Hiển thị các bài đăng có nhãn 03-concept. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn 03-concept. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 11 tháng 11, 2011

Tượng Phật


An aerial view of a flooded temple in Ayutthaya province October 15, 2011/Stringer

Xem bức ảnh chụp tượng Phật trong cảnh ngập lụt ở Thái Lan, bất giác nhớ tới bài thơ của Cao Ngọc Anh. Tượng trong bức ảnh trên có thể là của Tuyết Sơn thích ca, còn bài thơ của Cao Ngọc Anh là về Phật Di Lặc, ở Việt Nam có cách gọi 2 vị Phật này là ông nhịn ăn mà mặc và ông nhịn mặc mà ăn.

Phật Di Lặc

Ăn cho to lớn hỡi ông ơi
Chẳng biết chi chi chỉ biết cười
Bể khổ mênh mông dương mắt ngó
Tòa sen ngất ngưởng xếp chân ngồi
Hương khuya hoa sớm vui cùng đạo
Kẻ khấn người kêu mặc kệ đời
Hai chữ Nam vô quên nhớ nhỉ
Hay là ngọng miệng chỉ vì xôi

Cao Ngọc Anh



Ảnh Di Lặc lục tặc (Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp).


Tượng gỗ Di Lặc lục tặc

"Di-lặc hay Di Lặc (zh. 彌勒, sa. maitreya, pi. metteyya là cách phiên âm, dịch nghĩa là Từ Thị (慈氏), "người có lòng từ", cũng có tên khác là Vô Năng Thắng (zh. 無能勝, sa. ajita), phiên âm Hán-Việt là A-dật-đa, là một vị Bồ Tát và cũng là vị Phật cuối cùng sẽ xuất hiện trên trái Đất.... "
http://tudien.daitangkinhvietnam.org/index.php?title=Di-l%E1%BA%B7c


Như vậy Di Lặc sang đến bên Tàu thì mới thành ra một ông má phính bụng béo, miệng cười toe toét. Nguyên bên Ấn là hình tượng cho tính chất Từ và Bi, sang bên Tàu thì trở thành hình tượng cho tính chất Hỉ và Xả.

大腹能容 容天下難容之事
慈顏常笑 笑世閒可笑之人
Đại phúc năng dung dung thế gian nan dung chi sự
từ nhan thường tiếu tiếu thế gian khả tiếu chi nhân

Sự biến đổi này liệu có phải là một bước tiến? Đọc TTPGAĐ của E. Conze do Hạnh Viên dịch, thấy có đoạn bàn về bốn chữ từ, bi, hỉ, xả... Cảm giác giống như được thấy 2 mặt của một đồng xu.
(Chú ý, đoạn trên là tản mạn của một người chưa am tường gì về các kiến thức Phật pháp)



"Nam Mô (cũng Nam vô): Có 6 nghĩa: kính lễ, quy y, phụng thờ, cứu ngã, độ ngã, quy mạng.
A: Có nghĩa là Vô, Không
Di Đà: Nghĩa là lượng
Phật: Người giác ngộ.
Nam mô A Di Đà Phật là: Kính lễ đấng giác ngộ vô lượng; cũng có nghĩa là: Con quay về nương tựa vào đấng giác ngộ vô lượng."




Đọc tiếp →

Thứ Năm, 3 tháng 6, 2010

Bảy nguyên tắc của Da Vinci



Bảy nguyên tắc của da Vinci từ cuốn "Cách tư duy giống như Leonardo da Vinci" của Michael J. Gelb.
...

1. Tò mò: Một sự miêu tả chính xác về Da Vinci sẽ là “người tò mò nhất từng tồn tại,” Gelb đã nói. “Ông ta quá tò mò; một nhà phê bình từng nói ông ta sẽ không lấy “có” cho một câu trả lời.” Ở thời điểm khi không ai nghi vấn bất kỳ thứ gì, Da Vinci nghi vấn mọi thứ. Khi chúng ta tăng tốc hướng tới một thời đại thông tin kết nối mạng, bạn sẽ khôn ngoan khi làm cùng cái điều đó, Gleb khuyên vậy.

2. Suy nghĩ tự thân: Da Vinci không ngại phạm sai lầm và học hỏi từ chúng. Sát hạch tri thức qua kinh nghiệm.

3. Mài sắc các giác quan: "Theo Da Vinci, ngũ quan là người điều hành tâm hồn," Gleb đã nói. “ Ông ta rèn luyện sự nhận biết của cảm giác theo cùng cách vận động viên Olympic rèn luyện thân thể. Ông cảnh báo là phải tránh việc bị khóa kín và chẹn lại bởi những quá trình tư duy đơn điệu.”

4. Tiếp nhận sự đa nghĩa, nghịch lý và sự bất định: Một trong những đặc tính quan trọng nhất của người sáng tạo là sự cởi mở của họ với những thứ không biết và nhiệt tâm vận dụng trực giác của họ. "Là một người tư tưởng bậc nhất, Da Vinci học cách phiên dịch trí tưởng tượng thành một thứ ngôn ngữ kỹ thuật,” Gelb phát biểu. “Những đột phá chính yếu được trải nghiệm qua trực giác. Einstein chẳng hạn, đã tưởng tượng ra những thứ mà sẽ như là lướt sóng vào trong vũ trụ trên một tia sáng mặt trời.”

5. Cân bằng Nghệ thuật và Khoa học, Logic và Trí tưởng tượng bằng Trực giác: Sự tiếp cận mà da Vinci theo đuổi dựa trên lối tư duy là nếu như bạn muốn cách tân thì bạn sẽ phải tháo bỏ những nề nếp thông thường," Gleb nói. "Vấn đề là người ta hoặc kẹt trong cầu não trái hoặc cầu não phải. Chiên viên của thiên niên kỷ mới sẽ phải là một người tư duy cân bằng: sáng tạo, phân tích, chặt chẽ, hài hước và giàu trí tưởng tượng.

6. Cân bằng giữa thân thể và tâm trí: Bổ sung cho sự sắc sảo về tâm trí, da Vinci đã là một quái kiệt về sức khỏe, người từng nói, "Hãy tránh các tâm trạng sầu não và giữ tâm trí bạn vui tươi." Ông ta cũng nhấn mạnh rằng tâm thế ảnh hưởng tới thần thái và tầm quan trọng của việc giữ cho tâm trí và cơ thể gọn gàng và mau lẹ.

