: Kiến trắng, tức là mối.

* Đường lê: Pyrus betulaefolia/ Pyrus betulifolia (Pear tree)

Thảo mộc trong cổ văn Việt Nam
http://namkyluctinh.org/a-vantho/vkdien/vkdien-thaomoc.htm

"Đường lê, một cây cao trung bình, tên khoa học là -pyrus betulaefolia họ hoa hồng Rosaceae... "


Đọc tiếp →

Thứ Sáu, 9 tháng 7, 2010

Công danh



"Có trung hiếu nên đứng trong trời đất,
Không công danh thời nát với cỏ cây,
Chí tang bồng hồ thỉ dạ nào khuây..."

- Phận sự làm trai (1)


"Đã mang thân ở trong trời đất,
Phải có danh gì với núi sông.
Nợ sách đèn đem nghiên bút trả xong,
Cầu xe ngựa lúc đi về mới tỏ..."

- Nợ tang bồng (2)


"Nhập thế cục bất khả vô công nghiệp,
Xuất mẫu hoài tiện thị hữu quân thân.
Mà chữ danh liền với chữ thân,
Thân đã có ắt danh âu phải có."

- Nghĩa người đời


"Có từng gian hiểm mình càng trí
Song lắm phong trần lụy cũng sâu
Năm ấy đã qua thời chả lại
Giống kia có muộn mới còn lâu..."

- Muộn thành đạt
=================================

(1) Tang: Cây dâu. Bồng: cỏ bồng. Hồ: cây cung. Thỉ: mũi tên.

Tang bồng hồ thỉ là cây cung bằng cây dâu, mũi tên bằng cỏ bồng. Theo Kinh Lễ, khi nhà vua sanh hoàng tử (con trai), quan coi việc lấy cây cung bằng cây dâu và 6 mũi tên bằng cỏ bồng, bắn ra bốn hướng (Đông, Tây, Nam, Bắc) rồi bắn lên trời một mũi, bắn xuống đất một mũi, ngụ ý nói rằng: người con trai lớn lên có chí khí ở bốn phương, tung hoành ngang dọc trong Trời Đất.

Tang bồng hồ thỉ là chí khí nam nhi, vẫy vùng ngang dọc trong Trời Đất.



(2) Chữ vũ trụ trong bài hát nói này dường như đồng nghĩa với chữ trời đất, thế nên câu mở đầu có nghĩa là trong trời đất này mọi việc đều là phận sự của kẻ sĩ. Chẳng có công danh thì hỏi đứng giữa cõi trần này làm chi. Chí cung tên chót hẹn với non sông, theo đạo Nho là phải trung vói vua hiếu với cha. Đã mang thân sống trong trời đất này, phải có danh với núi sông. Là nhà Nho là mang nợ sách đèn, và vì thế phải trang trải bằng nghiên bút. Tác giả chợt nhớ đến truyện người Tư Mã Tương Như, người đời Hán bên Trung Quốc, vào kinh đô tìm công danh có thề rằng:

Bất thừa xa mã bất hoàn quá thử kiều. (Bất thừa cao xa tứ mã, bất phục quá thử kiều.)

Nghĩa là: Nếu không ngồi xe ngựa không về qua cầu này.


Đọc tiếp →

Thứ Năm, 8 tháng 7, 2010

Nỗi oán khuê phòng



閨怨

睡起鉤簾看墜紅,
黃鸝不語怨東風。
無端落日西樓外,
花影枝頭盡向東。

Khuê oán

Thuỵ khởi câu liêm khán truỵ hồng,
Hoàng ly bất ngữ oán đông phong.
Vô đoan lạc nhật tây lâu ngoại,
Hoa ảnh chi đầu tận hướng đông.

Trần Nhân Tông

Nỗi oán khuê phòng

Giấc tàn hoa thấy rụng đầy bông
Chẳng hót oanh hờn ngọn gió đông
Vô cớ lầu tây vừng dương lặn

Đằng đông đầu nhánh bóng hoa trông

Leopard dịch.


====================================
* Bản dịch của Đông A:

Nỗi oán khuê phòng

Vén rèm ngủ dậy ngắm hoa rơi,
Oanh oán gió đông cứ ngậm lời.
Vô cớ bên đoài ô khuất gác,
Bóng hoa đầu ngọn ngóng đông hoài.

* MỘT THOÁNG CUNG CHIÊM ĐỆ NHẤT MINH TRIẾT TRẦN NHÂN TÔNG:
Nguyễn Đình Chú viết

http://www.viet-studies.info/NguyenDinhChu_TranNhanTon.htm
Đọc tiếp →

Tiếng dế đêm thu

秋夜蛩聲

一天星斗夜沉沉,
乍頂聲聲思不禁。
隔竹高低敲丙枕,
和霜斷續瀉滄音。
愁侵角戍三更月,
喚起鄉閨萬里心。
銷鐵橫秋男子操,
丁寧莫使入人深。

Thu dạ cùng thanh

Nhất thiên tinh đẩu dạ trầm trầm,
Sạ đính thanh thanh tứ bất câm.
Cách trúc cao đê xao bính chẩm,
Hoà sương đoạn tục tả thương âm.
Sầu xâm giác thú tam canh nguyệt,
Hoán khởi hương khuê vạn lý tâm.
Tiêu thiết hoành thu nam tử tháo,
Đinh ninh mạc sử nhập nhân thâm.

