秋夜蛩聲
一天星斗夜沉沉,
乍頂聲聲思不禁。
隔竹高低敲丙枕,
和霜斷續瀉滄音。
愁侵角戍三更月,
喚起鄉閨萬里心。
銷鐵橫秋男子操,
丁寧莫使入人深。
Thu dạ cùng thanh
Nhất thiên tinh đẩu dạ trầm trầm,
Sạ đính thanh thanh tứ bất câm.
Cách trúc cao đê xao bính chẩm,
Hoà sương đoạn tục tả thương âm.
Sầu xâm giác thú tam canh nguyệt,
Hoán khởi hương khuê vạn lý tâm.
Tiêu thiết hoành thu nam tử tháo,
Đinh ninh mạc sử nhập nhân thâm.
Nguyễn Khuyến
Tiếng dế đêm thu
Một trời Tinh Đẩu thẳm đêm trường
Vẳng tiếng râm ran dạ khó ngưng
Cách trúc nhỏ to lay gối muộn
Hòa sương đứt nối rót âm thương
Canh ba đồn ải buồn tiếng ốc
Dặm vạn phòng khuê khổ bóng hường
Hoành giáo suốt thu noi tiết tháo
Đinh ninh chẳng để ngấm sâu lòng
Leopard dịch
=============================================
Bản dịch nghĩa:
Một trời sao Tinh sao Đẩu, đêm sâu thăm thẳm
Bỗng đến tiếng râm ran, lòng dạ khó im
Cách trúc tiếng to nhỏ gõ lay gối muộn
Hòa sương tiếng đứt nối tuôn chảy âm thanh của mùa thu
Sầu lan vào tiếng ốc nơi đồn thú, trăng lúc canh ba
Tiếng khơi âm hưởng chốn phòng khuê, tâm tình xa vạn dặm
Mùa thu hoành cây giáo sắt, cái tiết tháo của nam nhi (*)
Đinh ninh không để (tiếng dế) thấm sâu vào người
* Thương âm 滄音: "thương" chỉ tên âm giai trong ngũ âm nhạc cổ, cũng hiểu là thuộc về mùa thu.
* "Bính chẩm 丙枕: "bính" chỉ thời khắc lúc nửa đêm, giống như "bính dạ" 丙夜 là lúc nửa đêm hay canh ba. "Bính" cũng có nghĩa là thuộc về lửa...
* Kiến giải của TĐVH về câu "Tiêu thiết hoành thu nam tử tháo":
(trích đoạn)
"Gửi chú Leopard đẹp giai...
...
Khi mới đọc bài "Thu dạ cùng thanh" của cụ Nguyễn Khuyến, anh cũng thấy có nhiều chỗ lờ mờ, chưa hiểu rõ lắm, cảm giác giống hệt chú. Sau khi tìm hiểu nghĩa lý từng chữ, từng câu của bài thơ này, anh xin đưa ra một vài suy nghĩ của riêng mình, có thể gọi là thiển ý như sau:
1. Đúng như chú đã phân vân về chữ tiêu 銷 (tiêu tan, mất mát) mà Vanachi đã chép sai, chữ đúng phải là 鏢 , nghĩa là cái vỏ đao có bịt đồng, nhưng "tiêu thiết" thì vẫn khó hiểu. Không lẽ là sắt làm bằng vỏ đao có bịt đồng? May mà học giả Nguyễn Văn Huyền đã chú rằng "tiêu thiết" là đảo ngữ của "thiết tiêu" cho hợp luật bằng trắc. Ông còn chua thêm: Tiêu là một loại vũ khí giống như giáo, lao (trong các từ điển cổ Hán văn mà anh có, "Tiêu" chỉ có nghĩa là vỏ đao có bịt đồng). Dù sao cũng không quá quan trọng là đao sắt hay giáo sắt. Chúng ta hiểu "Tiêu thiết" ám chỉ một loại vũ khí làm bằng sắt. Người xưa cũng có cái khó là đôi khi dùng chữ cũng chỉ cốt lấy cái ý cho hợp bằng trắc, số chữ cân đối, chưa kể là phải đảo ngữ như Nguyễn Văn Huyền đã giải thích. Chẳng hạn "bôi tửu" trong bài "Đề Lưu Quan Trương đào viên kết nghĩa xứ" của Nguyễn Đề, nếu hiểu là danh từ thì hơi có vấn đề, ở đây cũng là đảo ngữ cho hợp vận mà thôi hoặc có thể hiểu "bôi" làm động từ là "nâng chén".
2. Chữ hoành 橫 làm động từ nghĩa là “cầm ngang” như "hoành đao" 橫刀 là cầm ngang dao. Tháo 操 là chí (tiết tháo). "Nam tử tháo" là cái chí khí của kẻ nam nhi. Cả câu là một cụm danh từ (Noun phrase). Dịch nghĩa bắt đầu từ "nam tử tháo" cho đến "thu" rồi đến "hoành" và cuối cùng là "tiêu thiết". Có thể hiểu là: Cái chí của kẻ nam nhi là phải, mùa thu cầm ngang ngọn giáo.
3. Bây giờ anh trình bày cách hiểu của mình về hai câu:
愁侵角戍三更月,
喚起鄉閨萬里心。
Sầu xâm giác thú tam canh nguyệt,
Hoán khởi hương khuê vạn lý tâm.
Để hiểu cho thấu đáo, anh nghĩ chúng ta phải hiểu bối cảnh của bài thơ. Anh thì hiểu rằng, bài thơ này miêu tả tâm trạng của người lính nơi đồn trại xa nhà. Vì vậy anh lý giải thế này:
a) 戍三更月 là cụm danh từ, tức là “Trăng canh ba ở nơi biên thú đồn tại”. "Sầu xâm" là nỗi buồn xâm lấn, át đi. Giác 角 là tiếng “Tù và” báo “canh” nơi đồn trại. Vậy cả câu: 愁侵角戍三更月, anh hiểu là: Nỗi sầu át đi tiếng tù và (vào lúc) trăng canh ba nơi đồn trú.
b) 閨萬里心 là cụm danh từ, tức là “Nỗi lòng xa vạn dặm của người thiếu phụ chốn phòng khuê”, cũng tức là "Nỗi lòng của người thiếu phụ ngóng chồng nơi vạn dặm". Chữ hương 鄉, anh nghĩ phải đọc là hưởng (tất nhiên trong bài đọc là hương cho hợp vận) tức là "âm hưởng dội lại". Cụm "Hoán khởi" thì rất rõ ràng là "khơi dậy, khơi gợi". Tóm lại theo anh: "Hoán khởi hương khuê vạn lý tâm" phải hiểu là "Khơi gợi tiếng (âm hưởng của nỗi) lòng nơi vạn dặm của người khuê phụ". Người chồng trong cảnh cô đơn, buồn bã nơi biên thú đã hình dung vợ mình nơi xa ngàn dặm cũng đang ngóng mình, sầu nhớ đến mình và hình dung ra rằng tiếng lòng người vợ đang vọng đến nơi biên thú mà mình đi lính. Ở đây, người chồng nhớ vợ nhưng cũng chính là nói về nỗi nhớ của người vợ (chinh phụ) có chồng (chinh phu) đi lính. Nói đến đây, anh lại nhớ đến bài Khuê oán của Vương Xương Linh, Nạn hữu xuy địch của Bác Hồ. Thật là ý vị thiết tha. Lời giản mà ý sâu. Khó lòng mà tả xiết!
c) Đây là một bài thơ hay, giàu phong vị cổ điển. Cụ Nguyễn Khuyến tài thật!
..."
Thứ Năm, 8 tháng 7, 2010
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét