Hiển thị các bài đăng có nhãn 03-logic. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn 03-logic. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 10 tháng 7, 2011

Những yếu tố của Đạo đức học - B. Russell

Những yếu tố của Đạo đức học (1910)
Bertrand Russell

Những yếu tố Đạo đức, của Bertrand Russell, đã được xuất bản lần đầu vào năm 1910, trong cuốn "Những tiểu luận triết học" của ông. (Nó được biên soạn từ một số bài báo trước đó của ông; ông mô tả nơi bắt nguồn của nó trong lời ghi chú mở đầu.) Ấn bản trực tuyến này dựa trên văn bản miền công cộng như nó xuất hiện trong ấn bản sách thường Routledge 1994 của lần tái bản Những tiểu luận triết học. (ISBN 0-415-10579-X).

Contents

I. The Subject-Matter of Ethics
II. The Meaning of Good and Bad
III. Right and Wrong
IV. Determinism and Morals
V. Egoism
VI. Methods of Estimating Goods and Evils

I. Chủ đề của Đạo đức học

"Những gì dưới đây dựa trên Principia Ethica của ông G.E. Moore ở mức độ lớn, mà người đọc được dẫn tới nó để có một sự thảo luận đầy đủ hơn. Phần I và II của tiểu luận dưới đây được in lại từ New Quarterly, tháng 2, 1910; phần III từ New Quarterly, tháng 5, 1910. phần 4 từ Hibbert Journal, tháng 10 1908; phần V và VI từ New Quarterly, tháng 9, 1910."

1. Nghiên cứu về Đạo đức học có lẽ được hình dung (conceived) phổ thông nhất như là liên quan đến những câu hỏi "Những loại hành vi nào con người phải thực hiện?" và "Những loại hành vi nào con người phải tránh?" Nó được hình dung, tức là nói rằng, như là phân giải (dealing with) hành xử của con người, và như là quyết định những gì là đức hạnh và những gì là tội lỗi giữa những kiểu tư cách (conduct) mà khi thực hành người ta được kêu gọi chọn lựa trong số chúng. Do quan điểm này về địa phận của đạo đức, nó đôi khi được xem như nghiên cứu thực hành, những nghiên cứu khác đối nghịch với nó được xem như lý thuyết; cái thiện hảo và cái chân thực đôi khi được nói tới như những vương quốc độc lập, cái trước thuộc về đạo đức học, trong khi cái sau thuộc về khoa học.

Quan điểm này, tuy nhiên, khiếm khuyết nước đôi. Đầu tiên, nó bỏ qua sự thực rằng mục tiêu của đạo đức học, theo những gì nó đề cập, là phải khám phá những mệnh đề chân thực về tư cách (conduct) đức hạnh và tư cách đồi bại, và rằng những mệnh đề này cũng là một phần của chân lý nhiều như những mệnh đề về khí oxy hay bảng cửu chương. Đích nhắm, là không có tính thực tiễn, mà là những mệnh đề về thực tiễn; và những mệnh đề về thực tiễn thì tự chúng không có tính thực tiễn hơn chút nào so với những mệnh đề về khí hay thể khí. Một người có thể cũng nhất quyết (maintain) rằng thực vật học là rau quả hay động vật học là thú vật. Do vậy, nghiên cứu về đạo đức học không là thứ gì đó bên ngoài khoa học và cộng tác với (coordinate with) khoa học: nó đơn thuần (merely) là một trong những khoa học.


2. Thứ hai, cái nhìn đang đề cập giới hạn quá thể địa phận của đạo đức học. Khi chúng ta được bảo rằng những hành vi thuộc những kiểu nhất định phải được thực hiện hay tránh khỏi, như là, đề ví dụ, chúng ta phải nói thật, hay như chúng ta phải không ăn cắp, chúng ta có thể luôn hỏi lý do một cách hợp lệ, và lý do này sẽ luôn luôn liên quan không chỉ đến chính những hành vi mà cũng đến tính tốt và tính xấu của những hệ quả chắc chắn (likely) dẫn tới từ những hành vi như thế. Chúng ta sẽ được bảo rằng việc nói thật phát sinh sự tin tưởng lẫn nhau, những tình bạn keo sơn, tạo điều kiện cho sự khẩn trương của công việc, và từ đây tăng trưởng sự giàu mạnh của xã hội mà thực hành nó, v.v.. Nếu chúng ta hỏi tại sao ta nên nhắm tới sự tin tưởng lẫn nhau, hay tình bạn keo sơn, ta có thể được bảo rằng những thứ này dễ thấy là tốt, hay rằng chúng dẫn đến hạnh phúc, và hạnh phúc thì tốt. Nếu ta vẫn hỏi tại sao, người có tính tình mộc mạc chắc chắn sẽ cảm thấy cáu kỉnh, và sẽ phản hồi rằng anh ta không biết. Sự cáu kỉnh của anh ta là do sự xung khắc của hai cảm nhận – một cái, rằng bất kỳ thứ gì đúng phải có một lý do; cái kia, rằng cái lý do anh ta đã đưa ra là dễ thấy đến mức chỉ là sinh sự để yêu cầu một lý do cho lý do đấy. Tại cái thứ hai trong những cảm nhận này anh ta có thể là đúng; tại cái thứ nhất, anh ta chắc chắn là sai. Trong đời thường, người ta chỉ hỏi tại sao khi họ không thấy thuyết phục. Nếu một lý do được đưa ra mà họ không nghi ngờ, họ thỏa mãn. Từ đây, khi họ đã hỏi tại sao, họ thường xuyên có một quyền lợi về luận lý (logic) để mong chờ một câu trả lời, và họ đi tới nghĩ rằng một niềm tin mà không có lý do nào cho nó được đưa ra là một niềm tin vô lý. Nhưng tại điều này họ bị nhầm lẫn, ngay khi (as) họ sẽ sớm phát hiện ra liệu có phải thói quen hỏi tại sao của họ đã là ngoan cố (persistent) hơn không.

Chính là công việc của triết gia để hỏi những lý do chừng nào những lý do có thể được yêu cầu một cách hợp lệ, và để ghi nhận những mệnh đề mà đưa ra những lý do tối hậu nhất có thể đạt đến. Bởi vì một mệnh đề có thể chỉ được chứng minh nhờ sử dụng đến (by means of) những mệnh đề khác, [cho nên] dễ thấy rằng không phải tất cả mệnh đề có thể được chứng minh, bởi vì chứng minh có thể chỉ bắt đầu bằng việc giả định thứ gì đó. Và bởi vì những hệ quả không có sự chắc chắn hơn những tiền đề của chúng, [cho nên] những sự thể được chứng minh là không chẳc chắn hơn những sự thể được chấp nhận chỉ bởi chúng là dễ thấy, và khi đó được làm thành cơ sở cho những chứng minh của chúng ta. Do vậy trong trường hợp của đạo đức học, chúng ta phải hỏi tạo sao những hành vi thế nọ thế kia phải được thực hiện, và tiếp tục cuộc điều tra ngược lại để có những lý do cho tới khi ta với tới một loại những mệnh đề mà sự chứng minh chúng là bất khả, bởi vì nó quá đơn giản hay quá dễ thấy đến mức không thứ gì cơ bản hơn có thể được tìm thấy mà từ đó suy diễn (deduce) ra nó.

3. Bây giờ khi chúng ta hỏi những lý do ủng hộ cho những hành động các nhà đạo đức khuyến nghị (recommend), những lý do thường xuyên là do những hệ quả của hành động chắc chắn (likely) là tốt, hoặc nếu không hoàn toàn tốt lành thì ít ra cũng khả hữu nhất theo hoàn cảnh cho phép. Từ đây tất cả câu hỏi về tư cách thì giả định trước sự quyết định về những sự thể nào đó khác với tư cách là tốt và những gì là xấu. Những gì được gọi là tư cách tốt đẹp là tư cách như một phương tiện hướng tới những sự thể khác tốt đẹp tự thân (on their own account), và từ đây nghiên cứu về những gì là tốt lành tự thân là thiết yếu trước khi chúng ta có thể phân định những quy định (rules) về tư cách. Và nghiên cứu về những gì là tốt hay xấu tự thân phải được bao hàm trong đạo đức học, do vậy nó ngừng liên quan chỉ đến tư cách của con người.

Bước mở đầu trong đạo đức học, theo đó, là hoàn toàn rõ ràng về những gì chúng ta hàm nghĩa với tốt đẹp hay xấu xa. Chỉ khi đó chúng ta có thể trở lại với tư cách, và hỏi bằng cách nào tư cách chính trực liên hệ đến sự tạo ra điều tốt và sự tránh khỏi điều tội lỗi. Tại đấy, như ở mọi điều tra triết học, sau một sự phân tích ban đầu về những dữ liệu phức tạp chúng ta tiến hành một lần nữa xây dựng những sự thể phức tạp từ những thành tố đơn giản hơn, bắt đầu từ những ý tưởng chúng ta hiểu dù không thể định nghĩa chúng và từ những tiền đề chúng ta biết dù không thể chứng minh chúng. Sự xuất hiện của giáo điều trong quy trình này là nhầm lẫn, bởi những tiền đề là những thứ như lập luận thông thường giả định một cách vô thức, và trong việc tin tưởng chúng sau một khảo sát nghiêm khắc thì có ít tính giáo điều thực sự hơn là trong việc sử dụng chúng hoàn toàn (implicitly) mà không hề thẩm tra.