Nguyễn Khuyến

Tiếng dế đêm thu

Một trời Tinh Đẩu thẳm đêm trường
Vẳng tiếng râm ran dạ khó ngưng
Cách trúc nhỏ to lay gối muộn
Hòa sương đứt nối rót âm thương
Canh ba đồn ải buồn tiếng ốc
Dặm vạn phòng khuê khổ bóng hường
Hoành giáo suốt thu noi tiết tháo
Đinh ninh chẳng để ngấm sâu lòng

Leopard dịch


=============================================
Bản dịch nghĩa:

Một trời sao Tinh sao Đẩu, đêm sâu thăm thẳm
Bỗng đến tiếng râm ran, lòng dạ khó im
Cách trúc tiếng to nhỏ gõ lay gối muộn
Hòa sương tiếng đứt nối tuôn chảy âm thanh của mùa thu
Sầu lan vào tiếng ốc nơi đồn thú, trăng lúc canh ba
Tiếng khơi âm hưởng chốn phòng khuê, tâm tình xa vạn dặm
Mùa thu hoành cây giáo sắt, cái tiết tháo của nam nhi (*)
Đinh ninh không để (tiếng dế) thấm sâu vào người


* Thương âm 滄音: "thương" chỉ tên âm giai trong ngũ âm nhạc cổ, cũng hiểu là thuộc về mùa thu.

* "Bính chẩm 丙枕: "bính" chỉ thời khắc lúc nửa đêm, giống như "bính dạ" 丙夜 là lúc nửa đêm hay canh ba. "Bính" cũng có nghĩa là thuộc về lửa...

* Kiến giải của TĐVH về câu "Tiêu thiết hoành thu nam tử tháo":
(trích đoạn)

"Gửi chú Leopard đẹp giai...

...

Khi mới đọc bài "Thu dạ cùng thanh" của cụ Nguyễn Khuyến, anh cũng thấy có nhiều chỗ lờ mờ, chưa hiểu rõ lắm, cảm giác giống hệt chú. Sau khi tìm hiểu nghĩa lý từng chữ, từng câu của bài thơ này, anh xin đưa ra một vài suy nghĩ của riêng mình, có thể gọi là thiển ý như sau:

1. Đúng như chú đã phân vân về chữ tiêu 銷 (tiêu tan, mất mát) mà Vanachi đã chép sai, chữ đúng phải là 鏢 , nghĩa là cái vỏ đao có bịt đồng, nhưng "tiêu thiết" thì vẫn khó hiểu. Không lẽ là sắt làm bằng vỏ đao có bịt đồng? May mà học giả Nguyễn Văn Huyền đã chú rằng "tiêu thiết" là đảo ngữ của "thiết tiêu" cho hợp luật bằng trắc. Ông còn chua thêm: Tiêu là một loại vũ khí giống như giáo, lao (trong các từ điển cổ Hán văn mà anh có, "Tiêu" chỉ có nghĩa là vỏ đao có bịt đồng). Dù sao cũng không quá quan trọng là đao sắt hay giáo sắt. Chúng ta hiểu "Tiêu thiết" ám chỉ một loại vũ khí làm bằng sắt. Người xưa cũng có cái khó là đôi khi dùng chữ cũng chỉ cốt lấy cái ý cho hợp bằng trắc, số chữ cân đối, chưa kể là phải đảo ngữ như Nguyễn Văn Huyền đã giải thích. Chẳng hạn "bôi tửu" trong bài "Đề Lưu Quan Trương đào viên kết nghĩa xứ" của Nguyễn Đề, nếu hiểu là danh từ thì hơi có vấn đề, ở đây cũng là đảo ngữ cho hợp vận mà thôi hoặc có thể hiểu "bôi" làm động từ là "nâng chén".

2. Chữ hoành 橫 làm động từ nghĩa là “cầm ngang” như "hoành đao" 橫刀 là cầm ngang dao. Tháo 操 là chí (tiết tháo). "Nam tử tháo" là cái chí khí của kẻ nam nhi. Cả câu là một cụm danh từ (Noun phrase). Dịch nghĩa bắt đầu từ "nam tử tháo" cho đến "thu" rồi đến "hoành" và cuối cùng là "tiêu thiết". Có thể hiểu là: Cái chí của kẻ nam nhi là phải, mùa thu cầm ngang ngọn giáo.

3. Bây giờ anh trình bày cách hiểu của mình về hai câu:

愁侵角戍三更月,
喚起鄉閨萬里心。
Sầu xâm giác thú tam canh nguyệt,
Hoán khởi hương khuê vạn lý tâm.

Để hiểu cho thấu đáo, anh nghĩ chúng ta phải hiểu bối cảnh của bài thơ. Anh thì hiểu rằng, bài thơ này miêu tả tâm trạng của người lính nơi đồn trại xa nhà. Vì vậy anh lý giải thế này:

a) 戍三更月 là cụm danh từ, tức là “Trăng canh ba ở nơi biên thú đồn tại”. "Sầu xâm" là nỗi buồn xâm lấn, át đi. Giác 角 là tiếng “Tù và” báo “canh” nơi đồn trại. Vậy cả câu: 愁侵角戍三更月, anh hiểu là: Nỗi sầu át đi tiếng tù và (vào lúc) trăng canh ba nơi đồn trú.

b) 閨萬里心 là cụm danh từ, tức là “Nỗi lòng xa vạn dặm của người thiếu phụ chốn phòng khuê”, cũng tức là "Nỗi lòng của người thiếu phụ ngóng chồng nơi vạn dặm". Chữ hương 鄉, anh nghĩ phải đọc là hưởng (tất nhiên trong bài đọc là hương cho hợp vận) tức là "âm hưởng dội lại". Cụm "Hoán khởi" thì rất rõ ràng là "khơi dậy, khơi gợi". Tóm lại theo anh: "Hoán khởi hương khuê vạn lý tâm" phải hiểu là "Khơi gợi tiếng (âm hưởng của nỗi) lòng nơi vạn dặm của người khuê phụ". Người chồng trong cảnh cô đơn, buồn bã nơi biên thú đã hình dung vợ mình nơi xa ngàn dặm cũng đang ngóng mình, sầu nhớ đến mình và hình dung ra rằng tiếng lòng người vợ đang vọng đến nơi biên thú mà mình đi lính. Ở đây, người chồng nhớ vợ nhưng cũng chính là nói về nỗi nhớ của người vợ (chinh phụ) có chồng (chinh phu) đi lính. Nói đến đây, anh lại nhớ đến bài Khuê oán của Vương Xương Linh, Nạn hữu xuy địch của Bác Hồ. Thật là ý vị thiết tha. Lời giản mà ý sâu. Khó lòng mà tả xiết!

c) Đây là một bài thơ hay, giàu phong vị cổ điển. Cụ Nguyễn Khuyến tài thật!

..."
Đọc tiếp →

Thứ Tư, 7 tháng 7, 2010

Some flowers in your hair



If you're going to San Francisco
Be sure to wear some flowers in your hair
If you're going to San Francisco
You're gonna meet some gentle people there




Đọc tiếp →

Thứ Ba, 6 tháng 7, 2010

Lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng



黃鶴樓送孟浩然之廣陵


故人西辭黃鶴樓,
煙花三月下陽州。
孤帆遠影碧空盡,
惟見長江天際流

Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng

Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu,
Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu.
Cô phàm viễn ảnh bích không tận,
Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu.


Lý Bạch

=======================================

* Yên hoa: hoa khói

煙花 : 指艷麗的春景
http://www.viethoc.org/phorum/read.php?15,31123,page=15

* Thi liệu, thi nhãn, nhãn tự, quý ngữ... etc

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ? / Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.
(Người xưa đã cưỡi hạc vàng mà bay đi rồi / Nơi này luống chỉ còn lại lầu Hoàng Hạc mà thôi).

Các nhà phê bình Trung Quốc rất thích chữ “空 - không” (luống những) trong câu thơ thứ hai, xem đây là thi nhãn (con mắt của bài thơ), thể hiện cái hồn của cả bài thơ: tâm trạng bâng khuâng, mênh mang, man mác, buồn lâng lâng mà lại da diết nhẹ nhàng.
Tản Đà chắc cũng rất thích chữ “không” đó và đã lột tả rất hay bằng chữ “trơ”: Hạc vàng ai cưỡi đi đâu? / Mà nay Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ.

http://honvietquochoc.com.vn/Van-hoc/Ly-luan-phe-binh/Xin-mao-muoi-may-loi-ve-mot-ban-dich-cua-Tan-Da.aspx



Đọc tiếp →

Thứ Hai, 5 tháng 7, 2010

Ra ải - Khúc hát Lương Châu




出塞 - 涼州詞

黃河遠上白雲間,
一片孤城萬仞山。
羌笛何須怨楊柳,
春風不度玉門關。

Xuất tái - Lương Châu từ

Hoàng hà viễn thướng bạch vân gian,
Nhất phiến cô thành vạn nhận san.
Khương địch hà tu oán dương liễu,
Xuân phong bất độ Ngọc Môn quan.

Vương Chi Hoán

Ra ải - Khúc hát Lương Châu

Hoàng Hà xa leo tầng mây trắng
Mảnh thành cô vạn trượng non cao

Sáo Khương hờn liễu được nào

Gió xuân đâu có bay vào Ngọc Môn


Leopard dịch.

====================================================

* Các nguồn tham khảo
:




01.
Từ An Tây nhìn về phía Tây thì ốc đảo gần nhất là Ha Mật (Hami) mà ngày xưa được gọi là Y Ngô, cách khoảng 300km đường chim bay. Muốn đến, Huyền Trang phải lặn lội trong sa mạc, nhất là phải đi vòng để tránh năm phong hỏa đài, năm vọng gác rất nghiêm nhặt nằm dưới sự chỉ huy của một cửa ải mang tên Ngọc Môn quan. Ngày đó thương nhân mang đá quí và ngọc thạch từ phương Tây qua cửa quan này để đưa vào Trung quốc nên cửa ải này mang danh "Ngọc Môn", thế nhưng nó nằm trong một vùng sa mạc vô cùng hẻo lánh. Ngọc Môn quan không chỉ kinh hoàng đối với Huyền Trang mà đối với cả quan quân sống ở miền biên tái lạnh lẽo. Vương Chi Hoán, nhà thơ sống sau Huyền Trang khoảng một trăm năm viết về Ngọc Môn quan như sau trong bài thơ nổi tiếng Xuất tái :

Hoàng hà viễn thướng bạch vân gian
Nhất phiến cô thành vạn nhận san
Khương địch hà tu oán dương liễu
Xuân phong bất độ Ngọc Môn quan

Xa xa, sông Hoàng Hà leo lên tận khoảnh mây trắng
Một vuông thành cô quạnh, muôn trượng núi cao
Tiếng sáo người Khương cần chi thổi bài Chiết Liễu
Vì gió xuân nào có qua cửa ải Ngọc Môn đâu!

http://chimviet.free.fr/truyenky/ntbach/ntbl055.htm



02.
Ngọc Môn Quan [Ải Ngọc Môn]

Tục gọi thành Tiểu Phương Bàn, nay khoảng 90 km phía Tây Bắc của thành phố Đôn Hoàng, tỉnh Cam Túc, là một trong những cái ải quan trong nối liền con đường tơ lụa với địa phận Trung Quốc được thiết lập 2 lần vào đời Hán và Đường. Ngọc Môn Quan (ải Ngọc Môn) hiện nay là di chỉ của đời Đường. Ngọc Môn Quan là nơi văn nhân mặc khách ngâm vịnh của Trung Quốc từ ngàn xưa, nhà thơ Vương Chi Hoán王之渙 đã từng để lại giai cú "Khương địch hà tu oán dương liễu, xuân phong bất độ Ngọc Môn Quan"

http://www.viethoc.org/phorum/read.php?10,7974,page=2

03.
Lại nhớ đến hai câu thơ của Lý Bạch khi "kể chuyện" Vương Chiêu Quân cống Hồ: Nhất thướng Ngọc quan đạo/ Thiên nhai khứ bất qui. Một khi đã bước lên cửa ải Ngọc Môn là đi mãi về phía chân trời không trở lại…
[bài Vương Chiêu Quân]


http://vietbao.vn/Phong-su/Ky-3-Dau-xua-truong-thanh/20758323/262/

04.
Cửa ải Ngọc Môn ở Tiểu Phư04.ơng Bàn Thành phía tây Huyện Đôn Hoàng, tỉnh Cam Túc có tên vậy là do tất cả đá ngọc sản xuất ở Hoà Điền, Tân Cương thời cổ đều phải đi qua cửa ải này.

