Thứ Bảy, 3 tháng 7, 2010
Cao hứng
攬翠亭東竹滿林,
柴門晝掃凈陰陰。
雨餘山色清詩眼,
潦退江光凈俗心。
戶外鳥啼知客至,
庭邊木落識秋深。
午窗睡醒渾無寐,
隱几焚香理玉琴。
Tức hứng
Lãm Thuý đình đông trúc mãn lâm,
Sài môn trú tảo tịnh âm âm.
Vũ dư sơn sắc thanh thi nhãn,
Lạo thoái giang quang tịnh tục tâm.
Hộ ngoại điểu đề tri khách chí,
Ðình biên mộc lạc thức thu thâm.
Ngọ song thuỵ tỉnh hồn vô mị,
Ẩn kỷ phần hương lý ngọc cầm
Nguyễn Trãi
Cao hứng
Lãm Thúy đằng đông trúc mọc tràn
Cửa rào ngày quét bóng râm lan
Mưa ngơi núi hửng nhìn nên mộng
Lũ rút sông bày khổ hóa tan
Ngoài cửa chim kêu hay khách đến
Bên sân lá rụng biết thu tàn
Song trưa giấc hết không nằm nữa
Tựa ghế châm hương gẩy phím đàn
Leopard dịch. Đọc tiếp →
Thứ Năm, 1 tháng 7, 2010
Cảm hứng chiều muộn
窮巷幽居苦寂寥,
烏巾竹杖晚逍遙。
荒村日落霞棲樹,
野徑人稀水沒橋。
今古無窮江漠漠,
英雄有恨葉蕭蕭。
歸來獨憑欄杆坐,
一片冰蟾掛碧霄。
Vãn hứng
Cùng hạng u cư khổ tịch liêu,
Ô cân trúc trượng vãn tiêu dao.
Hoang thôn nhật lạc, hà thê thụ.
Dã kính nhân hi, thủy một kiều.
Kim cổ vô cùng giang mạc mạc,
Anh hùng hữu hận diệp tiêu tiêu.
Quy lai độc bẵng lan can tọa,
Nhất phiến băng thiềm quải bích tiêu.
Nguyễn Trãi
Cảm hứng chiều muộn
Ngõ xa xóm thẳm dạ u hoài
Gậy trúc khăn ô bước giải lao
Ráng đậu cây thôn trời xế bóng
Nước tràn cầu nội kẻ thưa vào
Cổ kim vô tận sông im ắng
Anh kiệt ôm hờn lá xác xao
Thân lẻ quay về lan can tựa
Trăng treo mảnh lạnh cuối trời cao
Leopard dịch.
====================================
Chú thích:
* Băng thiềm: (băng: giá, lạnh;thiềm: con thiềm thừ, con cóc lớn) chỉ mặt trăng vì truyền thuyết cho rằng trên mặt trăng có con cóc lớn.
http://hatcat79.com/Vanhoc/NguyenTrai.htm
* Tiêu tiêu: Tôi chợt nhớ tới câu thơ của Đỗ Phủ: Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ. Những chiếc lá rơi xuống xao xác như không có giới hạn. Lại nhớ tới câu thơ của Nguyễn Trãi: anh hùng hữu hận diệp tiêu tiêu. Người anh hùng ôm hận trong tiếng lá xao xác.
http://donga01.blogspot.com/2009/11/ngan-hanh.html
* Mạc mạc: 漠漠(Tính)
01. Mờ mịt: Nguyễn Du 阮攸 - Mạc mạc trần ai mãn thái không 漠漠塵埃滿太空 (Kí hữu 寄友) Mịt mù bụi bặm bay đầy bầu trời; Đỗ Phủ 杜甫: Binh qua trần mạc mạc 兵戈塵漠漠 (Thu nhật Quỳ phủ vịnh hoài 秋日夔府詠懷) Chinh chiến bụi mịt mù.