(tạm dịch hết chương I)

* Nguồn: http://fair-use.org/bertrand-russell/the-elements-of-ethics/
Đọc tiếp →

Chủ Nhật, 29 tháng 5, 2011

Về sự biểu thị - B. Russell

* Tạm dịch:

Về sự biểu thị
Bertrand Russell

Bằng một "ngữ biểu thị" tôi hàm nghĩa một ngữ như bất kỳ một ngữ nào trong số sau: một người, người nào đó, bất kỳ người nào, mỗi người, mọi người, vị vua hiện tại của nước Anh, vị vua hiện tại của nước Pháp, trọng tâm của hệ mặt trời ở thời khắc đầu tiên của thế kỷ XXI, sự quay của trái đất quanh mặt trời, sự quay của mặt trời quanh trái đất. Do vậy một ngữ là duy nhất biểu thị tại hiệu quả dạng thức của nó. Ta có thể phân biệt ba trường hợp: (1) Một ngữ có thể biểu thị, và cả không biểu thị, bất kỳ thứ gì; ví dụ như "ông vua hiện tại của nước Pháp". (2) Một ngữ có thể biểu thị một đối tượng xác định; ví dụ như "ông vua hiện tại của nước Anh" biểu thị một người xác định. (3) Một ngữ có thể biểu thị tối nghĩa; ví dụ như " một người biểu thị không nhiều người, mà là một người tối nghĩa. Sự diễn giải những ngữ như thế là một nội dung khó khăn đáng kể, thực sự, rất khó để thiết lập một lý thuyết mà không dễ mắc vào sự phủ nhận về hình thức. Mọi khó khăn mà tôi quen biết với chúng tụ họp lại, trong chừng mức tôi có thể khám phá, bởi cái lý thuyết mà tôi sắp giải thích.

Chủ đề biểu thị là có tầm quan trọng rất lớn, không chỉ trong luận lý và toán học, mà còn trong lý thuyết nhận thức. Ví dụ, ta biết rằng tâm khối lượng của hệ mặt trời ở một thời khắc nhất định là một điểm xác định, và chúng ta có thể xác nhận một số mệnh đề về nó, nhưng ta không có sự quen biết trực tiếp nào với tâm điểm này, mà chỉ được ta biết qua sự mô tả. Sự khác biệt giữa quen biết và nhận thức chừng là sự khác biệt giữa sự thể ta có sự xuất hiện của chúng, và sự thể ta chỉ đạt đến nhờ vào những ngữ biểu thị. Thường xuyên xảy đến đến rằng ta biết một ngữ nhất định biểu thị tối nghĩa, mặc dù ta không có sự quen biết với những gì nó biểu thị, điều này xảy ra trong trường hợp trên về tâm khối lượng. Trong nhận thức ta có sự quen biết với những đối tượng có đặc tính luận lý trừu tượng nhiều hơn; nhưng ta không nhất thiết có sự quen biết với những đối tượng được biểu thị bằng những ngữ ngôn mà ta quen biết với ngữ nghĩa của nó. Lấy một trường hợp rất quan trọng: dường như không có lý do để tin rằng ta từng quen biết với tâm trí của người khác, thấy rằng những thứ này không được nhận thức trực tiếp; từ đây những gì ta biết về chúng có được qua sự biểu thị. Mọi suy nghĩ phải bắt đầu từ sự quen biết; nhưng có được trong suy nghĩ nhiều sự thể mà ta không quen biết với chúng.

Tiến trình lập luận của tôi sẽ như sau đây. Tôi sẽ bắt đầu bằng việc phát biểu lý thuyết tôi dự định chủ trương; rồi tôi sẽ thảo luận về lý thuyết của Frege và Meinong, chỉ ra tại sao không thứ nào trong chúng thỏa mãn tôi; sau đó tôi sẽ đưa ra những cơ sở ủng hộ cho lý thuyết của tôi và cuối cùng sẽ trình bày sơ lược những hệ quả đến từ lý thuyết.

Lý thuyết của tôi, sơ lược, như sau đây. Tôi lấy ý niệm về biến số làm nền tảng; tôi sử dụng "C(x)" để hàm nghĩa một mệnh đề mà x là một thành phần nằm trong nó, ở đó biến số x thiết yếu và hoàn toàn chưa xác định. Khi đó ta có thể xem xét hai ý niệm "C(x) thì luôn đúng" và "C(x) thì đôi khi đúng". Rồi mọi thứ và không thứ nào và thứ nào đó (mà là những ngữ nguyên sơ nhất của những ngữ biểu thị phải được diễn giải như sau:

C(mọi thứ) hàm nghĩa "C(x) thì luôn đúng";

C(không thứ nào) hàm nghĩa "C(x) thì sai" thì luôn đúng;

C(thứ nào đó) hàm nghĩa "Là sai rằng "C(x) thì sai" thì luôn đúng.

............................


* Nguyên văn:

On Denoting

Bertrand Russell
1905

By a `denoting phrase' I mean a phrase such as any one of the following: a man, some man, any man, every man, all men, the present King of England, the present King of France, the center of mass of the solar system at the first instant of the twentieth century, the revolution of the earth round the sun, the revolution of the sun round the earth. Thus a phrase is denoting solely in virtue of its form. We may distinguish three cases: (1) A phrase may be denoting, and yet not denote anything; e.g., `the present King of France'. (2) A phrase may denote one definite object; e.g., `the present King of England' denotes a certain man. (3) A phrase may denote ambiguously; e.g. `a man' denotes not many men, but an ambiguous man. The interpretation of such phrases is a matter of considerably difficulty; indeed, it is very hard to frame any theory not susceptible of formal refutation. All the difficulties with which I am acquainted are met, so far as I can discover, by the theory which I am about to explain.

The subject of denoting is of very great importance, not only in logic and mathematics, but also in the theory of knowledge. For example, we know that the center of mass of the solar system at a definite instant is some definite point, and we can affirm a number of propositions about it; but we have no immediate acquaintance with this point, which is only known to us by description. The distinction between acquaintance and knowledge about is the distinction between the things we have presentations of, and the things we only reach by means of denoting phrases. It often happens that we know that a certain phrase denotes unambiguously, although we have no acquaintance with what it denotes; this occurs in the above case of the center of mass. In perception we have acquaintance with objects of perception, and in thought we have acquaintance with objects of a more abstract logical character; but we do not necessarily have acquaintance with the objects denoted by phrases composed of words with whose meanings we are acquainted. To take a very important instance: there seems no reason to believe that we are ever acquainted with other people's minds, seeing that these are not directly perceived; hence what we know about them is obtained through denoting. All thinking has to start from acquaintance; but it succeeds in thinking about many things with which we have no acquaintance.

The course of my argument will be as follows. I shall begin by stating the theory I intend to advocate; I shall then discuss the theories of Frege and Meinong, showing why neither of them satisfies me; then I shall give the grounds in favor of my theory; and finally I shall briefly indicate the philosophical consequences of my theory.

My theory, briefly, is as follows. I take the notion of the variable as fundamental; I use `C(x)' to mean a proposition in which x is a constituent, where x, the variable, is essentially and wholly undetermined. Then we can consider the two notions `C(x) is always true' and `C(x) is sometimes true'. Then everything and nothing and something (which are the most primitive of denoting phrases) are to be interpreted as follows:
C(everything) means `C(x) is always true';
C(nothing) means ` "C(x) is false" is always true';
C(something) means `It is false that "C(x) is false" is always true.'

Here the notion `C(x) is always true' is taken as ultimate and indefinable, and the others are defined by means of it. Everything, nothing, and something are not assumed to have any meaning in isolation, but a meaning is assigned to every proposition in which they occur. This is the principle of the theory of denoting I wish to advocate: that denoting phrases never have any meaning in themselves, but that every proposition in whose verbal expression they occur has a meaning. The difficulties concerning denoting are, I believe, all the result of a wrong analysis of propositions whose verbal expressions contain denoting phrases. The proper analysis, if I am not mistaken, may be further set forth as follows.

Suppose now we wish to interpret the proposition, `I met a man'. If this is true, I met some definite man; but that is not what I affirm. What I affirm is, according to the theory I advocate:

` "I met x, and x is human" is not always false'.

Generally, defining the class of men as the class of objects having the predicate human, we say that:

`C(a man)' means ` "C(x) and x is human" is not always false'.

This leaves `a man', by itself, wholly destitute of meaning, but gives a meaning to every proposition in whose verbal expression `a man' occurs.

Consider next the proposition `all men are mortal'. This proposition is really hypothetical and states that if anything is a man, it is mortal. That is, it states that if x is a man, x is mortal, whatever x may be. Hence, substituting `x is human' for `x is a man', we find:

`All men are mortal' means ` "If x is human, x is mortal" is always true.'

This is what is expressed in symbolic logic by saying that `all men are mortal' means ` "x is human" implies "x is mortal" for all values of x'. More generally, we say:

`C(all men)' means ` "If x is human, then C(x) is true" is always true'.

Similarly

`C(no men)' means ` "If x is human, then C(x) is false" is always true'.
`C(some men)' will mean the same as `C(a man)', and
`C(a man)' means `It is false that "C(x) and x is human" is always false'.
`C(every man)' will mean the same as `C(all men)'.

It remains to interpret phrases containing the. These are by far the most interesting and difficult of denoting phrases. Take as an instance `the father of Charles II was executed'. This asserts that there was an x who was the father of Charles II and was executed. Now the, when it is strictly used, involves uniqueness; we do, it is true, speak of `the son of So-and-so' even when So-and-so has several sons, but it would be more correct to say `a son of So-and-so'. Thus for our purposes we take the as involving uniqueness. Thus when we say `x was the father of Charles II' we not only assert that x had a certain relation to Charles II, but also that nothing else had this relation. The relation in question, without the assumption of uniqueness, and without any denoting phrases, is expressed by `x begat Charles II'. To get an equivalent of `x was the father of Charles II', we must add `If y is other than x, y did not beget Charles II', or, what is equivalent, `If y begat Charles II, y is identical with x'. Hence `x is the father of Charles II' becomes: `x begat Charles II; and "If y begat Charles II, y is identical with x" is always true of y'.

Thus `the father of Charles II was executed' becomes: `It is not always false of x that x begat Charles II and that x was executed and that "if y begat Charles II, y is identical with x" is always true of y'.