http://www.khoahoc.com.vn/cau-chuyen/5792_Su-tich-ten-goi-cac-cua-ai-Van-Ly-Truong-Thanh.aspx


05.
Đời Hán, vùng ngoài quan ải nếu không phải là nơi đi đầy, cũng toàn việc binh đao. Bài hát Lương Châu thật hiếm có, chỉ trong một câu ngắn, ghi lại một không gian lịch sử: Lương Châu hồi đó chưa thuộc "thiên triều", hiện giờ thuộc Cam Túc. Thời cổ đại, Tây Vực ám chỉ một vùng rộng lớn ngày nay gồm Tân Cương, Trung Á, Tây Á.

Người Hán gọi tất cả người không-Hán miệt đó là "rợ" Hồ, Hu á, đám rợ miền Bắc và Tây, gồm người Persian, Sogdian, Turkish, Xianbi, Indians, Kushans, và Xiongnu. Xiongnu: Hung Nô, rất quen thuộc với người mình. Nói chung, Man Di Nhung Ðịch đều kém cỏi không bằng "người Hán", dẫu tất cả những món trong bài thơ, người Hán hoàn toàn không có, hoặc bị các Rợ đánh phá đến phải làm Vạn Lý Trường Thành.


Có thể vì có nhiều bảo vật, Khotan dần dần bị Trung Hoa nuốt trọng. Tham vọng "đại Hán" lấn chiếm thiên hạ, dù tốn hàng ngàn năm, là bài học lịch sử không bao giờ quên.

Vườn nho Khotan như một thảm nhung xanh cạnh sa mạc cát bỏng. Nho ở Khotan nhiều loại, không hột, ngon ngọt, làm nho khô hay rượu. Rượu nho hồng Khotan, hồi xưa nổi tiếng khắp miền Trung Á. Uống rượu Khotan phải dùng ly bằng ngọc trắng Khotan như ly kế bên.



Thời Hán Vũ Ðế, có mang nho giống về trồng trong cung điện. Nhưng bảy trăm năm sau nho vẫn chưa phải là loại trái phổ biến. Ðường thiên lý từ Khotan đến Bejing là 3,200 km. Thi sĩ đời Ðường Vương Chi Hoán than rằng tiếng sáo của người Khương cứ reo mãi làm chi, khiến người chốn biên cương có nhớ cũng đành, vì Ngọc Môn Quan xa tới nỗi "gió xuân không tới được/xuân phong bất độ Ngọc Môn Quan." Vì thế, nho và rượu nho Khotan chỉ dành cho vua chúa. Mãi đến đời Ðường Thế Tông, Trung Hoa mới đem giống nho vú ngựa về trồng ở Trường An, và bắt đầu học cách chế tạo rượu nho mà họ tấn phong là bồ đào mỹ tửu, so với rượu Khotan, vị thơm và màu hồng kém tươi.

Trên những tấm gương đồng bắt đầu có hoa văn dây nho. Cũng từ đời Ðường, Lý Bạch, mẹ người Tây Vực, cha người Hán, bắt đầu giòng thơ ngất ngưởng rủ trăng uống rượu "Không bạn, uống mình ta. Mời trăng cùng nâng chén..."

Trong số cống phẩm từ Khotan cho Trung Hoa, có dạ quang bôi, chén dạ quang. Dạ quang trong văn cảnh là tĩnh từ, không phải tên của một loại ngọc/đá nào cả, chỉ hàm ý ca tụng vẻ đẹp của chén ngọc trong vắt, ban đêm toả ánh sáng đẹp như trăng. Chén dạ quang càng không phải là "ngọc lưu ly". Lưu ly là thuỷ tinh, làm bằng cát, Quartz SiO2. Mãi đến đời nhà Ðường, Trung Hoa vẫn không làm được đồ thuỷ tinh, phải nhập từ Trung Á. Thuỷ tinh không phải vật tầm thường, mà là tinh hoa của nền văn minh Trung Á, xin trở lại trong một bài khác về "ngọc lưu ly".

Chămpa/Chiêm Thành chịu ảnh hưởng Ấn Ðộ, cũng có lưu ly. Trong cống phẩm của Chămpa cho Trung Hoa, có chuỗi "ngọc lưu ly". Trong tiếng Việt, lưu ly không còn dính líu tới thuỷ tinh, mà ám chỉ sự trong trẻo hoặc men bóng như ngọc, ví dụ ngói lưu ly, hay trong thơ:

Cảm vì em bước chân đi
Nước nghiêng mặt ngọc lưu ly phớt buồn



... [bỏ cách]

Yumen Guan Pass! Jade Gate Pass! Ngọc Môn quan! Trung Hoa có hai cửa ải. Nhạn Môn Quan ở phía Bắc chim nhạn bay kín trời, là nơi Chiêu Quân sang xứ Hồ. Ngọc Môn quan ở phía Tây, nhưng không phải thò tay xuống đất là có ngọc cầm chơi, mà chỉ vì tất cả ngọc nhập vào đất Trung Hoa đều đi qua cổng này. Ngọc Môn Quan cách thành phố Ðôn Hoàng 90 km, là trạm biên giới xa nhất về phía Tây của Trung Hoa lúc đó. Khu vực này khoảng 373 km vuông. Ngọc Môn quan được xây bằng đất hoàng thổ, loess, dài 24.7 mét, ngang 26.5 mét và cao 10.7 mét.