02. Yên lặng, không tiếng động: Tần Quan 秦觀 - Mạc mạc khinh hàn thướng tiểu lâu 漠漠輕寒上小樓 (Hoán khê sa 浣溪沙) Lặng lẽ se lạnh lên lầu nhỏ.
03. Bày bố la liệt, đầy dẫy: Vương Duy 王維 - Mạc mạc thủy điền phi bạch lộ 漠漠水田飛白鷺 (Tích vũ võng xuyên trang tác 積雨輞川莊作) Đầy khắp ruộng nước cò trắng bay.
Mạc 漠 (Danh): Sa mạc (bể cát).
http://www.vietnamtudien.org/hanviet/index.php
=========================
01.Tiêu tiêu 蕭蕭
(Trạng thanh)
(1) Ngựa thét the thé.
- Đỗ Phủ 杜甫: Xa lân lân, mã tiêu tiêu, Hành nhân cung tiễn các tại yêu 車轔轔, 馬蕭蕭, 行人弓箭各在腰 (Binh xa hành 兵車行) Tiếng xe ầm ầm, tiếng ngựa hí vang, Người ra đi sẵn sàng cung tên bên lưng.
(2) Gió thổi vù vù.
02. Sắt sắt 瑟瑟
(Trạng thanh)
Sắt sắt 瑟瑟 tiếng gió xào xạc.
- Như: cốc phong sắt sắt 谷風瑟瑟 gió trong hang xào xạc.
03. Sắc sắc 槭槭
(Tượng thanh)
Sắc sắc 槭槭 tiếng gió thổi.
- Vương Vạn Chung 王萬鍾: Thu phong sắc sắc đạm lâm huy 秋風槭槭澹林暉 (Giang thôn phong vũ đồ 江村風雨圖) Gió thu xào xạc, trong rừng ánh mặt trời nhạt.
04. Tốc tốc 簌簌
(1) (Phó) Rớt đầy xuống, ròng ròng. § Cũng nói là tốc địa 簌地.
- Lão tàn du kí: 老殘遊記: Thụ thượng tàn diệp tốc tốc lạc địa 樹上殘葉簌蔌落地 (Đệ bát hồi) Trên cây lá tàn ào ào rơi xuống đất.
- Hồng Lâu Mộng 紅樓夢: Khán liễu nhất hồi, bất giác đắc tốc tốc lệ hạ 看了一回, 不覺得簌簌淚下 (Đệ bát thập thất hồi) Xem một lúc, bất giác nước mắt chảy ròng ròng.
(2) (Trạng thanh) Xào xạc, sột soạt (tiếng động nhỏ liên tục).
- Thủy hử truyện 水滸傳: San biên trúc đằng lí, tốc tốc địa hưởng, thưởng xuất nhất điều điếu dũng đại tiểu tuyết hoa dã tự xà lai 山邊竹籐裡, 簌簌地響, 搶出一條吊桶大小雪花也似蛇來 (Đệ nhất hồi) Ở trong bụi trúc bên núi, đang kêu sột soạt, bỗng ló ra một con rắn đốm trắng to bằng cái thùng.
05. Lị lị 莅莅
(Trạng thanh)
Tiếng gió thổi, tiếng nước chảy: vèo, vèo vèo, xào xạc, rì rào.
- Như: lị lị 莅莅 rì rào (tiếng nước chảy), lị táp 蒞颯 xào xạc (cây cối). § Cũng chỉ hành động nhanh chóng, nhanh ào ào, vèo một cái.
06. Táp táp 颯颯
(Trạng thanh)
(Tiếng gió thổi) vèo vèo, vi vu, xào xạc.
◇Lí Thương Ẩn 李商隱: Táp táp đông phong tế vũ lai 颯颯東風細雨來 (Vô đề 無題) Xào xạc gió xuân, mưa bụi bay.
07. Ngao ngao 嗷嗷
(Trạng thanh)
(1) Tiếng kêu thương. (2) Xao xác, om sòm, oai oái (tiếng kêu gào của nhiều người hoặc thú).