This may seem a somewhat incredible interpretation; but I am not at present giving reasons, I am merely stating the theory.

To interpret `C(the father of Charles II)', where C stands for any statement about him, we have only to substitute C(x) for `x was executed' in the above. Observe that, according to the above interpretation, whatever statement C may be, `C(the father of Charles II)' implies:

`It is not always false of x that "if y begat Charles II, y is identical with x" is always true of y',

which is what is expressed in common language by `Charles II had one father and no more'. Consequently if this condition fails, every proposition of the form `C(the father of Charles II)' is false. Thus e.g. every proposition of the form `C(the present King of France)' is false. This is a great advantage to the present theory. I shall show later that it is not contrary to the law of contradiction, as might be at first supposed.

The above gives a reduction of all propositions in which denoting phrases occur to forms in which no such phrases occur. Why it is imperative to effect such a reduction, the subsequent discussion will endeavor to show.

The evidence for the above theory is derived from the difficulties which seem unavoidable if we regard denoting phrases as standing for genuine constituents of the propositions in whose verbal expressions they occur. Of the possible theories which admit such constituents the simplest is that of Meinong. This theory regards any grammatically correct denoting phrase as standing for an object. Thus `the present King of France', `the round square', etc., are supposed to be genuine objects. It is admitted that such objects do not subsist, but nevertheless they are supposed to be objects. This is in itself a difficult view; but the chief objection is that such objects, admittedly, are apt to infringe the law of contradiction. It is contended, for example, that the existent present King of France exists, and also does not exist; that the round square is round, and also not round, etc. But this is intolerable; and if any theory can be found to avoid this result, it is surely to be preferred.

The above breach of the law of contradiction is avoided by Frege's theory. He distinguishes, in a denoting phrase, two elements, which we may call the meaning and the denotation. Thus `the center of mass of the solar system at the beginning of the twentieth century' is highly complex in meaning, but its denotation is a certain point, which is simple. The solar system, the twentieth century, etc., are constituents of the meaning; but the denotation has no constituents at all. One advantage of this distinction is that it shows why it is often worth while to assert identity. If we say `Scott is the author of Waverley,' we assert an identity of denotation with a difference of meaning. I shall, however, not repeat the grounds in favor of this theory, as I have urged its claims elsewhere (loc. cit.), and am now concerned to dispute those claims.

One of the first difficulties that confront us, when we adopt the view that denoting phrases express a meaning and denote a denotation, concerns the cases in which the denotation appears to be absent. If we say `the King of England is bald', that is, it would seem, not a statement about the complex meaning `the King of England', but about the actual man denoted by the meaning. But now consider `the king of France is bald'. By parity of form, this also ought to be about the denotation of the phrase `the King of France'. But this phrase, though it has a meaning provided `the King of England' has a meaning, has certainly no denotation, at least in any obvious sense. Hence one would suppose that `the King of France is bald' ought to be nonsense; but it is not nonsense, since it is plainly false. Or again consider such a proposition as the following: `If u is a class which has only one member, then that one member is a member of u', or as we may state it, `If u is a unit class, the u is a u'. This proposition ought to be always true, since the conclusion is true whenever the hypothesis is true. But `the u' is a denoting phrase, and it is the denotation, not the meaning, that is said to be a u. Now is u is not a unit class, `the u' seems to denote nothing; hence our proposition would seem to become nonsense as soon as u is not a unit class.

Now it is plain that such propositions do not become nonsense merely because their hypotheses are false. The King in The Tempest might say, `If Ferdinand is not drowned, Ferdinand is my only son'.' Now `my only son' is a denoting phrase, which, on the face of it, has a denotation when, and only when, I have exactly one son. But the above statement would nevertheless have remained true if Ferdinand had been in fact drowned. Thus we must either provide a denotation in cases in which it is at first sight absent, or we must abandon the view that denotation is what is concerned in propositions which contain denoting phrases. The latter is the course that I advocate. The former course may be taken, as Meinong, by admitting objects which do not subsist, and denying that they obey the law of contradiction; this, however, is to be avoided if possible. Another way of taking the same course (so far as our present alternative is concerned) is adopted by Frege, who provides by definition some purely conventional denotation for the cases in which otherwise there would be none. Thus `the King of France', is to denote the null-class; `the only son of Mr. So-and-so' (who has a fine family of ten), is to denote the class of all his sons; and so on. But this procedure, though it may not lead to actual logical error, is plainly artificial, and does not give an exact analysis of the matter. Thus if we allow that denoting phrases, in general, have the two sides of meaning and denotation, the cases where there seems to be no denotation cause difficulties both on the assumption that there really is a denotation and on the assumption that there really is none.

A logical theory may be tested by its capacity for dealing with puzzles, and it is a wholesome plan, in thinking about logic, to stock the mind with as many puzzles as possible, since these serve much the same purpose as is served by experiments in physical science. I shall therefore state three puzzles which a theory as to denoting ought to be able to solve; and I shall show later that my theory solves them.

(1) If a is identical with b, whatever is true of the one is true of the other, and either may be substituted for the other in any proposition without altering the truth or falsehood of that proposition. Now George IV wished to know whether Scott was the author of Waverley; and in fact Scott was the author of Waverley. Hence we may substitute Scott for the author of `Waverley', and thereby prove that George IV wished to know whether Scott was Scott. Yet an interest in the law of identity can hardly be attributed to the first gentleman of Europe.

(2) By the law of the excluded middle, either `A is B' or `A is not B' must be true. Hence either `the present King of France is bald' or `the present King of France is not bald' must be true. Yet if we enumerated the things that are bald, and then the things that are not bald, we should not find the present King of France in either list. Hegelians, who love a synthesis, will probably conclude that he wears a wig.

(3) Consider the proposition `A differs from B'. If this is true, there is a difference between A and B, which fact may be expressed in the form `the difference between A and B subsists'. But if it is false that A differs from B, then there is no difference between A and B, which fact may be expressed in the form `the difference between A and B does not subsist'. But how can a non-entity be the subject of a proposition? `I think, therefore I am' is no more evident than `I am the subject of a proposition, therefore I am'; provided `I am' is taken to assert subsistence or being, not existence. Hence, it would appear, it must always be self-contradictory to deny the being of anything; but we have seen, in connexion with Meinong, that to admit being also sometimes leads to contradictions. Thus if A and B do not differ, to suppose either that there is, or that there is not, such an object as `the difference between A and B' seems equally impossible.

The relation of the meaning to the denotation involves certain rather curious difficulties, which seem in themselves sufficient to prove that the theory which leads to such difficulties must be wrong.

When we wish to speak about the meaning of a denoting phrase, as opposed to its denotation, the natural mode of doing so is by inverted commas. Thus we say:

The center of mass of the solar system is a point, not a denoting complex;
`The center of mass of the solar system' is a denoting complex, not a point.

Or again,

The first line of Gray's Elegy states a proposition.
`The first line of Gray's Elegy' does not state a proposition.

Thus taking any denoting phrase, say C, we wish to consider the relation between C and `C', where the difference of the two is of the kind exemplified in the above two instances.

We say, to begin with, that when C occurs it is the denotation that we are speaking about; but when `C' occurs, it is the meaning. Now the relation of meaning and denotation is not merely linguistic through the phrase: there must be a logical relation involved, which we express by saying that the meaning denotes the denotation. But the difficulty which confronts us is that we cannot succeed in both preserving the connexion of meaning and denotation and preventing them from being one and the same; also that the meaning cannot be got at except by means of denoting phrases. This happens as follows.

The one phrase C was to have both meaning and denotation. But if we speak of `the meaning of C', that gives us the meaning (if any) of the denotation. `The meaning of the first line of Gray's Elegy' is the same as `The meaning of "The curfew tolls the knell of parting day",' and is not the same as `The meaning of "the first line of Gray's Elegy".' Thus in order to get the meaning we want, we must speak not of `the meaning of C', but `the meaning of "C",' which is the same as `C' by itself. Similarly `the denotation of C' does not mean the denotation we want, but means something which, if it denotes at all, denotes what is denoted by the denotation we want. For example, let `C' be `the denoting complex occurring in the second of the above instances'. Then

C = `the first line of Gray's Elegy', and

the denotation of C = The curfew tolls the knell of parting day. But what we meant to have as the denotation was `the first line of Gray's Elegy'. Thus we have failed to get what we wanted.

The difficulty in speaking of the meaning of a denoting complex may be stated thus: The moment we put the complex in a proposition, the proposition is about the denotation; and if we make a proposition in which the subject is `the meaning of C', then the subject is the meaning (if any) of the denotation, which was not intended. This leads us to say that, when we distinguish meaning and denotation, we must be dealing with the meaning: the meaning has denotation and is a complex, and there is not something other than the meaning, which can be called the complex, and be said to have both meaning and denotation. The right phrase, on the view in question, is that some meanings have denotations.

But this only makes our difficulty in speaking of meanings more evident. For suppose that C is our complex; then we are to say that C is the meaning of the complex. Nevertheless, whenever C occurs without inverted commas, what is said is not true of the meaning, but only of the denotation, as when we say: The center of mass of the solar system is a point. Thus to speak of C itself, i.e. to make a proposition about the meaning, our subject must not be C, but something which denotes C. Thus `C', which is what we use when we want to speak of the meaning, must not be the meaning, but must be something which denotes the meaning. And C must not be a constituent of this complex (as it is of `the meaning of C'); for if C occurs in the complex, it will be its denotation, not its meaning, that will occur, and there is no backward road from denotations to meaning, because every object can be denoted by an infinite number of different denoting phrases.

Thus it would seem that `C' and C are different entities, such that `C' denotes C; but this cannot be an explanation, because the relation of `C' toC remains wholly mysterious; and where are we to find the denoting complex `C' which is to denote C? Moreover, when C occurs in a proposition, it is not only the denotation that occurs (as we shall see in the next paragraph); yet, on the view in question, C is only the denotation, the meaning being wholly relegated to `C'. This is an inextricable tangle, and seems to prove that the whole distinction between meaning and denotation has been wrongly conceived.