http://depweekly.com/~/goto/tran-thi-vinh-tuong-ngoc-trang-mien-khotan-1990.aspx

06.
Nói tiếp về bài Lương Châu từ: Sông Hoàng Hà ở Trung Quốc bắt nguồn từ Lanzhou (Lan châu?), tức là phía Đông của bình nguyên Tây Tạng, sau đó đổ thẳng về phương Bắc tới giáp với biên giới Mông Cổ, thì vòng lại và đổ ra biển ở phía Đông. Biên giới của Trung Hoa dưới thời Đường không giống như ngày nay. Bây giờ sông Hoàng Hà hoàn toàn thuộc lãnh thổ Trung Quốc, nhưng dưới thời nhà Đường, sông Hoàng Hà chảy qua Ngọc Môn quan ra bên ngoài quan ải một quãng rồi mới quay trở lại. Bài từ này còn có tên là Xuất tái, tức là khi nhà thơ vượt qua ải Ngọc Môn, bước vào sa mạc, nhìn con sông Hoàng Hà cuộn chảy lên phía Bắc, cảm khái trước cảnh vật thiên nhiên mà viết nên bài từ này. Bên trong cửa ải, khi mùa xuân tới cảnh vật vô cùng tươi đẹp, trong khi đó thì phía bên kia Ngọc Môn quan vẫn chỉ là bốn bề bụi cát bay tung, phong cảnh rất thê lương, dưới là cát vàng, trên là mây trắng. Nhà thơ đứng ở bên sông Hoàng Hà nhìn về phương Bắc, con sông cuộn sóng tới tận chân trời, liền hạ bút viết nên câu đầu tiên:


Hoàng Hà viễn thướng bạch vân gian

Câu thơ này của Vương Chi Hoán là sự đồng điệu với Lý Bạch khi Thi tiên viết bài Tương tiến tửu:

Quân bất kiến Hoàng Hà chỉ thuỷ thiên thượng lai

[Anh chẳng thấy, nước sông Hoàng từ trời tuôn xuống]

... [bỏ cách]

Điều đáng nói ở đây là điệu Chiết Liễu có nguồn gốc từ Giang Nam, vì chỉ Giang Nam, vùng đất trù phú này mới có dương liễu xanh tươi, và khúc nhạc mới mang âm điệu nhẹ nhàng man mác. Khương địch - tức là nhạc cụ của người Khương, một ngoại tộc ở phương Bắc, sống bên ngoài quan ải. Âm nhạc của người Hồ mạnh mẽ hào hùng, không có phong vị êm ái nhàn nhã như ở Trung Nguyên, bởi thế mà nhạc khí của người Khương không thể thổi được khúc Chiết Liễu nên nhà thơ mới thốt lên:

Khương địch hà tu oán dương liễu
Xuân phong bất độ Ngọc Môn quan

http://www.vietkiem.com/forums/index.php?showtopic=2372




http://www.drben.net/ChinaReport/Sources/History/Silk_Road/Chronology_Silk-Road.html





Ám Bích Trường Thành - Thiên hạ đệ nhất trường thành - điểm cuối cùng của Vạn Lý Trường Thành về phía Tây, áng ngữ sa mạc Gobi.

http://vn.360plus.yahoo.com/binh_tibet/article?mid=48&fid=-1
Đọc tiếp →

Cảm xúc mùa thu kỳ I

秋興其一

玉露凋傷楓樹林,
巫山巫峽氣蕭森。
江間波浪兼天湧,
塞上風雲接地陰。
叢菊兩開他日淚,
孤舟一繫故園心。
寒衣處處催刀尺,
白帝城高急暮砧。

Thu hứng kỳ nhất

Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm,
Vu Sơn, Vu Giáp khí tiêu sâm.
Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng,
Tái thượng phong vân tiếp địa âm.
Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ,
Cô chu nhất hệ cố viên tâm.
Hàn y xứ xứ thôi đao xích,
Bạch Đế thành cao cấp mộ châm.

Đỗ Phủ

Cảm xúc mùa thu kỳ I

Lác đác rừng phong hạt móc sa,
Ngàn non hiu hắt, khí thu loà.
Lưng trời sóng rợn lòng sông thẳm,
Mặt đất mây đùn cửa ải xa.
Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ,
Con thuyền buộc chặt mối tình nhà.
Lạnh lùng giục kẻ tay đao thước,
Thành Bạch, chầy vang bóng ác tà.

Nguyễn Công Trứ dịch.

==============================

* Bản dịch nghĩa:

Sương như ngọc hại rừng phong trông xơ xác
Núi Vu Sơn, núi Vu Giáp, khí trời mù mịt (tiêu sâm)
Giữa sông, sóng nước chiếm lấy bầu trời trào tuôn
Biên ải, mây gió nối liền (đáp xuống) mặt đất ngấm ngầm, (hay âm u).
Hoa cúc dày khóm hai lần (từng) nở, giọt lệ ngày tha hương
Con thuyền lẻ loi một lần (nhất nhất) (từng) buộc, nỗi nhớ nhà xưa
Áo lạnh khắp nơi giục giã dao thước
Bạch đế thành cao gấp gáp tiếng chày chiều.