- Nguyễn Trãi 阮廌: Vạn tính ngao ngao khả nại hà 萬姓嗷嗷可奈何 (Loạn hậu cảm tác 亂後感作) Muôn dân xao xác không biết làm sao.
08. Y y 咿咿
(Trạng thanh)
1. Tiếng gà. 2. Tiếng lợn kêu.
- Triều Bổ Chi 晁補之: Thỉ mẫu tòng đồn nhi, Thỉ đề đồn y y 豕母從豚兒, 豕啼豚咿咿 (Đậu diệp hoàng 荳葉黃) Heo mẹ theo heo con, Heo nái kêu heo con ủn ỉn.
3. Tiếng côn trùng.
- Lưu Vũ Tích 劉禹錫: Thảo thương thương hề nhân tịch tịch, Thụ sắc sắc hề trùng y y 草蒼蒼兮人寂寂, 樹槭槭兮蟲咿咿 (Thu thanh phú 秋聲賦) Cỏ xanh xanh hề người lặng lẽ, Cây xào xạc hề côn trùng râm ran.
4. Tiếng xót xa bùi ngùi.
- Hàn Dũ 韓愈: Mẫu thả tử, kì minh y y 母且死, 其鳴咿咿 (Miêu tương nhũ 貓相乳) Mẹ sắp chết, nó kêu thương xót.
09. Liệu liệu 翏翏
(Trạng thanh)
Ào ào (tiếng gió thổi).
- Trang Tử 莊子: Phù đại khối ái khí, kì danh vi phong, thị duy vô tác, tác tắc vạn khiếu nộ hào, nhi độc bất văn chi liệu liệu hồ? 夫大塊噫氣, 其名為風, 是唯無作, 作則萬竅怒呺, 而獨不聞之翏翏乎 (Tề vật luận 齊物論) Kìa khối lớn bật ở hơi, tên nó là gió. Nó không nổi thì thôi, nổi thì muôn lỗ trống đều gào thét. Riêng mi chẳng nghe nó ào ào đó sao?
10. Tiêu sắt 蕭瑟
- Như: tiêu sắt 蕭瑟 tiếng buồn bã, rầu rĩ, cảnh khí tiêu điều 景氣蕭條 phong cảnh buồn tênh. ◇Trần Nhân Tông 陳仁宗: Ngư thuyền tiêu sắt mộ chung sơ 漁船蕭瑟暮鐘初 (Lạng Châu vãn cảnh 諒州晚景) Chiếc thuyền đánh cá trong tiếng chuông chiều buồn bã vừa điểm.
===========================
Tiêu 蕭
01. Tiêu 瀟: (Tính) Ào ạt, mạnh bạo (gió mưa). Như: phong vũ tiêu tiêu 風雨瀟瀟 gió mưa ào ạt.
02. Tiêu, dựu 翛: (Tính) Tiêu tiêu 翛翛 lông chim tan tác. Thi Kinh 詩經: Dư vũ tiếu tiếu, Dư vĩ tiêu tiêu 予羽譙譙, 予尾翛翛 (Bân phong 豳風, Si hào 鴟鴞) Lông của ta tơi tả, Đuôi của ta tan tác.
(Trạng thanh) Tiêu tiêu 翛翛 tiếng mưa. ◎Như: hải vũ tiêu tiêu 海雨翛翛 trên biển mưa táp táp.
(Tính) Tiêu nhiên 翛然 không ràng buộc, tự do tự tại. ◇Trang Tử 莊子: Tiêu nhiên nhi vãng, tiêu nhiên nhi lai nhi dĩ hĩ 翛然而往, 翛然而來而已矣 (Đại tông sư 大宗師) Thong dong tự tại mà đến, thong dong tự tại mà đi, thế thôi.
Một âm là dựu. (Tính) Vội vã, vội vàng.