That the meaning is relevant when a denoting phrase occurs in a proposition is formally proved by the puzzle about the author of Waverley. The proposition `Scott was the author of Waverley' has a property not possessed by `Scott was Scott', namely the property that George Iv wished to know whether it was true. Thus the two are not identical propositions; hence the meaning of `the author of Waverley' must be relevant as well as the denotation, if we adhere to the point of view to which this distinction belongs. Yet, as we have just seen, so long as we adhere to this point of view, we are compelled to hold that only the denotation is relevant. Thus the point of view in question must be abandoned.

It remains to show how all the puzzles we have been considering are solved by the theory explained at the beginning of this article.

According to the view which I advocate, a denoting phrase is essentially part of a sentence, and does not, like most single words, have any significance on its own account. If I say `Scott was a man', that is a statement of the form `x was a man', and it has `Scott' for its subject. But if I say `the author of Waverley was a man', that is not a statement of the form `x was a man', and does not have `the author of Waverley' for its subject. Abbreviating the statement made at the beginning of this article, we may put, in place of `the author of Waverley was a man', the following: `One and only one entity wrote Waverley, and that one was a man'. (this is not so strictly what is meant as what was said earlier; but it is easier to follow.) And speaking generally, suppose we wish to say that the author of Waverley had property phi, what we wish to say is equivalent to `One and only one entity wrote Waverley, and that one had the property phi'.

The explanation of denotation is now as follows. Every proposition in which `the author of Waverley' occurs being explained as above, the proposition `Scott was the author of Waverley' (i.e. `Scott was identical with the author of Waverley') becomes `One and only one entity wrote Waverley, and Scott was identical with that one'; or, reverting to the wholly explicit form: `It is not always false of x that x wrote Waverley, that it is always true of y that if y wrote Waverley y is identical with x, and that Scott is identical with x.' Thus if `C' is a denoting phrase, it may happen that there is one entity x (there cannot be more than one) for which the proposition `x is identical with C' is true, this proposition being interpreted as above. We may then say that the entity x is the denotation of the phrase `C'. Thus Scott is the denotation of `the author of Waverley'. The `C' in inverted commas will be merely the phrase, not anything that can be called the meaning. The phrase per se has no meaning, because in any proposition in which it occurs the proposition, fully expressed, does not contain the phrase, which has been broken up.

The puzzle about George IV's curiosity is now seen to have a very simple solution. The proposition `Scott was the author of Waverley', which was written out in its unabbreviated form in the preceding paragraph, does not contain any constituent `the author of Waverley' for which we could substitute `Scott'. This does not interfere with the truth of inferences resulting from making what is verbally the substitution of `Scott' for `the author of Waverley', so long as `the author of Waverley' has what I call a primary occurrence in the proposition considered. The difference of primary and secondary occurrences of denoting phrases is as follows:

When we say: `George IV wished to know whether so-and-so', or when we say `So-and-so is surprising' or `So-and-so is true', etc., the `so-and-so' must be a proposition. Suppose now that `so-and-so' contains a denoting phrase. We may either eliminate this denoting phrase from the subordinate proposition `so-and-so', or from the whole proposition in which `so-and-so' is a mere constituent. Different propositions result according to which we do. I have heard of a touchy owner of a yacht to whom a guest, on first seeing it, remarked, `I thought your yacht was larger than it is'; and the owner replied, `No, my yacht is not larger than it is'. What the guest meant was, `The size that I thought your yacht was is greater than the size your yacht is'; the meaning attributed to him is, `I thought the size of your yacht was greater than the size of your yacht'. To return to George IV and Waverley, when we say `George IV wished to know whether Scott was the author of Waverley' we normally mean `George IV wished to know whether one and only one man wrote Waverley and Scott was that man'; but we may also mean: `One and only one man wrote Waverley, and George IV wished to know whether Scott was that man'. In the latter, `the author of Waverley' has a primary occurrence; in the former, a secondary. The latter might be expressed by `George IV wished to know, concerning the man who in fact wrote Waverley, whether he was Scott'. This would be true,. for example, if George IV had seen scott at a distance, and had asked `Is that Scott?'. A secondary occurrence of a denoting phrase may be defined as one in which the phrase occurs in a proposition p which is a mere constituent of the proposition we are considering, and the substitution for the denoting phrase is to be effected in p, and not in the whole proposition concerned. The ambiguity as between primary and secondary occurrences is hard to avoid in language; but it does no harm if we are on our guard against it. In symbolic logic it is of course easily avoided.

The distinction of primary and secondary occurrences also enables us to deal with the question whether the present King of France is bald or not bald, and general with the logical status of denoting phrases that denote nothing. If `C' is a denoting phrase, say `the term having the property F', then

`C has property phi' means `one and only one term has the property F, and that one has the property phi'.

If now the property F belongs to no terms, or to several, it follows that `C has property phi' is false for all values of phi. Thus `the present King of France is not bald' is false if it means

`There is an entity which is now King of France and is not bald',

but is true if it means

`It is false that there is an entity which is now King of France and is bald'.

That is, `the King of France is not bald' is false if the occurrence of `the King of France' is primary, and true if it is secondary. Thus all propositions in which `the King of France' has a primary occurrence are false: the denials of such propositions are true, but in them `the King of France' has a secondary occurrence. Thus we escape the conclusion that the King of France has a wig.

We can now see also how to deny that there is such an object as the difference between A and B in the case when A and B do not differ. If A and B do differ, there is only and only one entity x such that `x is the difference between A and B' is a true proposition; if A and B do not differ, there is no such entity x. Thus according to the meaning of denotation lately explained, `the difference between A and B' has a denotation when A and B differ, but not otherwise. This difference applies to true and false propositions generally. If `a R b' stands for `a has the relation R to b', then when a R b is true, there is such an entity as the relation R between a and b; when a R b is false, there is no such entity. Thus out of any proposition we can make a denoting phrase, which denotes an entity if the proposition is true, but does not denote an entity if the proposition is false. E.g., it is true (at least we will suppose so) that the earth revolves round the sun, and false that the sun revolves round the earth; hence `the revolution of the earth round the sun' denotes an entity, while `the revolution of the sun round the earth' does not denote an entity.

The whole realm of non-entities, such as `the round square', `the even prime other than 2', `Apollo', `Hamlet', etc., can now be satisfactorily dealt with. All these are denoting phrases which do not denote anything. A proposition about Apollo means what we get by substituting what the classical dictionary tells us is meant by Apollo, say `the sun-god'. All propositions in which Apollo occurs are to be interpreted by the above rules for denoting phrases. If `Apollo' has a primary occurrence, the proposition containing the occurrence is false; if the occurrence is secondary, the proposition may be true. So again `the round square is round' means `there is one and only one entity x which is round and square, and that entity is round', which is a false proposition, not, as Meinong maintains, a true one. `The most perfect Being has all perfections; existence is a perfection; therefore the most perfect Being exists' becomes:

`There is one and only one entity x which is most perfect; that one has all perfections; existence is a perfection; therefore that one exists.'

As a proof, this fails for want of a proof of the premiss `there is one and only one entity x which is most perfect'.

Mr. MacColl (Mind, N.S., No. 54, and again No. 55, page 401) regards individuals as of two sorts, real and unreal; hence he defines the null-class as the class consisting of all unreal individuals. This assumes that such phrases as `the present King of France', which do not denote a real individual, do, nevertheless, denote an individual, but an unreal one. This is essentially Meinong's theory, which we have seen reason to reject because it conflicts with the law of contradiction. With our theory of denoting, we are able to hold that there are no unreal individuals; so that the null-class is the class containing no members, not the class containing as members all unreal individuals.

It is important to observe the effect of our theory on the interpretation of definitions which proceed by means of denoting phrases. Most mathematical definitions are of this sort; for example `m-n means the number which, added to n, gives m'. Thus m-n is defined as meaning the same as a certain denoting phrase; but we agreed that denoting phrases have no meaning in isolation. Thus what the definition really ought to be is: `Any proposition containing m-n is to mean the proposition which results from substituting for "m-n" "the number which, added to n, gives m".' The resulting proposition is interpreted according to the rules already given for interpreting propositions whose verbal expression contains a denoting phrase. In the case where m and n are such that there is one and only one number x which, added to n, gives m, there is a number x which can be substituted for m-n in any proposition contain m-n without altering the truth or falsehood of the proposition. But in other cases, all propositions in which `m-n' has a primary occurrence are false.

The usefulness of identity is explained by the above theory. No one outside of a logic-book ever wishes to say `x is x', and yet assertions of identity are often made in such forms as `Scott was the author of Waverley' or `thou are the man'. The meaning of such propositions cannot be stated without the notion of identity, although they are not simply statements that Scott is identical with another term, the author of Waverley, or that thou are identical with another term, the man. The shortest statement of `Scott is the author of Waverley' seems to be `Scott wrote Waverley; and it is always true of y that if y wrote Waverley, y is identical with Scott'. It is in this way that identity enters into `Scott is the author of Waverley'; and it is owing to such uses that identity is worth affirming.

One interesting result of the above theory of denoting is this: when there is an anything with which we do not have immediate acquaintance, but only definition by denoting phrases, then the propositions in which this thing is introduced by means of a denoting phrase do not really contain this thing as a constituent, but contain instead the constituents expressed by the several words of the denoting phrase. Thus in every proposition that we can apprehend (i.e. not only in those whose truth or falsehood we can judge of, but in all that we can think about), all the constituents are really entities with which we have immediate acquaintance. Now such things as matter (in the sense in which matter occurs in physics) and the minds of other people are known to us only by denoting phrases, i.e. we are not acquainted with them, but we know them as what has such and such properties. Hence, although we can form propositional functions C(x) which must hold of such and such a material particle, or of So-and-so's mind, yet we are not acquainted with the propositions which affirm these things that we know must be true, because we cannot apprehend the actual entities concerned. What we know is `So-and-so has a mind which has such and such properties' but we do not know `A has such and such properties', where A is the mind in question. In such a case, we know the properties of a thing without having acquaintance with the thing itself, and without, consequently, knowing any single proposition of which the thing itself is a constituent.