7. Cố gắng thấy cách mọi thứ kết nối với các thứ khác.
"Đó là tư duy hệ thống," Gelb giải thích. "Ông ta đã nói bạn phải thấy những khuôn mẫu, những mối quan hệ, và những quá trình và cách thức mọi thứ ăn khớp với nhau."


============================
* Nguồn:

Given the reality, what can we learn from one of the smartest men who ever
lived? Gelb has condensed da Vinci’s teachings into seven principles:

1. Be curious. “An accurate description of da Vinci would be ‘the most curious person who ever lived,’” Gelb said. “He was so curious; one critic said he wouldn’t take ‘yes’ for an answer.” At a time when no one questioned anything, da Vinci questioned everything. As we speed into a networked information age, you’d be wise to do the same thing, Gelb advised.

2.Think for yourself. Da Vinci was not afraid to make mistakes and learn from them. Test knowledge through experience.

3. Sharpen your senses. “According to da Vinci, the five senses are the ministers of the soul,” Gelb said. “He trained his sensory awareness the same way Olympic athletes train their bodies. He warned against being locked and blocked by the same thought processes.”

4. Embrace ambiguity, paradox, and uncertainty. One of the most significant characteristics of highly creative people is their openness to the unknown and willingness to use their intuition. “As a leading thinker, da Vinci learned to translate imagination into a technical language,” Gelb stated. “Major breakthroughs are experienced through intuition. Einstein, for example, imagined what it would be like to surf out into the universe on a sunbeam.”

5. Balance art and science, logic, and imagination with intuition. “The approach da Vinci followed was based on the thinking that if you hope to innovate you’re going to have to cut loose from conventional grooves,” Gelb said. “The problem is people are either stuck in a right- or left-brained world. The techie of the new millennium will have to be a balanced thinker—creative, analytical, rigorous, playful, and imaginative.

6. Balance body and mind. In addition to being mentally sharp, da Vinci was a fitness freak who said, ”Avoid grievous moods and keep your mind cheerful.” He also insisted that attitude affects well being and stressed the importance of keeping mind and body lean and active. (And you thought your trainer was smart.)

7. Try to see how everything connects to everything else. “That’s systems thinking,” Gelb explained. “He said you have to see patterns, relationships, and processes and how they all fit together.”

...

http://articles.techrepublic.com.com/5100-10878_11-5025672.html


=======================
* Xem thêm:


Đọc tiếp →

Thứ Bảy, 27 tháng 2, 2010

4 laws of Descartes




[The law of evidentness]

The first was never to accept anything for true which I did not clearly know to be such; that is to say, carefully to avoid precipitancy and prejudice, and to comprise nothing more in my judgement than what was presented to my mind so clearly and distinctly as to exclude all ground of doubt.

Thứ nhất đã là phải không bao giờ chấp nhận bất kỳ thứ gì là đúng mà tôi đã không biết một cách rõ ràng như vậy; tức là nói rằng, cẩn thận tránh sự hấp tấp và định kiến, và bao hàm không thứ gì trong phán đoán của tôi hơn thứ đã hiện ra với tâm trí tôi một cách rõ ràng và rành mạch như thể loại bỏ tất cả sở cứ của sự nghi ngờ.

[The law of analysis]

The second, to divide each of the difficulties under examination into as many parts as possible, and as might be necessary for its adequate solution.

Thứ hai, để phân chia mỗi sự khó khăn trong khi khảo sát thành nhiều phần như có thể, và như có lẽ là tất yếu để có giải pháp thỏa đáng của nó.

[The law of order]

The third, to conduct my thoughts in such order that, by commencing with objects the simplest and easiest to know, I might ascend by little and little, and, as it were, step by step, to the knowledge of the more complex; assigning in thought a certain order even to those objects which in their own nature do not stand in a relation of antecedence and sequence.

Thứ ba, để dẫn dắt những suy nghĩ của tôi theo một trật tự mà, bằng cách bắt đầu với những đối tượng đơn giản nhất và dễ nhất để biết, tôi có lẽ tiến lên từng chút một, và, hầu như là thế, từng bước một, cho tới cái biết của những thứ phức tạp hơn; định ra trong tư duy một trật tự nào đó thậm chí với những đối tượng mà trong bản tính riêng của chúng không ở trong một mối quan hệ ưu tiên và liên tục.

[The law of generalization]

And the last, in every case to make enumerations so complete, and reviews so general, that I might be assured that nothing was omitted.

Và thứ cuối cùng, trong mỗi ca để làm ra những sự liệt kê đầy đủ và những sự xem lại tổng quát đến mức mà tôi có lẽ chắc rằng không thứ gì đã bị bỏ sót.

---------------------
* Puzzle:

01. Synonyms: evident, manifest, patent, distinct, obvious, apparent, plain, clear

mean readily perceived or apprehended.

evident implies presence of visible signs that lead one to a definite conclusion .
[ hiển nhiên]

manifest implies an external display so evident that little or no inference is required .
[ hiển hiện]

patent applies to a cause, effect, or significant feature that is clear and unmistakable once attention has been directed to it .
[minh xác?]

distinct implies such sharpness of outline or definition that no unusual effort to see or hear or comprehend is required .
[rành mạch, phân minh, rạch ròi?]

obvious implies such ease in discovering that it often suggests conspicuousness or little need for perspicacity in the observer .
[dễ thấy]

apparent is very close to evident except that it may imply more conscious exercise of inference .
[biểu kiến/hiển hiện]

plain suggests lack of intricacy, complexity, or elaboration .
[rõ rệt]

clear implies an absence of anything that confuses the mind or obscures the pattern .
[rõ ràng]

self-evident
[hiển nhiên tự thân/tự minh]


02. The difference between relation and correlation.

Relation may include causation, correlation, convariance, contravariance...

Correlation is two-directions relation; causation is one-direction one.

Đọc tiếp →

Thứ Sáu, 12 tháng 2, 2010

Logical structure, physical structure, conceptual structure, R&D... etc

Logical Structure

When you start to develop any static web site, generally the first thing to do is to design the logical structure of your site using a tree diagram. The reason for this type of diagram is based on the fact that web sites can be hierarchical: each main section can contain subsections, which can contain others, and so on.

Once the site structure is defined, then the page is created by inserting all the common graphic elements (logos, headings, footnotes etc.), the navigation menu and the specific content. This procedure poses a problem: adding or editing a menu entry means changing all the site pages. If there are only a few pages, the investment is limited, but when there are tens of pages the amount of time dramatically increases.