Đọc tiếp →

Sông Lấp



Sông Lấp


Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai
Vẳng nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò

Trần Tế Xương
Đọc tiếp →

Trò đời

Trò đời

Một lưng một cốc kém chi mô
Cho biết chanh chua khế cũng chua
Ðã chắc bữa trưa chừa bữa tối
Mà tham con giếc tiếc con rô
Trăm điều đổ tội cho nhà oản
Lắm sãi không ai đóng cửa chùa

Khó bó cái khôn còn nói khéo
Dầu ai có quấy vấy nên hồ

Nguyễn Công Trứ
Đọc tiếp →

Chiều xuân

春暮

百年身世嘆浮萍
春去誰能老下成
流水橋邊楊柳影
夕陽江上鷓鴣聲
月於煙樹雖無分
風與天香尚有情
九十韶光容易過
草心遊子苦難平

Xuân mộ

Bách niên thân thế thán phù bình,
Xuân khứ thuỳ năng bất lão thành.
Lưu thuỷ kiều biên dương liễu ảnh,
Tịch dương giang thượng giá cô thanh.
Nguyệt ư yên thụ tuy vô phận,
Phong dữ thiên hương thượng hữu tình.
Cửu thập thiều quang dung dị quá,
Thảo tâm du tử khổ nan bình.

Thái Thuận

Chiều xuân

Bèo nổi trăm năm ngán phận ta
Xuân qua đâu kẻ chẳng nên già
Bên cầu bóng liễu soi dòng nước
Trên bến tiếng đa dậy ánh tà
Không phận trăng còn lồng khói trúc
Có tình gió vẫn quyện hương hoa
Thiều quang chín chục sao mau chóng
Thân khách khôn vơi nỗi nhớ nhà

Leopard dịch.


============================

* Bản dịch nghĩa:

Thân thế trăm năm than kiếp bèo nổi
Xuân qua ai mà không thành người già
Nước chảy bên cầu bóng liễu soi
Chiều buông trên sông tiếng đa đa kêu
Trăng lồng khói cây tuy không phận vụ
Gió quyện hương trời kể có cảm tình
Chín chục thiều quang dễ dàng qua
Nỗi nhớ nhà (thảo tâm) của người đi xa thật khó lấp bằng.

* Bản dịch của Quách tiên sinh:

Chiều xuân

Tấm thân bèo nổi ngậm ngùi thương,
Xuân lụn đầu ai khỏi điểm sương.
Bóng liễu thướt tha cầu thệ thuỷ,
Tiếng đa não nuột bến tà dương.
Phận dù không phận trăng lồng khói,
Tình vẫn ưa tình gió quyện hương.
Chín chục thiều quang thoi thấm thoát,
Bồn chồn tấc cỏ bước du phương.

Quách Tấn dịch.
Đọc tiếp →

Chủ Nhật, 4 tháng 7, 2010

Tuyệt cú



絕句


二句三年得,
一吟雙淚流。
知音如不賞,
歸臥故山秋。

Tuyệt cú (I)

Nhị cú tam niên đắc,
Nhất ngâm song lệ lưu.
Tri âm như bất thưởng,
Quy ngoạ cố sơn thu.

Giả Đảo

Tuyệt cú (I)

Ba năm trời hai câu lên giấy
Khi ngâm lên lệ chảy hai hàng
Tri âm như đã không màng
Trở về núi cũ thu sang ta nằm.

Leopard dịch.

===================================

Giả Đảo 賈島 (779-843) tên chữ là Lãng Tiên 浪先 (còn viết là 閬先), người Phạm Dương 范陽 (nay thuộc ngoại ô Bắc Kinh 北京, Trung Quốc).

Điểu túc trì biên thụ
Tăng xao nguyệt hạ môn
Đọc tiếp →

Vịnh hoa cúc kỳ I



詠菊其一

春前桃李漫紛紛,
垢葉蒼莖了不聞。
苦節若為安素分,
窮秋然後見清芬。
暗憐老圃應如是,
獨立西風孰與群。
高潔貞心非易得,
陶潛歸去始知君。

Vịnh cúc kỳ nhất

Xuân tiền đào lý mạn phân phân,
Cấu diệp thương hành liễu bất văn.
Khổ tiết nhược vi an tố phận,
Cùng thu nhiên hậu kiến thanh phân.
Ám liên lão phố ưng như thị,
Độc lập tây phong thục dữ quần.
Cao khiết trinh tâm phi dị đắc,
Đào tiềm quy khứ thuỷ tri quân.

Nguyễn Khuyến

Vịnh hoa cúc kỳ I

Trước xuân đào mận rộn ràng tươi
Lá cáu cành non vẫn lặng hơi
Thì phải thời gay yên phận sạch
Rồi ra thu tận tỏ hương ngời
Thương thầm vườn úa nên như vậy
Đứng giữa gió tây mới biết ai
Cao khiết lòng trinh đâu dễ kiếm
Đào Tiềm quy ẩn mới hay người

Leopard dịch.
==============================

* ưng như thị 應如是: nên như vậy, như thế.
* thục dữ quần 孰與群: sánh với quần hoa
* thủy tri quân 始知君: mới biết người quân tử.
Đọc tiếp →

Thứ Bảy, 3 tháng 7, 2010

Cao hứng

即興

攬翠亭東竹滿林,
柴門晝掃凈陰陰。
雨餘山色清詩眼,
潦退江光凈俗心。
戶外鳥啼知客至,
庭邊木落識秋深。
午窗睡醒渾無寐,
隱几焚香理玉琴。

Tức hứng

Lãm Thuý đình đông trúc mãn lâm,
Sài môn trú tảo tịnh âm âm.
Vũ dư sơn sắc thanh thi nhãn,
Lạo thoái giang quang tịnh tục tâm.
Hộ ngoại điểu đề tri khách chí,
Ðình biên mộc lạc thức thu thâm.
Ngọ song thuỵ tỉnh hồn vô mị,
Ẩn kỷ phần hương lý ngọc cầm