03. Tiêu, sáo 哨 : Chòi canh, trạm gác. Như: phóng tiêu 放哨 canh gác.
04. Tiêu, tiều 焦: (Động) Lo buồn, khổ não. Như: tâm tiêu 心焦 nóng ruột, phiền não. ◇Nguyễn Tịch 阮籍: Chung thân lí bạc băng, Thùy tri ngã tâm tiêu 終身履薄冰, 誰知我心焦 (Vịnh hoài 詠懷) Suốt đời giẫm trên băng giá mỏng, Ai biết lòng ta buồn khổ?
Thứ Ba, 18 tháng 5, 2010
Mộ xuân tức sự

Môn ngoại toàn vô tục khách lai
Ðỗ Vũ thanh trung xuân hướng lão
Nhất đình sơn vũ luyện hoa khai
Nguyễn Trãi
Tức cảnh cuối xuân
Cả ngày nhàn phòng văn khép chặt
Cửa bên ngoài không khách ghé sang
Quyên kêu xuân đã muộn màng
Một sân mưa bụi hoa xoan nở dầy
Leopard dịch.
----------------------
暮春即事
閑中盡日閉書齋,
門外全無俗客來。
杜宇聲中春向老,
一庭疏雨楝花開。
阮廌
Nguyễn Trãi 阮廌 (1380-1442), hiệu là Ức Trai 抑齋, quê ở Chi Ngại (Chí Linh, Hải Dương) sau dời về Nhị Khê (Thường Tín, Hà Tây). Cha là Nguyễn Phi Khanh, một học trò nghèo, học giỏi, đỗ thái học sinh (tiến sĩ). Mẹ là Trần Thị Thái, con Trần Nguyên Đán, một qúy tộc đời Trần.
Lên sáu tuổi, mất mẹ, lên mười tuổi, ông ngoại qua đời, ông về ở Nhị Khê, nơi cha dạy học. Năm hai mươi tuổi, năm 1400, ông đỗ thái học sinh và hai cha con cùng ra làm quan với nhà Hồ. Năm 1407, giặc Minh cướp nước tạ Nguyễn Phi Khanh bị chúng đưa sang Trung Quốc. Nguyễn Trãi và một người em đi theo chăm sóc. Nghe lời cha khuyên, ông trở về, nhưng bị quân Minh bắt giữ. Sau đó, ông tìm theo Lê Lợi. Suốt mười năm chiến đấu, ông đã góp công lớn vào chiến thắng vẻ vang của dân tộc.
Đầu năm 1428, quét sạch quân thù, ông hăm hở bắt tay vào xây dựng lại nước nhà thì bỗng dưng bị nghi oan và bắt giam. Sau đó ông được tha, nhưng không còn được tin cậy như trước. Ông buồn, xin về Côn Sơn. Đó là vào những năm 1438-1440. Năm 1440, Lê Thái Tông mời ông trở lại làm việc và giao cho nhiều công việc quan trọng. Ông đang hăng hái giúp vua thì xảy ra vụ nhà vua chết đột ngột ở Trại Vải (Lệ Chi Viên, Bắc Ninh). Vốn chứa thù từ lâu đối với Nguyễn Trãi, bọn gian tà ở triều đình vu cho ông âm mưu giết vua, khép vào tội phải giết cả ba họ năm 1442.
Nỗi oan tày trời ấy, hơn hai mươi năm sau, 1464, Lê Thánh Tông mới giải toả, rồi cho sưu tầm lại thơ văn ông và tìm người con trai sống sót cho làm quan.
Nguyễn Trãi là bậc đại anh hùng dân tộc và là một nhân vật toàn tài hiếm có của lịch sử Việt Nam trong thời đại phong kiến. Ở Nguyễn Trãi có một nhà chính trị, một nhà quân sự, một nhà ngoại giao, một nhà văn hoá, một nhà văn, một nhà thơ tầm cỡ kiệt xuất.
Nhưng Nguyễn Trãi cũng là một người đã phải chịu những oan khiên thảm khốc, do xã hội cũ gây nên cũng tới mức hiếm có trong lịch sử.
Nguồn dẫn: http://www.thivien.net/viewauthor.php?ID=43 Đọc tiếp →