Instead, the structure is dynamically managed in eQuercus: with a few clicks and with no modification of the HTML code, you will be able to add, edit, move or eliminate entire sections from your site: all the changes will be immediately visible to your site’s users. The site structure, displayed using a simple tree diagram is composed of elements called "nodes" which identify the single menu entries. The following information can be configured at each node: the graphic appearance of the menu entry, the content type to connect, the number of contents (single or list) and the page responsible for dynamically displaying the menu and contents.
Other than the simple management of the structure and contents, the system offers another advantage: only one ASP page needs to be created for each layout type. The page will contain HTML code to represent the common graphic elements of the site and the "eQuercus - Library" functions which are used to dynamically generate the navigation menu and contents.

http://www.equercus.com/default.asp?nid=39&lid=1


The Logical Structure of the Human Mind

http://mises.org/books/ufofes/ch1~1.aspx


The Logical Structure of the World and Pseudoproblems in Philosophy

http://books.google.com.vn/books?id=WgY2ZMsJtQgC&printsec=frontcover&source=gbs_navlinks_s#v=onepage&q=&f=false


http://www.epa.gov/productreview/stylebook/writing.html

http://blog.didierstevens.com/2008/04/09/quickpost-about-the-physical-and-logical-structure-of-pdf-files/

http://webtips.dan.info/logical.html

...
Đọc tiếp →

Thứ Hai, 8 tháng 2, 2010

Cảm tưởng, Ý tưởng, Cảm Xúc... etc

.

Emotion is more similar to conscious thought than feelings are to conscious thought. Although emotion and feeling can be described as unconscious thought, one of them is going to be more similar to conscious thought. Feelings are more like sensations, when you touch something you get a feeling. Therefore feelings are faster than emotions and thought, because when you touch something there is a slight delay before you can think of something about it (thought), or feel something deeply about it (emotion). Emotion is therefore just unconscious thought. Actually it would better be described as unconscious feeling (so a feeling is like a conscious emotion because you can "feel" it better and easier but emotion is a deeper, more unconscious experience similar to unconscious thought, but emotions are also more similar to conscious thought because thought is a deep experience while feelings are intense or shallow, but not deep).

...


1. Emotion and Logic2. Thoughts
3. Emotions and Feelings and the Difference Between them
4. Emotions are Dulled Feelings
5. Emotions and Feelings are Broad Thoughts
6. Emotion Vs. Logic
7. Life Occurs In Sharp Spikes
8. Angry, Upset, and Depressed?
9. Emotion Is a Combination of Feeling and Thought
10. Intentions
11. An Overly Optimistic Attitude towards Life Leads to a Dulling of Emotion
12. Smaller Emotions Follow Brief, Intense Emotions
13. Visual Learning
14. Consciousness
15. Curing Depression
16. Concentration and Emotions are Important Factors in Intelligence



* Link
Đọc tiếp →

Thứ Sáu, 5 tháng 2, 2010

Border of philosophy?

What is your answer to the question of the border of philosophy?

Lizbethrose: I'll start by asking you to define 'border' (which I know wasn't your word, but you tacitly agreed with it in your response to the op.) Do you mean 'border' or 'boundary?' I really don't like responding to a question with a question, Socratic though it may be, but I do think your answer to my question has a great deal to do with the meaning of your question.

'Border' and 'boundary' in one definition have similar meanings, both of which imply limitation of some sort. You say that Philosophy is a system of thought, limited, or 'bordered,' by reason. I understand your position, but I think it's sausage.

If thought is 'limited' by a system, (beyond the way our language 'systemizes' our thoughts) there would be no original, innovative thinking. If reason, as a border or boundary to thought, limited thought, there would be no original, innovative thinking.

You posit that A=A and start your logical train from there. To do so, you must first accept that A is true. To do that, you must first convince your readership that A is true.

See how it can become very circular--logically?

So, to finally answer your question--"whew"--(that's trying to shake off the 'sweat of my brow')--There in no 'border' to philosophy. In my opinion, of course.

Philosophy, in a lot of ways, is metacognition--thinking about how we think


http://www.thoughts.com/forums/showthread.php?t=29378&page=6
Đọc tiếp →

Chủ Nhật, 31 tháng 1, 2010

Dao cạo của Occam

William Ockham được ghi nhớ như một nhà duy danh lớn nhưng danh tiếng của ông như một nhà logic vĩ đại thì dựa trên một châm ngôn được quy cho ông và được biết với cái tên Lưỡi Dao Cạo Occam: Entia non sunt multiplicanda praeter necessitatem hay “Những thực thể không nên sinh đẻ một cách không cần thiết.” Thuật ngữ dao cạo chỉ hành động cạo bỏ những giả định không cần thiết để có sự giải thích đơn giản nhất. Không nghi ngờ châm ngôn nàychính là đại diện cho khuyng hướng tổng quát trong triết học của Occam, nhưng nó đã không được tìm thấy trong bất cứ tác phẩm nào của ông ta cho tới nay. Phát ngôn chính thức gần nhất của ông dường như là Numquam ponenda est pluralitas sine necessitate [Cái nhiều phải không bao giờ được ấn định thiếu đi tính cần thiết], phát ngôn ở trong tác phẩm thần học có tựa Những câu văn của Peter Lombard.


Karl Popper

Karl Popper kết luận rằng một sự ưu tiến cho những lý thuyết đơn giản không cần viện dẫn tới sự xem xét về thực hành hay mỹ học. Ưu tiên của chúng ta cho sự đơn giản có lẽ được biện minh bởi tiêu chí thử sai của ông ta: Chúng ta ưa thích những lý thuyết đơn giản hơn so với những lý thuyết phức tạp hơn “bởi vì nội dung theo kinh nghiệm của chúng lớn hơn, và bởi vì chúng có thể kiểm chứng tốt hơn” (Popper 1992). Trong cách nói khác, một lý thuyết đơn giản áp dụng cho nhiều trường hợp hơn một thứ phức tạp, và theo đó là có thể kiểm sai dễ dàng hơn.