Nguyễn Trãi

Cao hứng

Lãm Thúy đằng đông trúc mọc tràn
Cửa rào ngày quét bóng râm lan
Mưa ngơi núi hửng nhìn nên mộng
Lũ rút sông bày khổ hóa tan
Ngoài cửa chim kêu hay khách đến
Bên sân lá rụng biết thu tàn
Song trưa giấc hết không nằm nữa
Tựa ghế châm hương gẩy phím đàn

Leopard dịch.
Đọc tiếp →

Thứ Năm, 1 tháng 7, 2010

Cảm hứng chiều muộn

晚興

窮巷幽居苦寂寥,
烏巾竹杖晚逍遙。
荒村日落霞棲樹,
野徑人稀水沒橋。
今古無窮江漠漠,
英雄有恨葉蕭蕭。
歸來獨憑欄杆坐,
一片冰蟾掛碧霄。

Vãn hứng

Cùng hạng u cư khổ tịch liêu,
Ô cân trúc trượng vãn tiêu dao.
Hoang thôn nhật lạc, hà thê thụ.
Dã kính nhân hi, thủy một kiều.
Kim cổ vô cùng giang mạc mạc,
Anh hùng hữu hận diệp tiêu tiêu.
Quy lai độc bẵng lan can tọa,
Nhất phiến băng thiềm quải bích tiêu.

Nguyễn Trãi

Cảm hứng chiều muộn

Ngõ xa xóm thẳm dạ u hoài
Gậy trúc khăn ô bước giải lao
Ráng đậu cây thôn trời xế bóng
Nước tràn cầu nội kẻ thưa vào
Cổ kim vô tận sông im ắng
Anh kiệt ôm hờn lá xác xao
Thân lẻ quay về lan can tựa
Trăng treo mảnh lạnh cuối trời cao

Leopard dịch.

====================================
Chú thích:

* Băng thiềm: (băng: giá, lạnh;thiềm: con thiềm thừ, con cóc lớn) chỉ mặt trăng vì truyền thuyết cho rằng trên mặt trăng có con cóc lớn.

http://hatcat79.com/Vanhoc/NguyenTrai.htm

* Tiêu tiêu: Tôi chợt nhớ tới câu thơ của Đỗ Phủ: Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ. Những chiếc lá rơi xuống xao xác như không có giới hạn. Lại nhớ tới câu thơ của Nguyễn Trãi: anh hùng hữu hận diệp tiêu tiêu. Người anh hùng ôm hận trong tiếng lá xao xác.

http://donga01.blogspot.com/2009/11/ngan-hanh.html

* Mạc mạc: 漠漠(Tính)

01. Mờ mịt: Nguyễn Du 阮攸 - Mạc mạc trần ai mãn thái không 漠漠塵埃滿太空 (Kí hữu 寄友) Mịt mù bụi bặm bay đầy bầu trời; Đỗ Phủ 杜甫: Binh qua trần mạc mạc 兵戈塵漠漠 (Thu nhật Quỳ phủ vịnh hoài 秋日夔府詠懷) Chinh chiến bụi mịt mù.

02. Yên lặng, không tiếng động: Tần Quan 秦觀 - Mạc mạc khinh hàn thướng tiểu lâu 漠漠輕寒上小樓 (Hoán khê sa 浣溪沙) Lặng lẽ se lạnh lên lầu nhỏ.

03. Bày bố la liệt, đầy dẫy: Vương Duy 王維 - Mạc mạc thủy điền phi bạch lộ 漠漠水田飛白鷺 (Tích vũ võng xuyên trang tác 積雨輞川莊作) Đầy khắp ruộng nước cò trắng bay.

Mạc 漠 (Danh): Sa mạc (bể cát).

http://www.vietnamtudien.org/hanviet/index.php

=========================
01.Tiêu tiêu 蕭蕭
(Trạng thanh)
(1) Ngựa thét the thé.
- Đỗ Phủ 杜甫: Xa lân lân, mã tiêu tiêu, Hành nhân cung tiễn các tại yêu 車轔轔, 馬蕭蕭, 行人弓箭各在腰 (Binh xa hành 兵車行) Tiếng xe ầm ầm, tiếng ngựa hí vang, Người ra đi sẵn sàng cung tên bên lưng.
(2) Gió thổi vù vù.

02. Sắt sắt 瑟瑟
(Trạng thanh)
Sắt sắt 瑟瑟 tiếng gió xào xạc.
- Như: cốc phong sắt sắt 谷風瑟瑟 gió trong hang xào xạc.

03. Sắc sắc 槭槭
(Tượng thanh)
Sắc sắc 槭槭 tiếng gió thổi.
- Vương Vạn Chung 王萬鍾: Thu phong sắc sắc đạm lâm huy 秋風槭槭澹林暉 (Giang thôn phong vũ đồ 江村風雨圖) Gió thu xào xạc, trong rừng ánh mặt trời nhạt.

04. Tốc tốc 簌簌
(1) (Phó) Rớt đầy xuống, ròng ròng. § Cũng nói là tốc địa 簌地.
- Lão tàn du kí: 老殘遊記: Thụ thượng tàn diệp tốc tốc lạc địa 樹上殘葉簌蔌落地 (Đệ bát hồi) Trên cây lá tàn ào ào rơi xuống đất.
- Hồng Lâu Mộng 紅樓夢: Khán liễu nhất hồi, bất giác đắc tốc tốc lệ hạ 看了一回, 不覺得簌簌淚下 (Đệ bát thập thất hồi) Xem một lúc, bất giác nước mắt chảy ròng ròng.
(2) (Trạng thanh) Xào xạc, sột soạt (tiếng động nhỏ liên tục).
- Thủy hử truyện 水滸傳: San biên trúc đằng lí, tốc tốc địa hưởng, thưởng xuất nhất điều điếu dũng đại tiểu tuyết hoa dã tự xà lai 山邊竹籐裡, 簌簌地響, 搶出一條吊桶大小雪花也似蛇來 (Đệ nhất hồi) Ở trong bụi trúc bên núi, đang kêu sột soạt, bỗng ló ra một con rắn đốm trắng to bằng cái thùng.