Of the many other consequences of the view I have been advocating, I will say nothing. I will only beg the reader not to make up his mind against the view --- as he might be tempted to do, on account of its apparently excessive complication --- until he has attempted to construct a theory of his own on the subject of denotation. This attempt, I believe, will convince him that, whatever the true theory may be, it cannot have such a simplicity as one might have expected beforehand.


Originally printed in Mind, new series, 14 (1905): 479--493; text from Logic and Knowledge, ed. Robert Marsh, 1956.
Typed 24-25 September 1995 | Typo fixed thanks to A. J. P. Jewell, 1 November 2007

http://cscs.umich.edu/~crshalizi/Russell/denoting/
Đọc tiếp →

Thứ Bảy, 29 tháng 5, 2010

Ngụy biện - Viện Dẫn tới Động Cơ (thay vì Sở Cứ)




II. Viện Dẫn tới Động Cơ thay vì Sở Cứ (Appeals to Motive (1) in Place of Support)

Ngụy biện trong mục này thông thường được vận dụng để viện dẫn tới cảm xúc hay những yếu tố tâm lý khác. Theo cách này, chúng không đưa ra những lý lẽ cho niềm tin.

Những ngụy biện sau đây là sự viện dẫn tới động cơ thay vì sở cứ:

Viện dẫn tới Quyền lực (Appeal to Force)
Viện dẫn tới Tình thương (Appeal to Pity)
Viện dẫn tới Hệ quả (Appeal to Consequences)
Ngôn ngữ định kiến (Prejudicial Language)
Viện dẫn tới Tính quần chúng (Appeal to Popularity)


* Nguồn: http://www.onegoodmove.org/fallacy/motive.htm

01. Viện dẫn tới Quyền lực (argumentum ad baculum)

Định nghĩa:
Người đọc được nói rằng những hệ quả khó chịu sẽ kéo tới nếu họ không đồng ý với tác giả.

Ví dụ:
i. Bạn tốt hơn nên đồng ý rằng chính sách mới của công ty là sự đầu tư tốt nhất nếu bạn muốn giữ công việc của mình.
ii. NAFTA là sai, và nếu bạn không bỏ phiếu chống lại NAFTA thì chúng tôi sẽ biểu quyết cho bạn rời khỏi văn phòng.

Chứng minh:
Nhận dạng sự cảnh báo và mệnh đề, rồi phản biện rằng sự cảnh báo là không liên hệ với tính đúng hay sai của mệnh đề.

02. Viện dẫn tới Tình thương (argumentum ad misercordiam)

ĐN:
Người đọc được nói rằng phải đồng ý với mệnh đề, bởi vì tình trạng đáng thương của tác giả.

VD:
Chúng tôi hi vọng ngài sẽ chấp nhận những đề xuất của chúng tôi. Chúng tôi đã dùng ba tháng cuối để làm việc ngoài giờ với chúng.

CM:
Nhận dạng mệnh đề và sự viện dẫn tới tình thương, rồi phản biện rằng tình trạng đáng thương của người tranh luận không có gì liên đới tới tính đúng của mệnh đề.

03. Viện dẫn tới Hệ quả

ĐN:
Tác giả chỉ ra những hệ quả khó chấp nhận từ việc nắm giữ một niềm tin cụ thể, ngõ hầu chỉ ra niềm tin này là sai.

VD:
i. Bạn không thể tán thành sự tiến hóa là đúng, bởi nếu thế ta sẽ không tốt đẹp gì hơn loài khỉ vượn. ii. Bạn phải tin có Chúa, nếu không cuộc đời sẽ chẳng có ý nghĩa nào. (Có thể, nhưng cũng có khả năng ngang bằng là bởi vì cuộc đời không có ý nghĩa mà Chúa không tồn tại.)

CM:
Nhận dạng những hệ quả, rồi phản biện rằng những gì ta muốn là một case không ảnh hưởng tới những gì thực sự là một case.

04. Ngôn ngữ định kiến

ĐN:
Những thuật ngữ nặng nề hay gây cảm xúc được dùng để gắn giá trị hay phẩm tính đạo đức với sự tin tưởng vào một mệnh đề.

VD:
i. Những người Canada suy nghĩ đúng đắn sẽ đồng ý với tôi là chúng ta nên có một cuộc biểu quyết tự do khác về án tử hình.
ii. Một người biết điều có thể sẽ đồng ý rằng bản kê khai thu nhập của chúng ta quá thấp.
iii. Nghị sĩ Turner cho là mức thuế mới sẽ giảm thiểu sự thâm hụt. (Ở đây, cách dùng "cho là" (claim) (1) ngụ ý rằng những gì Turner nói là sai.)
iv. Bản kiến nghị hầu như bị những quan chức của Nghị viện phản đối. (So sánh câu này với: Bản kiến nghị hầu như bị các viên chức của Nghị viện loại bỏ.)

CM:
Nhận dạng những thuật ngữ định kiến được dùng (ví dụ như "Những người Canada suy nghĩ đúng đắn" hay "Một người biết điều"). Chỉ ra là sự bất đồng với kết luận không làm một người thành "suy nghĩ sai trái" hay "không biết điều."

05. Viện dẫn tới Tính quần chúng

ĐN:
Một mệnh đề được xem là đúng bởi vì nó được đa số xem là đúng hay được phần nào đó dân chúng (thường là tầng lớp trên) xem là đúng. Ngụy biện này đôi khi cũng được gọi là "Viện dẫn tới Cảm xúc" bởi vì toàn thể những viện dẫn cảm xúc thường gây ảnh hưởng tới dân chúng.

VD:
i. Nếu cô xinh đẹp, cô có thể sống như thế, vậy hãy mua Buty-EZ và trở nên xinh đẹp. (Ở đây, sự viện dẫn là tới "những người xinh đẹp".)
ii. Những cuộc điều tra dư luận đề xuất là những người thuộc đảng Tự Do sẽ thành lập một chính phủ dành cho số đông, do đó bạn có thể bỏ phiếu cho họ cũng chẳng sao.
iii. Mọi người đều biết quả đất là phẳng, vậy sao anh cứ khăng khăng giữ cái phát biểu lạ lùng của mình?

CM:
none.

------------------------
* (1): Motive
Def:
"implies an emotion or desire operating on the will and causing it to act" - Meriam-webster.
"the reason that makes someone do something, especially when this reason is kept hidden" - Longman.

Syn:
motive, impulse (bốc đồng, phấn khích), incentive (khích lệ), inducement (dẫn dụ), spur (thúc đẩy, thúc giục), goad.

Puzz:
Motive vs purpose? (dif. positions in a process)
Motive vs reason/ground/support? (dif. functions: explaining and reasoning)

* (2): Claim
Syn: claim (demand), state, declare, held, announce, proclaim, assert, etc.
Đọc tiếp →

Thứ Sáu, 12 tháng 2, 2010

Ngụy Biện - Sự Gây Nhãng Trí: Câu Hỏi Phức

.



I.4. Câu Hỏi Phức Hợp

Định nghĩa
Hai vấn đề khác nhau không liên hệ thì được kết hợp và xem như một mệnh đề đơn nhất. Người đọc được trông đợi là chấp nhận hoặc loại bỏ hoàn toàn cả hai, khi mà thực tế thì một thứ có thể được chấp nhận trong khi thứ khác thì không. Một câu hỏi phức hợp một cách sử dụng không hợp lệ của toán tử "và" (and).

Ví dụ
- Bạn nên ủng hộ sự giáo dục tại gia và quyền được Chúa ban cho các bậc cha mẹ nuôi nấng con cái của họ theo những niềm tin riêng của họ.

- Bạn có ủng hộ tự do và quyền sở hữu vũ khí không?

- Bạn đã ngừng sử dụng những hoạt động buôn bán bất hợp pháp? (Cái này hỏi hai câu hỏi: Bạn đã sử dụng những hoạt động bất hợp pháp, và bạn đã ngừng chưa?)

Chứng minh
Nhận dạng hai mệnh đề được kết hợp không hợp lệ và chỉ ra rằng tin một thứ không có nghĩa là bạn phải tin vào thứ kia.

-------------------
Toán tử kết hợp

Bất kỳ hai mệnh đề P và Q nào cũng có thể được kết hợp, tạo ra mệnh đề phức hợp mới:

P và Q

Mệnh đề "P và Q" là đúng khi và chỉ khi cả P và Q đều đúng. Nếu không thì nó là sai.



Đọc tiếp →

Thứ Tư, 10 tháng 2, 2010

Ngụy Biện - Sự Gây Nhãng Trí: Dốc Trơn Tuột

.


I.3. Dốc Trơn Tuột

Định nghĩa
Ngõ hầu (in order to) chỉ ra rằng một mệnh đề P là không thể chấp nhận, một chuỗi những sự kiện không thể chấp nhận theo thứ tự tăng dần được chỉ ra là kéo theo sau P. Một dốc trơn tuột là một cách dùng không hợp lệ của toán tử "nếu-thì" (if-then).

Ví dụ
- Nếu chúng ta thông qua luật chống vũ khí tự động (fully-automatic), thì không bao lâu trước khi chúng ta sẽ áp đặt luật này lên mọi vũ khí, và khi đó chúng ta sẽ bắt đầu giới hạn những quyền khác, và sau cùng chúng ta sẽ kết thúc bằng cách sống trong một tình trạng cộng sản. Do đó, chúng ta không nên cấm vũ khí tự động.