Biến thể

Nguyên tắc này được trích dẫn thường xuyên nhất là Entia non sunt multiplicanda praeter necessitatem, hay “Những thực thể không nên đẻ vượt quá sự cần thiết”, nhưng câu văn này được viết bởi những tác giả gần đây và không được tìm thấy trong các tài liệu đang hiện hành của Ockham. Nó cũng áp dụng cho non est ponenda pluritas sine necessitate,, mà dịch nghĩa đen sang Anh ngữ như là “Những cái đa số phải không được ấn định thiếu đi tính cần thiết”. Nó đã khơi gợi nhiều thành ngữ bao gồm “tính keo kiệt của những định đề”, “nguyên lý của tính đơn giản”, “nguyên lý KISS” (Keep It Simple, Stupid).

Leonardo da Vinci (1452–1519) sống sau thời của Ockham, đã có một biến thể của của Dao cạo Occam. Biến thể của ông đã bỏ qua nhu cầu có sự tinh tế bằng cách coi nó ngang bằng sự đơn giản:

Đơn giản là sự tinh tế tối thượng.

Một trích dẫn khác được quy cho Albert Einstein:

Làm mọi thứ đơn giản như có thể, nhưng không đơn giản hơn.

Phiên bản của Newton:”Ta phải chấp nhận những nguyên nhân của sự vật trong tự nhiên không nhiều hơn là những thứ đều đúng và đủ để giải thích sự xuất hiện của chúng.”

Lưỡi dao cạo của Occam hiện nay thường được phát biểu như sau:

Với hai lý thuyết hay cách giải thích tương đương, mọi thứ khác ngang bằng, thì cái đơn giản hơn được ưu tiên.


Chống dao cạo

Trong khi không phủ nhận một cách nghiêm chỉnh ý niệm Dao cạo là “sự giải thích đơn giản nhất luôn là tốt nhất” ((những thứ khác đang ngang bằng), một hệ luận đảo chiều là “cách giải thích tốt nhất không luôn là cái cái đơn giản nhất” được phát biểu khá rõ bởi nhân vật của Conan Doyle, Sherlock Holmes, trong The Sign of the Four, đặc biệt trong trích dẫn nổi tiếng sau: “Khi anh đã loại bỏ cái không thể, bất kỳ thứ gì còn lại, dù không chắc, phải là sự thật.”



Puzzle

01. Simplicity, Complexity, Sophistication?
(Phức tạp - đơn giản - trong sáng ; thô sơ - rối rắm - mù mờ)

02. Possible, Plausible, Probable, Proven, Likely,.. etc?


(http://robertphilen.blogspot.com/2007/10/possible-plausible-probable-proven.html)


Link

http://en.wikipedia.org/wiki/Occam%27s_razor
Đọc tiếp →

Chủ Nhật, 4 tháng 10, 2009

Briefly on quantum mechanics and dialectics

Briefly on quantum mechanics and dialectics
Remarks on quantum mechanics



by Phil, Seattle (from Communist Voice #21, August 15, 1999)

Joseph yêu dấu,


Bạn đề nghị tôi nói chiện với bạn về điều tôi nghĩ về Cơ Lượng Tử (QM) và bản phân tích "non-standard' của bạn. Trong bài báo gần đây của bạn trong CV (1), bạn bình luận về những cố gắng của những nhà vật lý đầu thế kỷ 20 để tạo ra một triết học dựa trên lý thuyết lượng tử, và cách họ đã thường xuyên viện đến chủ nghĩa duy tâm để làm điều này. Một thời gian lâu trước đây, tôi đã đọc một cuốn sách của Werner Heisenberg (về nguyên lý Bất định danh tiếng) có tên là "Triết học và Vật lý", trong đó ông ta đã có sải những bước rất xa để bác bỏ chủ nghĩa duy vật đơn giản và giải thích cách thông dịch về QM của trường phái Copenhagen là cách thông dịch duy nhất có thể. Ti nhiên, tôi ko tin ông ta đã bác bỏ tất cả định dạng của chủ nghĩa duy vật, bởi vì ông ta ko có khái niệm về biện chứng và thứ duy nhất được gọi là "biện chứng duy vật" mà ông ta đã đối phó với hai nhà khoa học Xô-Viết, Blochinzev và Alexandrov, những người trích dẫn Lenin và cố gắng tái công thức hoá QM theo một cách không ảnh hýởng đến khái biệm về chủ nghĩa duy vật của họ. Nhý thế, họ phải trục xuất người quan sát khỏi bất kỳ vai trò nào trong thí nghiệm - một khái niệm tôi nghĩ là là trệch khỏi tiêu điểm của QM và dẫn đến một khái niệm sai trái về chủ nghĩa duy vật khá nhiều.

Sự quan sát chỉ một hành vi phàm tục, không phải của tâm trí. Trong thế giới vật lý vĩ mô, phát ngôn này dường như có ít tác động thực tiễn, nhưng trong thế giới vật lý vi mô tác động của nó là sâu xa. Khi tôi tham gia vào một phép đo vật lý, tôi đang sử dụng phương tiện vật chất để nhận thức những thực kiện vật chất, và phản ứng của thiết bị vật chất mà tôi dùng để đo với đối tượng trong phép đo của tôi là bản chất của phép đo. Thông thường (trong thế giới vật lý vĩ mô) những yếu tố của phản ứng này hiện diện trong hệ thống đýợc quan sát, bất kể sự có mặt hay vắng mặt của người quan sát, và sự đưa người quan sát vào hệ thống tạo thành một nhiễu loạn vi phân mà kết quả của nó đýợc bao hàm trong khung sai số của quan sát. Thế giới vật lý vi mô không có điều này. Sự có mặt của ngýời quan sát tại đó là sự thay đổi chính của hệ thống trong quan sát, bởi vì anh ta phải đưa vào những yếu tố mà không ở đó trong điều kiện bình thường, và chúng được bao hàm cho mục đích rõ ràng của sự thực hiện quan sát. Hơn thế, những thuật ngữ dùng để mô tả tương tác cần được bổ nghĩa - trong thế giới vật lý vĩ mô sự khác biệt giữa "hạt" và "sóng" là rõ ràng và riêng biệt, trong khi với thế giới vật lý vi mô hai thuật ngữ này lỏng lẻo về tính chất riêng của chúng. Một hạt là một khối lượng-điểm, bán kính và các kích thước vật lý của nó không đồng cỡ với khung hoạt động của chúng - nó hoàn toàn đàn hồi và hầu như giới hạn về phạm vi. Một sóng, mặt khác, có tính chất khuyếch tán, với những đường biên bất định và các kích cỡ vật lý mà có lẽ tương tác với môi trường quanh nó. Trong thế giới vật lý vi mô, hai thứ đối lập này hình thành một thể thống nhất - chúng bổ sung cho nhau hơn là xung đột. Do đó, chúng cũng có cùng những khái niệm như ngẫu nhiên và chắc chắn (chance & certainty), hỗn loạn và nhân quả, kế tiếp và đồng thời, không và thời gian.