05. Lị lị 莅莅
(Trạng thanh)
Tiếng gió thổi, tiếng nước chảy: vèo, vèo vèo, xào xạc, rì rào.
- Như: lị lị 莅莅 rì rào (tiếng nước chảy), lị táp 蒞颯 xào xạc (cây cối). § Cũng chỉ hành động nhanh chóng, nhanh ào ào, vèo một cái.

06. Táp táp 颯颯
(Trạng thanh)
(Tiếng gió thổi) vèo vèo, vi vu, xào xạc.
◇Lí Thương Ẩn 李商隱: Táp táp đông phong tế vũ lai 颯颯東風細雨來 (Vô đề 無題) Xào xạc gió xuân, mưa bụi bay.

07. Ngao ngao 嗷嗷
(Trạng thanh)
(1) Tiếng kêu thương. (2) Xao xác, om sòm, oai oái (tiếng kêu gào của nhiều người hoặc thú).
- Nguyễn Trãi 阮廌: Vạn tính ngao ngao khả nại hà 萬姓嗷嗷可奈何 (Loạn hậu cảm tác 亂後感作) Muôn dân xao xác không biết làm sao.


08. Y y 咿咿
(Trạng thanh)
1. Tiếng gà. 2. Tiếng lợn kêu.
- Triều Bổ Chi 晁補之: Thỉ mẫu tòng đồn nhi, Thỉ đề đồn y y 豕母從豚兒, 豕啼豚咿咿 (Đậu diệp hoàng 荳葉黃) Heo mẹ theo heo con, Heo nái kêu heo con ủn ỉn.
3. Tiếng côn trùng.
- Lưu Vũ Tích 劉禹錫: Thảo thương thương hề nhân tịch tịch, Thụ sắc sắc hề trùng y y 草蒼蒼兮人寂寂, 樹槭槭兮蟲咿咿 (Thu thanh phú 秋聲賦) Cỏ xanh xanh hề người lặng lẽ, Cây xào xạc hề côn trùng râm ran.
4. Tiếng xót xa bùi ngùi.
- Hàn Dũ 韓愈: Mẫu thả tử, kì minh y y 母且死, 其鳴咿咿 (Miêu tương nhũ 貓相乳) Mẹ sắp chết, nó kêu thương xót.

09. Liệu liệu 翏翏
(Trạng thanh)
Ào ào (tiếng gió thổi).
- Trang Tử 莊子: Phù đại khối ái khí, kì danh vi phong, thị duy vô tác, tác tắc vạn khiếu nộ hào, nhi độc bất văn chi liệu liệu hồ? 夫大塊噫氣, 其名為風, 是唯無作, 作則萬竅怒呺, 而獨不聞之翏翏乎 (Tề vật luận 齊物論) Kìa khối lớn bật ở hơi, tên nó là gió. Nó không nổi thì thôi, nổi thì muôn lỗ trống đều gào thét. Riêng mi chẳng nghe nó ào ào đó sao?

10. Tiêu sắt
蕭瑟
- Như: tiêu sắt 蕭瑟 tiếng buồn bã, rầu rĩ, cảnh khí tiêu điều 景氣蕭條 phong cảnh buồn tênh. ◇Trần Nhân Tông 陳仁宗: Ngư thuyền tiêu sắt mộ chung sơ 漁船蕭瑟暮鐘初 (Lạng Châu vãn cảnh 諒州晚景) Chiếc thuyền đánh cá trong tiếng chuông chiều buồn bã vừa điểm.

===========================
Tiêu

01. Tiêu : (Tính) Ào ạt, mạnh bạo (gió mưa). Như: phong vũ tiêu tiêu 風雨瀟瀟 gió mưa ào ạt.

02. Tiêu, dựu : (Tính) Tiêu tiêu 翛翛 lông chim tan tác. Thi Kinh 詩經: Dư vũ tiếu tiếu, Dư vĩ tiêu tiêu 予羽譙譙, 予尾翛翛 (Bân phong 豳風, Si hào 鴟鴞) Lông của ta tơi tả, Đuôi của ta tan tác.

(Trạng thanh) Tiêu tiêu 翛翛 tiếng mưa. ◎Như: hải vũ tiêu tiêu 海雨翛翛 trên biển mưa táp táp.

(Tính) Tiêu nhiên 翛然 không ràng buộc, tự do tự tại. ◇Trang Tử 莊子: Tiêu nhiên nhi vãng, tiêu nhiên nhi lai nhi dĩ hĩ 翛然而往, 翛然而來而已矣 (Đại tông sư 大宗師) Thong dong tự tại mà đến, thong dong tự tại mà đi, thế thôi.

Một âm là dựu. (Tính) Vội vã, vội vàng.

03. Tiêu, sáo 哨 : Chòi canh, trạm gác. Như: phóng tiêu 放哨 canh gác.

04. Tiêu, tiều 焦: (Động) Lo buồn, khổ não. Như: tâm tiêu 心焦 nóng ruột, phiền não. ◇Nguyễn Tịch 阮籍: Chung thân lí bạc băng, Thùy tri ngã tâm tiêu 終身履薄冰, 誰知我心焦 (Vịnh hoài 詠懷) Suốt đời giẫm trên băng giá mỏng, Ai biết lòng ta buồn khổ?

Đọc tiếp →

Tình phù phiếm



"Tàu rời ga lẹ làng khi đó
Hai ngọn đèn còn tỏ phía sau
Đèn xanh như nỗi em sầu
Còn đèn ánh đỏ như mầu lòng tôi"


Đọc tiếp →