- Anh nên không bao giờ chơi bạc. Một khi anh bắt đầu chơi bạc, anh sẽ thấy thật khó để ngừng lại. Mau chóng anh sẽ dùng toàn bộ số tiền của anh để chơi bạc, và thậm chí anh sẽ hướng đến tội lỗi để duy trì khoản lãi của mình.

- Nếu tôi làm một ngoại lệ cho bạn, khi đó tôi phải làm một ngoại lệ cho mỗi người.

Chứng minh
Nhận dạng mệnh đề P đang bị phản bác (refute) và nhận dạng sự kiện cuối cùng trong các chuỗi sự kiện. Khi đó, chỉ ra rằng sự kiện cuối cùng này không nhất thiết xảy ra như là một hệ quả của P.

--------------
Toán tử điều kiện:

Bất kỳ hai mệnh đề P và Q nào cũng có thể được liên kết bằng một toán tử điều kiện, tạo ra một mệnh đề phức hợp mới:

Nếu P thì Q

Mệnh đề "Nếu P thì Q" là đúng khi và chỉ khi hoặc P sai hoặc Q đúng. Nó là sai chỉ khi P đúng và Q sai.


Đọc tiếp →

Ngụy Biện - Sự Gây Nhãng Trí: Sự Không Biết

.


I.2.Suy luận từ Sự không biết.
(argumentum ad ignorantiam)

Định nghĩa
Những suy luận dạng này giả định rằng bởi vì thứ gì đó đã không được chứng minh là sai, nên nó là đúng. Ngược lại, một suy luận như thế có thể giả định rằng bởi vì thứ gì đó chưa được chứng minh là đúng, nên nó là sai. (Đây là case đặc biệt của một song đề giả sai trái, bởi vì nó giả định rằng mọi mệnh đề phải hoặc được biết (1) là đúng hoặc được biết là sai.) Như Davis viết, "Thiếu bằng chứng (proof) không là bằng chứng." (trang 59)

Ví dụ
- Bởi vì anh không thể chứng minh rằng các con quái vật không tồn tại, chúng phải tồn tại.


- Bởi vì các nhà khoa học không thể chứng minh rằng sự làm nóng toàn cầu sẽ xảy ra, nó chắc sẽ không xảy ra.
- Fred đã nói rằng anh ấy thông minh hơn Jill, nhưng anh ta không chứng minh được cái đấy, do đó cái đấy phải sai.

Chứng minh
Nhận dạng mệnh đề đang bàn đến. Phản biện (argue) rằng nó có thể đúng ngay cả khi chúng ta không biết nó đúng hay không.

---------------
* (1):
Theo định nghĩa, một mệnh đề phải hoặc đúng hoặc sai, không phải "hoặc được biết là đúng hoặc được biết là sai." - Leopard.

* Nguồn: http://www.onegoodmove.org/fallacy/ig.htm

* Xem thêm những nguyên tắc của Công lý tự nhiên: (nguyên tắc về bằng chứng)

http://en.wikipedia.org/wiki/Principles_of_natural_justice


Đọc tiếp →

Thứ Hai, 8 tháng 2, 2010

Ngụy Biện - Sự Gây Nhãng Trí: Song Đề Giả

.




I.1. Song Đề Giả

Định nghĩa
Một số hữu hạn các lựa chọn (thường là hai) được đưa ra, trong khi thực tế thì số lựa chọn là nhiều hơn. Một song đề giả sai trái là một cách dùng không hợp lệ của toán tử "or" (1).

Đặt những vấn đề hay quan điểm thành những trường hợp "black or white" là một ví dụ phổ biến của ngụy biện này.

Ví dụ
Hoặc bạn theo tôi hoặc chống lại tôi.
Mỗi người hoặc là tốt hoàn toàn hoặc là độc ác hoàn toàn.

Chứng minh
Nhận dạng những quan điểm được đưa ra và chỉ ra (với một ví dụ) là có một lựa chọn thêm vào.
---------------------
* (1): Toán tử "or"

Hai mệnh đề P và Q bất kỳ có thể được phân cách, tạo ra một mệnh đề phức hợp mới:
"P hoặc Q"

Mệnh đề "P hoặc Q" là đúng khi và chỉ khi hoặc P hay Q là đúng, là sai chỉ khi cả P và Q cùng sai.

Bảng giá trị của "P hoặc Q" như sau:

* Nguồn: http://www.onegoodmove.org/fallacy/fd.htm

Đọc tiếp →

Chủ Nhật, 7 tháng 2, 2010

Ngụy Biện - Sự Gây Nhãng Trí

.
I. Những Ngụy Biện Gây Nhãng Trí

Mỗi nguỵ biện này có đặc điểm là cách dùng không hợp lệ một toán tử logic (1) để gây nhãng trí cho người đọc với tính sai trái hiển nhiên của một mệnh đề (2) nhất định. Những nguỵ biện dưới đây là những nguỵ biện gây nhãng trí:

- Song đề giả (dùng sai toán tử “or”)
- Suy luận từ sự không biết (3) (dúng sai toán tử “not”)
- Dốc trơn tuột (dùng sai toán tử “if-then”)
- Câu hỏi phức (dùng sai toán tử “and”)

----------
* (1): Toán tử logic (logical operator)

Một toán tử logic liên kết 2 mệnh đề để hình thành một mệnh đề mới, phức hợp.

Giá trị đúng của mệnh đề mới được xác định bởi giá trị đúng của hai mệnh đề được liên kết và bởi toán tử liên kết chúng.

Dưới đây là các toán tử logic:

Liên hợp (and)
Liên phân (or)
Điều kiện (if-then)
Phủ định (not)
Điều kiện kép (if-and-only-if)

* (2): Mệnh đề (proposition)


Định nghĩa

Một mệnh đề là một tuyên bố rằng thứ gì đó là một case. Chúng ta sử dụng các câu để biểu diễn các mệnh đề.

Ví dụ

Các câu sau biểu diễn cùng một mệnh đề:
- John yêu Mary.
- Mary được yêu bởi John.

Thảo luận

Khá rõ ràng khi coi một mệnh đề như ý nghĩa hiện hữu của một câu. Ý nghĩa của một câu có một số thành phần:

Sự biểu vật: trạng thái của các sự vụ trong thế giới mà câu xem là một case.

Sự biểu ý: các cảm tưởng, ý tưởng hảy cảm xúc được khơi gợi với độc giả bởi câu.

Sự nhấn mạnh: sự quan trọng tương đối mà người viết gán cho những yếu tố khác nhau trong câu.

Ví dụ, trong câu "Ngọn lửa bùng cháy xuống dưới quả đồi", sự biểu vật của câu là tuyên bố có một ngọn lửa đang cháy trên một quả đồi và di chiển xuống dưới quả đồi. Sự biểu ý là điều đấy là thứ gì đó đáng ngại (từ "bùng cháy" (rage) ngụ ý sự giận dữ và nguy hiểm). Sự nhấn mạnh trong câu này là chính ngọn lửa; còn chúng ta viết cùng câu đó là "Dưới quả đồi, ngọn lửa bùng cháy", sự nấnh mạnh sẽ đặt vào quả đồi.

Các triết gia tranh luận rất nhiều về ý nghĩa. Một số nói rằng ý nghĩa chỉ là sự biểu vật, một số nói cái đấy là chỉ là một sự kết hợp giữa sự biểu vật và sự biểu ý, trong khi những người khác nó cái đấy là cả ba thứ.

.
* (3): Men are born ignorant, not stupid - Bertrand Russell.

* Nguồn: http://www.onegoodmove.org/fallacy/distract_index.htm
Đọc tiếp →

Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2009

What Is Critical Reading?

Cách đọc phê phán là thế nào?

Chú ý: Những ghi chú ở đây trước hết nhắm vào những văn bản không hư cấu (non-fictional texts).


Thực kiện và thông dịch (Facts v. Interpretation)

Với người đọc không phê phán, văn bản cung cấp những thực kiện. Người đọc thu được tri thức bằng cách ghi nhớ những phát ngôn trong văn bản.

Với người đọc phê phán, bất kỳ văn bản đơn lẻ nào cũng chỉ cung cấp sự mô tả về thực kiện, sự nắm bắt của một cá nhân về chủ đề (subject matter). Như thế, người đọc phê phán nhận ra không chỉ điều văn bản nói, mà còn cách văn bản mô tả chủ đề. Họ nhận ra những cách thức khác nhau mà vì thế mỗi một văn bản là sự thành tạo độc nhất của một tác giả độc nhất.

Một người đọc không phê phán có lẽ đọc một cuốn sách lịch sử để học những thực kiện của một tình huống, hoặc khám phá một sự thông dịch đã được công nhận về các sự kiện đó. Một người đọc phê phán thì có lẽ đọc cùng một thứ như thế mà để đánh giá bằng cách nào một cách phối cảnh/dàn dựng (perspective) riêng về những sự kiện, và một cách chọn lọc riêng những thực kiện có thể dẫn tới sự hiểu biết riêng biệt.


Điều một văn bản nói, làm và hàm ý: Hướng tới một sự thông dịch

Sự đọc không phê phán được thoả đáp bằng sự nhận ra điều một văn bản nói và nhắc lại những ghi chú chính.

Sự đọc phê phán đi hai bước xa hơn. Nhận ra điều văn bản nói, nó liên hệ tới điều văn bản làm bằng cách tạo ra những ghi chú như thế. Nó có đưa ra những ví dụ? Suy luận? Kêu gọi sự đồng thuận? Tạo ra sự tương phản để làm rõ một trọng điểm/tiêu điểm (point)? Sau cùng, người đọc phê phán khi suy diễn điều văn bản hàm ý như một chỉnh thể, dựa trên sự phân tích có trước.