Điều này có làm hại tới tính khách quan của khoa học không? Không nó hoản toàn bắt chúng ta tái công thức hoá tính khách quan mà tự nhiên hay thế giới vật chất đã mang đến cho chúng ta, hơn là áp đặt cho nó những điều trong đầu chúng ta. "Paradigm shift" (được diễn tả bởi Kuhn) có lẽ chỉ dẫn tính tương đối của thuật ngữ khoa học hoặc chỉ dẫn tính bất tương xứng của thuật ngữ khoa học và nhu cầu phát triển một tập hợp các thuật ngữ tốt hơn, chính xác hõn căn cứ vào tính hiện thực của thế giới hơn là khái niệm của chúng ta về nó.


Tôi đánh giá cao sự thảo luận về những ý tưởng nói trên.

. Revolutionary regards,

. Phil, Seattle.

------------------------------------

Response by Joseph Green, June 12, 1999

Phil,

Cảm ơn những lời nhận xét về QM. Bạn đóng đinh vào đầu mình với ghi chú "Sự quan sát chỉ một hành vi phàm tục, không phải của tâm trí" và "và phản ứng của thiết bị vật chất mà tôi dùng để đo với đối tượng trong phép đo của tôi là bản chất của phép đo". Sự thông dịch của những người duy tâm là ý thức của người quan sát đã làm thay đổi tình huống vật lý và tạo ra "sự co của hàm sóng", nhưng thực sự nó là một tương tác vật lý giữa hai thực thể vật chất và chúng đã làm cái điều đấy. Chúng ta có lẽ sử dụng một trong những thực thể đấy (như dòng photon/tia sáng) để tạo ra một quan sát lên chùm electron, nhưng nó không liên hệ với tương tác vật lý dù chúng ta làm photon xuất hiện (dù thứ nào khác làm), dù chúng ta đang dùng photon để tiến hành phép đo, hoặc dù chúng ta ý thức về những kết quả của quan sát. Tất cả vật chất là photon ở đấy, và đang tương tác với chùm electron.


Vấn đề về ý thức của chúng ta có chăng dẫn tới sự co của hàm sóng hay một tương tác vật chất, như bạn chỉ ra, là vấn đề của duy tâm với duy vật. (Nó có thể thành sự ngu dốt siêu nghiệm trong luận chiến giữa các nhà vật lý, xem nó nhý một vấn đề của "thuyết bất khả tri" [tham chiếu tới một thành phần thứ ba đề cập tiếp theo - JG]). Nếu như có nghi ngờ về các tương tác vật lý hay ý thức có hay không dẫn tới sự co của hàm sóng, nó dường nhý có thể được giải quyết bằng thực nghiệm. (Thí nghiệm hai khe nổi tiếng có thể được thực hiện theo cách nhý thế - Nó có thể đã xảy ra? - hãy xem những tương tác của photon và chùm electron có hay không thay đổi cách electron hoạt động, hay sự quan sát của chúng ta có hay không dẫn tới týõng tác của photon và chùm electron).

Một khía cạnh thú vị khác của vấn đề này, đó là có một số cuộc luận chiến giữa các nhà vật lý rằng các prôton có thể chăng được "quan sát" bằng các neutron trong hạt nhân (đây rõ ràng là một "quan sát"độc lập với ý thức con người). Vấn đề là tại sao những proton bên trong hạt nhân nguyên tử là bền - tại sao chúng không phân rã? Các nhà vật lý nào đó đã đưa ra lý do là chúng bị xô đẩy liên tục bởi các neutron, theo cách đó các neutron quan sát xem chúng có tồn tại hay không. Kết quả là sự co tức khắc của hàm sóng. Sự co bất biến này của hàm sóng không cho hàm sóng của proton có đủ thời gian để tiến đến điểm mà nó có thể phân rã. Sự thông dịch này không được toàn thể tán thành, và bị từ chối bởi các nhà vật lý khác. Nhưng nó chỉ ra ý tưởng về những quan sát được xem xét rõ ràng như một tương tác vật chất, độc lập với ý thức, cuối cùng có lẽ khiến nó có ảnh hưởng trong vật lý. (Xem David Wick, The Infamous Boundary, pp. 168-170. tác giả không có khái niệm về biện chứng, nhưng anh ta đã thực sự tranh luận một số thứ có ích.)

Tôi khá thích tranh luận của bạn về nỗ lực tái công thức hoá QM của Blochinzev và Alexandrov, tại điểm bạn chỉ ra họ đã không hiểu đúng đắn về chủ nghĩa duy vật. Điều này dường nhý là một trong những ví dụ sớm về những nỗ lực liên tiếp tái công thức hoá QM trái với niềm tin là cần bảo toàn QM. (Vấn đề này, dĩ nhiên, không hẳn là có sự cấm đoán những cố gắng tái thông dịch QM, mà là các nhà vật lý tin rằng nó bị đòi hỏi bởi chủ nghĩa duy vật.) Theo cách đó, khi bạn nói rằng "Họ phải loại bỏ ngýời quan sát khỏi bất kỳ vai trò nào trong thí nghiệm", điều này có phải có ý là họ bị bối rối bởi hiên tượng "sự co của hàm sóng", có phải không thể xem xét bất kỳ sự lựa chọn nào về cách thông dịch của những nhà duy tâm, và do đó tin tưởng rằng họ phải tái công thức hoá QM để tránh việc trước đấy?

Như tôi hiểu, cách tiếp cận của bạn với sự thông dịch Copenhagen và sự co của hàm sóng là giống như tôi. Bạn chia cách vấn đề duy tâm hay duy vật (Dù có chăng ý thức của chúng ta dẫn tới sự co của hàm sóng hay một tương tác vật chất dẫn tới) khỏi vấn đề những mối liên hệ biện chứng liên đới.

Bạn cũng còn nói rằng tính lưỡng nguyên sóng hạt (wave-particle duality) trong giới vật lý vi mô là một ví dụ về thể thống nhất của các mặt đối lập, đó là biện chứng. Và bạn liên kết điều đó với những thứ khác như các mối liên hệ biện chứng. Tóm lược là thế.

Một điểm thứ yếu. Bạn nói rằng những mặt đối lập "bổ sung cho nhau hơn là xung đột". Tôi đồng ý với nội dung mà tôi nghĩ bạn đã nói tại đây, nhưng bạn đụng chạm đến một vấn đề thuật ngữ mà tương tự với điều tôi đụng đến trong bài báo của mình như "sự vô lý" của những mâu thuẫn. Khi nhấn mạnh tính lưỡng nguyên, điều các nhà duy vật cơ học thấy khó khăn để hiểu, sự tranh đấu của những mặt đối lập không thể bị từ chối. Những mặt đối lập bổ sung là cũng "xung đột", nhưng không theo cách cách nhà duy vật cơ học giả định. Với những nhà duy vật cơ học, sóng và hạt "xung đột" có nghĩa là chúng không thể hình thành một tính lưỡng nguyên bổ sung, và một thực thể phải xác định là thứ này hay thứ khác; nhưng với một nhà biện chứng các bản chất của sóng và hạt có thể "xung đột", nhưng cũng là những mặt bổ sung của một thực thể - thực ra, điều này có lẽ là thứ một người mong muốn về những phương diện bổ sung. Sự thống nhất của các mặt đối lập có thể và thực sự bao hàm sự tranh đấu giữa của các mặt đối lập. Tôi cố gắng giải quyết một vấn đề thuật ngữ tương tự trong bài báo của tôi bằng sự phân biệt giữa những trái ngược vô lý và biện chứng (see p. 46, col. 1 [CV. Vol. 5, #1]). Những nhà duy vật toán học chỉ thấy những mâu thuẫn vô lý, và không thấy những mặt đối lập ảnh hưởng lẫn nhâu và nằm trong thể thống nhất. Những điểm khác biệt của tôi giữa mâu thuẫn "vô lý" và biện chứng có những vấn đề thuật ngữ riêng của nó. Một trong những vấn đề đấy tôi cố gắng giải quyết ở phần phụ chú, nơi tôi chỉ ra vấn đề không nhiều là một mâu thuẫn riêng lẻ là vô lý trong chính nó, nhưng dưới những điều kiện nhất định, nó là vô lý, và dưới những điều kiện khác, nó không là vô lý. Nhưng xa hơn điều đó, bằng sự suy ngẫm, tôi không chắc chắn rằng tài liệu biện chứng tham chiếu tới vấn đề của cùng thuật ngữ tôi đã sử dụng. Có lẽ đôi khi miêu tả sự thống nhất của các mặt đối lập như những mâu thuẫn vô lý, như sự thống nhất của những thứ mà vô lý khi xem xét tới một sự kết hợp, nhưng chúng thực sự được kết hợp. Và có lẽ đó là điểm chính. Sự thật, sau nhiều năm và thập kỷ làm việc với những mâu thuẫn nhất định (như tính lưỡng nguyên sóng hạt), thật khó để nghĩ nó là "vô lý". Nhưng điều gì đó là vô lý với cả sóng và hạt. Do đó, có lẽ, sau khi suy nghĩ về vấn đề này và nghiên cứu lại tài liệu về biện chứng nhiều hơn, tôi sẽ phải từ bỏ thuật ngữ "những mâu thuẫn vô lý" và đi đến một công thức giống như là những mâu thuẫn "vô bổ" ngược lại với những mâu thuẫn biện chứng - Với những nhà duy vật cơ học tư duy về tất cả những mâu thuẫn là vô bổ và "rời rạc".

So much for now,

. Regards,

. Joseph

Notes:
(1)
This refers to Joseph Green's article "On Sokal and Bricmont's book Fashionable Nonsense/Postmodernism versus materialism" in Communist Voice, vol. 5, #1, March 28, 1999, and in particular to the sections entitled "The dialectics of nature" and "Dialectics, motion, and infinitesimals".--CV.

http://home.flash.net/~comvoice/21cQuantum.html

(tobecont.)

------------------------

Biên tập lại sau. Dịch xong chả hiểu mình dịch cái giề?! hẹ hẹ

Đọc tiếp →

Thứ Ba, 14 tháng 7, 2009

infer judge argue

01. argument n


...
3 a: the act or process of arguing :
argumentation b: a coherent series of statements leading from a premise to a conclusion
argue v

Etymology: Middle English, from Anglo-French arguer to reprove, argue & Latin arguere to demonstrate, prove; Anglo-French arguer, from Latin argutare to prate, frequentative of arguere; akin to Hittite arkuwai- to plead, respond


synonyms discuss, argue, debate mean to discourse about in order to reach conclusions or to convince.

discuss implies a sifting of possibilities especially by presenting considerations pro and con <discussed the need for a new highway>.

argue implies the offering of reasons or evidence in support of convictions already
held <argued that the project would be too costly>.

debate suggests formal or public argument between opposing parties <debated the merits of the amendment>; it may also apply to deliberation with oneself debating whether I should go>.


02. inference n


...
1: the act or process of inferring: as a: the act of passing from one proposition, statement, or judgment considered as true to another whose truth is believed to follow from that of the former b: the act of passing from statistical sample data to generalizations (as of the value of population parameters) usually with calculated degrees of certainty.

infer v


Etymology: Middle French or Latin; Middle French inferer, from Latin inferre, literally, to carry or bring into, from in- + ferre to carry — more at bear

transitive verb 1: to derive as a conclusion from facts or premises — compare
imply

synonyms
infer, deduce, conclude, judge, gather mean to arrive at a mental conclusion.

infer implies arriving at a conclusion by reasoning from evidence; if the evidence is slight, the term comes close to surmise .

deduce often adds to infer the special implication of drawing a particular inference from a generalization .

conclude implies arriving at a necessary inference at the end of a chain of reasoning .

judge stresses a weighing of the evidence on which a conclusion is based
.

gather suggests an intuitive forming of a conclusion from implications .



03. judgement n

...
4 a: the process of forming an opinion or evaluation by discerning and comparing


judge v
Etymology: Middle English juggen, from Anglo-French juger, from Latin judicare, from judic-, judex judge, from jus right, law + dicere to decide, say — more at just, diction

1: to form an opinion about through careful weighing of evidence and testing of premises



* Source: http://www.merriam-webster.com/dictionary/
Đọc tiếp →

Thứ Năm, 25 tháng 6, 2009

Kitsch

Kitsch chính là kiểu cách mỹ học độc đáo, nhưng cũng là cái kết quả của những thay đổi đặc trưng trong môi trường lịch sử và xã hội.