Ba bước hay ba cách phân tích này được phản ánh trong ba kiểu đọc và thảo luận:
- Điều văn bản nói - Sự nhắc lại
- Điều văn bản làm - Sự mô tả
- Điều văn bản hàm ý - Sự thông dịch

Bạn có thể phân biệt mỗi cách phân tích theo chủ đề thảo luận:
- Điều văn bản nói - Sự nhắc lại - nói cùng một chủ đề với văn bản gốc
- Điều văn bản làm - Sự mô tả - thảo luận về những phương diện của chính cuộc thảo luận
- Điều văn bản hàm ý - Sự thông dịch - phân tích văn bản và khẳng định một ý nghĩa cho văn bản như là một chỉnh thể.


Những mục tiêu của sự đọc phê phán

Sách giáo khoa theo sự đọc phê phán yêu cầu sinh viên đạt đến những mục tiêu nhất định sau:
- nhận ra mục đich của tác giả
- nhận biết giọng điệu và những yếu tố có sức thuyết phục
- nhận ra thiên kiến

Lưu ý rằng không một mục tiêu nào ở trên thực sự tham chiếu tới những thứ trên trang viết. Chúng đòi hỏi những sự suy diễn từ bằng chứng trong văn bản:
- nhận ra mục đích bao hàm sự suy diễn một cơ sở của những chọn lựa về nội dung và ngôn ngữ/phương tiện diễn đạt (content & language)
- nhận ra giọng điệu và những yếu tố có sức thuyết phục bao hàm sự phân loại bản chất của những chọn lựa về ngôn ngữ
- nhận ra thiên kiến bao hàm sự phân loại bản chất những nguyên mẫu chọn lựa của nội dung và ngôn ngữ

Trang web này được thiết kế để mang sự bí ẩn ra khỏi sự đọc phê phán. Chúng được thiết kế đề chỉ ra cho bạn điều kiếm tìm (phân tích) và cách suy nghĩ về điều bạn tìm thấy (suy diễn).

Phần đầu - điều kiếm tìm - bao hàm sự nhận ra những phương diện của thảo luận mà nắm giữ ý nghĩa.
Phần hai - cách suy nghĩ về điều bạn tìm thấy - bao hàm những quá trình suy diễn, thông dịch dữ liệu từ trong văn bản.

Hãy nhớ ra sự đọc phê phán giả định rằng mỗi tác giả đưa ra một sự mô tả về chủ đề. Như thế, sự đọc phê phán dựa trên sự kiểm tra những lựa chọn mà mỗi một tác giả phải có khi tạo bộ khung trình bày/dàn bài: những lựa chọn về nội dung, ngôn ngữ và cấu trúc. Người đọc kiểm tra từng phạm vi lựa chọn, và xem xét tác động của chúng tới Ý nghĩa.


http://www.criticalreading.com/critical_reading.htm
----------

(tobecont.)
Đọc tiếp →

Thứ Ba, 29 tháng 9, 2009

Lập ngôn?

Sĩ vị khả dĩ ngôn nhi ngôn, thị dĩ ngôn thiểm chi. (MT)

Kẻ sĩ lúc chưa đáng nói mà nói, là dùng lời nói để thăm dò.

...

(cont.)
Đọc tiếp →

Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2009

Plea for Reason, Evidence and Logic



Dịch dật tí chơi.

----------------
Plea for Reason, Evidence and Logic
by Alan Sokal


Transcript of a talk presented at a forum at New York University on October 30, 1996. It was reprinted in New Politics 6(2), pp. 126-129 (Winter 1997).


Công chiện hôm nay đã mang đến một số chủ đề khó tin, và tôi ko thể mơ tới chiện diễn thuyết về mọi điều trong 10 phút, do đó hãy để tôi khai mào bằng cách giới hạn (circumscribing) bài nói của mình. Tôi không muốn lên gối (belabor) vào sự yếu kém của Social Text cả trước và sau khi công bố bản văn nhái (parody) của mình: SC ko phải kẻ thù, ko phải mục tiêu trí thức chính của tôi. Tôi sẽ không đi vào những chủ đề đạo đức liên hệ tới tính đúng đắn của hành vi xỏ xiên (hoaxing) (dù tôi sẽ vui lòng biện hộ cho đạo đức của mình khi nào được hỏi). Tôi sẽ ko diễn thuyết về văn vở của đám người theo thuyết ngu dân (obscurantist prose) và sự sùng bái danh tiếng không phê phán mà đã tiêm nhiễm vào các lĩnh vực luỵ thời nhất định của nhân tính học giới Mẽo... (infected certain trendy sectors of the American academic humanities) (dù đây là những vấn đề quan trọng mà tôi hi vọng người tham gia khác sẽ diễn thuyết). Tôi sẽ không bước vào những chủ đề chiên môn của triết học khoa học (philosophy of science) (dù lần nữa tôi sẽ vui lòng làm điều đó khi nào được hỏi). Tôi sẽ ko thảo luận về vai trò xã hội của khoa học và công nghệ (dù đây là những chủ đề quan trọng). Thực ra, tôi muốn nhấn mạnh rằng chiện hôm nay, theo quan điểm của tôi, không chính yếu về khoa học - dù nó là sự bào chữa (excuse) cho việc dựng nên bản văn nhái của tôi - cũng ko là một mâu thuẫn về lề lối (disciplinary conflict) giữa những nhà nhà khoa học và nhà chủ nghĩa nhân văn (humanist), những người thực sự đại diện cho các phía của cuộc luận chiến. Điều tôi tin tưởng là cuộc luận chiến này chủ yếu về - và điều tôi muốn tập trung tối nay - bản chất của sự thật, lý trí và tính khách quan: những chủ đề tôi tin là cốt yếu (crucial) với tương lai của hoạt động chính trị phe tả (left politics).

Tôi đã ko viết bài văn nhái vì lý do các bạn có lẽ nghĩ đến đầu tiên. Mục tiêu của tôi không phải bảo vệ khoa học khỏi những đám phê bình văn chương man rợ hay xã hội học. Tôi biết hoàn toàn rõ ràng rằng những mối đe doạ chính với khoa học ngày nay tới từ những quản trị viên tập đoàn và những nhà chính trị chủ trương cắt giảm ngân quỹ (budget-cutting politicians and corporate executives), chứ ko tới từ một nhúm các học giả hậu hiện đại. Hơn nữa, mục đích của tôi là phải bảo vệ thứ mà mọi người gọi là thế giới quan khoa học (scientific worldview) - được định nghĩa rộng ra như một phương diện về bằng chứng và logic, và về sự đối chiếu không ngừng của những lý thuyết với thế giới thực; ngắn gọn hơn, với suy luận duy lý đặt trên sự mị dân, mê tín và mộng tưởng. Và động cơ của tôi để cố gắng bảo vệ những ý tưởng lỗi thời này, về cơ bản, là có tính chính trị. Tôi lo lắng về những trào lưu trong phe người Mẽo cánh tả (trends in the American Left) - xét riêng trong giới học giả ở đây - mà một lượng tối thiểu làm chúng ta chệch hướng khỏi nhiệm vụ công thức hoá sự phê phán xã hội tiến bộ (formulating a progressive social critique), bằng cách dẫn dắt những người tận tâm và thông minh tới trào lưu mà sau cùng chỉ là những kiểu cách trí thức rỗng tuếch, và có thể thực sự ngầm phá hoại những triển vọng về sự phê phán nói trên, bằng sự đề xướng thứ triết học của những người theo thuyết tương đối và thuyết chủ quan mà theo quan điểm của tôi là ko nhất quán (inconsistent) để đưa ra một bản phân tích thực tế về xã hội mà chúng ta cùng với những bạn công dân của mình sẽ tìm thấy sự thuyết phục.

David Whiteis, trong một bài báo gần đây, đã nói rất rõ:




Rất nhiều học giả, an toàn trong toà tháp ngà của mình và được cách ly khỏi những hệ quả ngoài đời thực mà tới từ ý tưởng họ tán thành, dường như mù loà trước một thực tế rằng sự phi lý (non-rationality) từ rất lâu đã là một trong những vũ khí mạnh mẽ nhất trong những pháo đài ý thức hệ (ideological arsenals) của những kẻ đàn áp. Tính siêu chủ quan (hypersubjectivity) ở những nhà hậu hiện đại là một ca rõ ràng (perfect case) tại điểm sau: không những là một sự kế thừa từ công cuộc bài trừ thánh tượng của phe tả (leftist iconoclasm), như một số chủ trương tuyên bố rất không chân thật, nó thực sự... đóng vai những nhà chống duy lý một cách hoàn hảo. - chống tư tưởng thực sự - một thiên kiến hiện đang tiêm nhiễm tới xu thế chủ đạo của văn hoá Mẽo (infects "mainstream" U.S. culture).

Theo những dòng trên, triết gia khoa học Larry Laudan đã nhận xét một cách chua chát rằng:




Sự thế chỗ ý tưởng về chất liệu bằng chứng và thực kiện (facts and evidence matter) bởi ý tưởng mọi thứ cô cạn (boils down) thành những cách hiểu và sở thích chủ quan - chỉ lần thứ hai tới trong những cuộc vận động chính trị Mẽo - là sự thị uy nguy hại và nổi bật nhất của chủ nghĩa phản trí thức trong thời đại của chúng ta.
(Ngày nay, trở thành phản trí thức hay vận động chính trị ở Mẽo thực ra đều khá kỳ công.)