Khi là kết quả của những thay đổi lịch sử: Kitsch được tạo ra bởi qúa trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, và sự nổi lên của tầng lớp trung lưu.

Khi là một phẩm chất thẩm mỹ: Kitsch liên gộp mọi tính chất ganh đua là của các hình thái cũng như kiểu thức của dạng nghệ thuật cao cấp, cùng sự ỷ lại nhàn nhã và những cách bộc lộ sống sượng ra những cảm giác phè phỡn về thẩm mỹ.
...

Nơi nghệ thuật chân chính đòi hỏi những nỗ lực diễn giải, sự tri nhận thông qua kiến thức, và dâng tặng cho người xem những thách thức hợp đạo lý và riêng tư; nơi ấy cái Kitsch của dạng nghệ thuật được sản tạo hướng về đại chúng lại tìm cách sao cho có thể đến được dễ nhất với số lượng người đông nhất. Nó tìm ra con đường ngắn nhất, giản tiện và trực tiếp nhất. Nó thích thú với những phương cách bộc lộ thiên về quá trớn bằng cách thêm mắm thêm muối các chi tiết và thổi phồng các hiệu ứng. Về nguyên tắc tạo nên cái đẹp, các nhà cung ứng Kitsch suy luận theo quy tắc "càng nhiều càng ít" (more is better).
...

Kitsch thích trưng khoe ra với chúng ta những gì chúng ta quen thuộc nhằm bảo vệ chúng ta khỏi nỗi bất an khi phải đối mặt với một điều gì đó mới lạ.
...

Nhà văn Áo Hermann Broch đã từng tranh biện về sự phát triển của cái Kitsch trong thế kỷ 19, và mối liên nối của nó với chủ nghĩa lãng mạn: cả cái Kitsch lẫn chủ nghĩa lãng mạn đều hứa hẹn một chuyến bay hiện đại lạ đời từ hiện thực tới cái thế giới được bảo vệ tách biệt khỏi mọi trạng thái căng thẳng và lưỡng lự của đời sống hiện đại. Bài viết của ông "Notes on Problem Kitsch" (Những ghi chú về vấn đề Kitsch) đã chỉ ra việc cái Kitsch đã ngỏ lời đường mật ra sao nhằm thuyết phục rằng việc trốn thoát khỏi hiện thực chính là một trải nghiệm có tính chất mộng mơ hạnh phúc nhất, yên tĩnh nhất, hài hòa ngọt ngào nhất, cũng như là một chuyến không du êm ái tới quê hương của sự nhàn nhã.

Bài viết của Broch đã dò tới gọn nguồn của sự nhàn nhã, chính là một sản phẩm do những đổi dời lịch sử gây ra: Tính chất nhàn nhã của cái Kitsch có nguồn gốc từ sự nổi lên của chính tầng lớp trung lưu đã sản sinh ra Kitsch. "Cái khiếu thẩm mỹ dành cho sự nhàn nhã kiểu sinh hoạt gia đình này", Broch viết, "đã trở nên gia huy cho giai cấp trung lưu, chứng nhận sự hợp pháp của giai cấp ấy, cạnh tranh với những khát vọng dạng chuyên tinh của nghệ thuật quý tộc". Theo hướng này, cái giá trị mang tính trung lưu giai cấp của sự nhàn nhã đã được thổi phồng lên đến tầm mức kiêu mạn, thách thức vị thế của nghệ thuật cao cấp, vào lúc nó học được cách giả trang thành nghệ thuật.
...


- Định nghĩa về cái Kitsch (Cái rởm), Sam Binkey


Milan Kundera, Nhà văn Pháp gốc Séc khi viết tiểu thuyết Nhẹ bồng cái kiếp nhân sinh - như chính nhà văn bộc bạch - đã dùng từ Kitsch làm một trong các từ - trụ cột của cuốn tiểu thuyết ấy.

Vậy Kitsch là gì? Milan Kundera viết: Trong bản dịch ra tiếng Pháp của thiên tiểu luận nổi tiếng của Herman Broch, từ "Kitsch" được dịch là nghệ thuật tầm tầm. Một phản nghĩa, bởi vì Broch chứng minh rằng Kitsch là cái khác với một tác phẩm chỉ đơn giản là thị hiếu tồi. Có thái độ Kitsch. Cách ứng xử Kitsch. Nhu cầu Kitsch của con người - Kitsch (Kitschmensch): đấy là cái nhu cầu tự nhìn mình trong tấm gương dối trá làm đẹp người lên và tự nhận ra mình trong đó với một sự thoả mãn đầy xúc động. (...) Cái Kitsch gắn chặt một cách lịch sử với chủ nghĩa lãng mạn tình cảm.


- Trang 139, Tiểu luận, Milan Kundera, người dịch: Nguyên Ngọc, NXB VH-TT, Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây 2001.
Đọc tiếp →

Thứ Sáu, 22 tháng 5, 2009

Tiểu nhân & quân tử

Blog của Đông A có ghi:



Người quân tử ở trong thiên hạ không tranh với ai, hợp quần (1) với mọi người mà không bè đảng (2). Người quân tử nếu có tranh luận thì tranh luận vào vấn đề, luận điểm. Kẻ tiểu nhân khi tranh luận thì tranh luận ở ngoài vấn đề, luận điểm. Người quân tử đối với việc thiên hạ không chủ trương phải thế này hay phải thế khác, chỉ hợp nghĩa thì làm. Người quân tử không sợ người ta hiểu lầm mình, chỉ lo đạo của mình, chí của mình chưa đạt mà thôi. Người quân tử không sợ người ta chụp mũ, luôn luôn thận độc (3) và răn mình. Kẻ tiểu nhân chỉ biết chụp mũ cho người khác và trách người.

Xem như thế để biết đâu là tiểu nhân, đâu là quân tử. Cái loại hương nguyện (4) đúng là "đức chi tặc dã".