Bi giờ dĩ nhiên là, chả ai sẽ chấp nhận dựa vào logic, bằng chứng và lý trí - giống như dựa vào Motherhood và Apple Pie. Hơn thế, những ngườii bạn hậu cấu trúc và hậu hiện đại của chúng ta sẽ tuyên bố ủng hộ thứ lý trí nào đó mới lạ và sâu sắc hơn, ví dụ như sự tán dương những "tri thức địa phương" (local knowledges) và những "cách hiểu biết tuỳ chọn" (alternative ways of knowing) như một liều thuốc giải, cái được kêu là "Phương pháp luận khoa học Trung Âu" (Eurocentric scientific methodology) (các bạn biết, những thứ như tái tạo, điều khiển, thí nghiệm có tính hệ thống...v.v). Bạn tìm thấy một thành ngữ ma thuật "Tri thức địa phương", lấy ví dụ, trong những bài báo Andrew Ross và Sandra Harding trong chủ đề Science Wars của Social Text. Nhưng toàn bộ những "tri thức địa phương" có tuyệt vời ko? Và khi những tri thức địa phương mâu thuẫn, thì chúng ta nên tin tri thức địa phương nào? Trong nhiều vùng ở Midwest, những tri thức địa phương bẩu rằng bạn nên phun nhiều thuốc diệt cỏ để có vụ mùa lớn hơn. Khoa học khách quan lỗi thời thì bẩu thuốc diệt cỏ là độc hại với nông phu và con người phía hạ lưu. Tại thành phố New York, rất nhiều tri thức địa phương đã cho là có một làn sóng những bà mẹ teengage đang huỷ diệt những chỉ dẫn đạo đức (moral fiber) của chúng ta. Những dữ liệu nhàm chán thì chỉ ra tỉ suất sinh đẻ của những bà mẹ teenage về cơ bản là không thay đổi kể từ năm 1975, và bằng phân nửa tỷ suất mẫu mực của năm 1950. Một từ khác để gọi "tri thức địa phương" là định kiến.


Tôi xin lỗi phải nói điều này, nhưng dưới ảnh hưởng của hậu hiện đại một số người rất thông minh có thể ngã vào lối suy nghĩ tuỳ tiện một cách khó tin, và tôi muốn đưa ra 2 ví dụ. Cái đầu tới từ một bài báo đầu trang trên tờ New York Times thứ ba trýớc (10/22/96) về mâu thuẫn giữa những nhà khảo cổ học và một số nhà Sáng tạo luận người Mẽo bản địa (archaeologists and some Native American creationists). Tôi ko muốn diễn thuyết tại đây về những phương diện luật pháp và đạo đức của cuộc tranh luận này - người ta nên làm chủ việc sử dụng nốt 10,000 năm còn lại của nhân loại - mà chỉ về vấn đề nhận thức. Có ít nhất 2 quan điểm xung khắc về nơi mà cư dân bản địa Mẽo xuất phát. Sự nhất trí của khoa học, dựa trên những bằng chứng khảo cổ bao quát, là nhân loại tiến vào Châu Mĩ lần đầu tiên từ Châu Á vào khoảng 10-20,000 năm trước, băng qua eo biển Bering. Nhiều nhà Sáng tạo luận Mẽo bản địa thì quả quyết rằng, trái lại, người bản địa đã luôn luôn sinh sống tại châu Mĩ, kể từ khi tổ tiên của họ xuất hiện trên mặt đất từ một thế giới bí hiểm của tinh thần. Và bài báo Times nhận xét rằng rất nhiều nhà khảo cổ học, "bị giằng co giữa sự đồng cảm với văn hoá bản địa và khí chất khoa học của mình, ... đã hướng gần đến chủ nghĩa tương đối hậu hiện đại mà khi đấy khoa học cũng không hơn một hệ thống niềm tin." Ví dụ như, Roger Anyon, một nhà khảo cổ học Anh Cát Lợi, người đã từng làm việc với người Zuni, đã được trích dẫn là nói thế này "Khoa học chỉ là một trong nhiều cách nhận biết thế giới. ... [Quan điểm về thế giới của người Zuni là] cũng có giá trị như (*) quan điểm của khảo cổ học về những gì thuộc về thời tiền sử.


Bi giờ, có thể Dr. Anyon đã bị trích dẫn sai, nhưng tất cả chúng ta đã nghe đi nghe lại những khẳng định như trên, và tôi muốn hỏi những khẳng định như thế có thể có nghĩa gì. Chúng ta có ở đây hai lý thuyết ko tương hợp với nhau. Chúng ko thể cùng đúng; chúng cũng ko thể gần đúng. Dĩ nhiên, chúng có thể cùng sai, nhưng tôi ko tưởng tượng được rằng điều mà Dr. Anyon muốn nói là "cũng có giá trị nhý nhau (*)". Theo tôi thì dường như Anyon đã để sự đồng cảm về văn hoá và chính trị làm tối mờ lập luận của mình một cách khá giản đơn. Và không có sự biện minh nào cho điều đấy. Chúng ta có thể nhớ hoàn toàn rõ ràng đến những nạn nhân của một sự diệt chủng khủng khiếp và giúp đỡ những mục tiêu chính trị hợp lý của họ, nhưng không thể tán thành những truyền thuyết về sáng tạo cổ xưa của họ theo cách thiếu phê phán (hay phê phán giả tạo). Hơn thế, thái độ của những người theo thuyết tương đối là cực kỳ kẻ cả: Họ đối xử với một xã hội phức tạp như với một cục đá nguyên khối, che đậy những xung đột bên trong nó, và xem những bè cánh theo chủ thuyết ngu dân mạnh mẽ nhất như là phát ngôn viên cho tất cả.


Ví dụ thứ hai của tôi về lối suy nghĩ tuỳ tiện tới từ bài báo của đồng chủ biên Social Text, Bruce Robbins, trong tạp chí Tikkun số tháng 9/10 năm 1996, mà ông ta cố gắng bảo vệ - mặc dù miễn cưỡng - công cuộc phá đảo của chủ nghĩa hậu cấu trúc/ hậu hiện đại tới những ý niệm có tính quy ước/ước lệ về sự thật (conventional notions of truth). "Có phải quyền lợi của phụ nữ, những người Mẽo gốc Phi, và những người bị bóc lột cùng cực khác (super-exploited people)", Robbins hỏi, "đòi hỏi rằng tính đồng nhất và sự thật phải là những kiến tạo của xã hội? Có hay không," ông ta khẳng định. "Ko, bạn ko thể nói về sự bóc lột mà thiếu đi sự kiểm chứng" - chính xác theo quan điểm của tôi - "Nhưng đúng là," Robbins tiếp, "sự thật có thể là khởi nguồn của sự áp bức." Huh??? Sự thật có thể áp bức ai đó như thế nào? Ồ, những lời kế tiếp của Robbins giải thích điều anh ta muốn nói: "Cách đây không quá lâu," anh ta nói, "những nhà khoa học với những thẩm quyền đầy đủ của họ đã giải thích tại sao phụ nữ và những người Mẽo gốc Phi... cố hữu là thấp kém." Nhưng có phải Robbins đang tuyên bố đó là sự thật? Tôi nên hi vọng là ko! Chắc chắn, rất nhiều người nói không đúng về phụ nữ và người Mẽo Phi; và đúng là, những sự sai trái đó thi thoảng được khẳng định bởi cái danh xưng là "khoa học", "lý trí" và tất cả những thứ còn lại. Nhưng tuyên bố những thứ như thế không làm nên sự thật, và thực tế rằng con người - bao gồm các nhà khoa học - thi thoảng tạo ra các tuyên bố sai trái không có nghĩa chúng ta nên loại bỏ hay xét duyệt lại khái niệm về sự thật. Khá trái ngược: Điều đó có nghĩa là chúng ta nên kiểm tra những bằng chứng đằng sau những tuyên bố về sự thật một cách hết sức cẩn thận, và chúng ta nên loại bỏ những khẳng định là sai trái theo phán đoán duy lý nhất của mình.


Thật ko may, lỗi này lập lại xuyên suốt bài luận của Robbins; một cách có hệ thống anh ta từ chối sự thật bằng những tuyên bố về sự thật, từ chối thực kiện bằng những khẳng định về thực kiện, và từ chối tri thức bằng những kỳ vọng về tri thức. Những sự elision đó là cơ sở của lối tư duy tuỳ tiện về "sự kiến tạo xã hội" (social construction) mà được phổ biến trong học giới ngày nay, và khiến những sự tiến bộ phải kìm hãm lại. Chắc rằng, chúng ta chỉ ra những quyền lợi về ý thức hệ, chính trị và kinh tế được phụng sự bởi sự giải trình về "hiện thực" của ngýời đối địch với chúng ta; nhưng trước hết hãy chứng minh, bằng cách sắp đặt bằng chứng và logic, tại sao những sự giải trình đó về khách quan là sai trái (hay trong một số trường hợp là đúng nhưng ko phải tất cả).Gần cuối bài báo của mình, Robbins thẳng thắn thừa nhận rằng "những người hoạt động chính trị về văn hoá đôi khi hành động cứ như thể Sự thật luôn luôn và tại bất kỳ đâu là một vũ khí của cánh hữu". Bi giờ, đó là một thái độ tự thua đầy kinh ngạc với một người đã nhận mình là cánh tả. Nếu Sự thật ở phía cánh hữu, thì chúng ta không nên - ít ra là người chân thật nhất trong chúng ta - trở thánh người cánh hữu (right-wingers) sao? Về phần tôi, tôi là người phe tả và theo thuyết bình quyền dựa vào logic và bằng chứng (kết hợp cùng với những yếu tố đạo đức), chứ không bất chấp tất cả.


Lời biện hộ của tôi cho lý trí, bằng chứng và logic hầu như là đã có từ trước; hàng tá nhà chủ nghĩa nhân văn tiến bộ, nhà khoa học xã hội và nhà khoa học tự nhiên đã nói cùng điều này trong nhiều năm. Nhưng nếu bản văn nhái (parody) của tôi trên Social Text chỉ phần nhỏ nào giúp khuyếch đại tiếng nói của họ và khơi gợi một cuộc luận chiến cần thiết trong phe tả, khi đó nó đã phục vụ cho mục đích đề ra.

 
 
 

-----------------------

* Bản tiếng Anh:
http://www.physics.nyu.edu/faculty/sokal/nyu_forum.html


Đọc tiếp →