(1) Vũ Cán, nhà nho thế kỷ 16 có thơ:

Thận độc

Kỷ sở độc tri nhân bất tri,
Khổng môn thuỳ giáo thận ư ty.
Tuy cư u ám ẩn vi xứ,
Thường tại thao tồn tỉnh sát thì.
Thành chính công phu tòng thử đắc,
Trị bình hiệu nghiệm tựu trung suy,
Dục cầu quân tử tu thân yếu.
Đương tại ngô tâm vô tự khi.
Thận độc

(Điều chỉ mình mình biết người khác không hay biết,
Cửa Khổng truyền dạy rằng phải cẩn thận với điều đó.
Dẫu ở nơi u ám khuất nẻo,
Vẫn luôn phải luôn rèn rũa suy xét.
Công phu của đạo thành ý chính tâm từ đó mà được,
Hiệu nghiệm của đạo trị quốc bình thiên hạ theo đó mà thành.
Muốn tìm điều cốt yếu của điều người quân tử dùng tu thân,
Nên tìm ở chỗ tâm ta không tự lừa dối.)

(2): Theo cuốn Chiết Văn Giải Tự, thì chữ 'đảng' có nghĩa đen là bè đảng, và theo mẫu tự truyền thống là ghép chữ 'thượng' ở trên với chữ 'hắc' ở dưới, tức là 'thượng hắc', ngụ ý là một bè đảng chủ trương toàn những điều hắc ám. Trong tiếng Hán, từ Đảng hay đảng nhân mang nghĩa chỉ trích. Đức Khổng Tử nói: 'Kẻ quân tử dẫu kiêu hãnh cũng không tranh chấp, dẫu quần tụ cũng ko kéo bè kết đảng' , và có giải thích trong Luận ngữ của mình rằng những kẻ kéo bè kết đảng như thế là để bao che nhau làm điều xấu.Trong lịch sử TQ những nhóm chính trị qui mô nhỏ thường bị gọi là băng đảng...Trong văn hóa TQ, những từ như cẩu đảng, băng đảng,kết đảng...đều mang nghĩa xấu


(3) Hợp quần là tư tưởng xã hội của Tuân Tử với câu: "Lực bất nhược ngưu, tẩu bất nhược mã, nhi ngưu mã vi dụng hà giã? Viết: Nhân năng quần, bỉ bất năng quần... Cố nhân sinh bất năng vô quần, quần nhi vô phấn tắc tranh, tranh tắc loạn, loạn tắc ly, ly tắc nhược, nhược tắc bất năng thắng vật... Năng dĩ sư thân vị chi hiếu, năng dĩ sư huynh vị chi dễ, năng dĩ sư thượng vị chi thuận, năng dĩ sư hạ vị chi quân. Quân giả, thiện quần giã, quần đạo đương, tắc vạn vật giai đắc kỳ nghi". (Sức chẳng mạnh bằng trâu, chạy chẳng nhanh bằng ngựa, sao trâu ngựa lại để cho ta khiển dụng? Câu trả lời là: Người ta biết hợp quần, trâu ngựa không biết hợp quần... Cho nên người ta sinh ra chẳng thể không hợp quần, nhưng đã hợp quần mà không định phận là tranh giành nhau, hễ tranh là loạn, loạn thì chia rẽ nhau, chia rẽ nhau thì yếu, đã yếu thì chẳng thành tựu được việc gì cả... Biết lấy đạo hợp quần mà thờ song thân gọi là hiếu, biết lấy đạo hợp quần mà trọng đàn anh, gọi là đễ, biết lấy đạo hợp quần mà kính bề trên, gọi là thuận, biết lấy đạo hợp quần mà xử kẻ dưới, gọi là chúa. Người làm chúa phải giỏi đạo hợp quần, đạo hợp quần tốt, là tất cả mọi sự vật đều được giải quyết một cách thỏa đáng).

Đoạn văn này của Tuân Tử gồm có 4 điểm chánh sau đây:

- Hợp quần là một trong những đặc tính của loài người. Nói khác đi, con người là loài động vật có đặc tính xã hội, nhờ vậy mới ưu việt hơn các loài động vật khác.

- Hợp quần tốt, là một phương thức giải quyết được các vấn đề phân tranh trong xã hội.

- Hợp quần cũng là một phương cách, tiến hành sự việc chung trong xã hội, và mọi người đều có vị trí cùng quyền lợi tương xứng.

- Tuân Tử muốn lấy đạo hợp quần thay thế cho giá trị cũ của đạo hiếu đễ. Nghĩa là, một khi con người ta đã góp phần cống hiến thích đáng cho xã hội, thì kể như đã làm tròn bổn phận trong đạo Hiếu và Để rồi.


(4) Trích từ blog của Đông A:

Tôi đoan chắc rằng nhiều người không hiểu hương nguyện là gì. Cũng chẳng phải bởi thời gian trôi qua, ký ức ngôn ngữ không còn nên ngày nay không hiểu. Người xưa cũng vậy thôi. Hương nguyện là từ rất cắc cớ. Nó vốn ban đầu là hương nguyên. Hương là làng xã, nguyên là gốc, là trước, là trọn vẹn. Không biết từ này nguyên gốc từ đâu chui ra, mọi người đều chỉ truy nguyên về Luận ngữ, coi đây là nguồn gốc.

Trong Luận ngữ, Khổng tử phán một câu: Hương nguyên, đức chi tặc dã, có nghĩa là hương nguyên là kẻ làm hại đức. Khổng tử chỉ nói thế, không giải thích gì vì vậy mà các học trò theo học đạo của ông có người không hiểu. Đến tận Mạnh tử, khi có một học trò hỏi ông, người như thế nào gọi là hương nguyên, Mạnh tử mới giải thích rằng:

"...Ấy là những kẻ hay chê cười...

Ðối với cuồng sĩ họ trách rằng: "Mấy ông ấy có chí cao nguyện lớn để làm gì?...".

Ðối với quyến sĩ, họ trách rằng: "Mấy ông ấy làm gì mà ăn ở khác đời? Làm gì mà lãnh đạm với đời? Ðã sinh ra và sống ở đời này, thì cứ làm việc đời nầy đi. Miễn được khen là tốt rồi".

Họ nịnh đời bằng cách che giấu điều tốt đẹp của người và khoe khoang việc xứng đáng của mình.

Phường như thế là hương nguyên vậy".

Cậu học trò của Mạnh tử cắc cớ hỏi tiếp:

"Cả làng đều khen họ là người thật thà đứng đắn; đi đâu họ cũng làm như người
thật thà đứng đắn. Tại sao đức Khổng tử nói rằng họ làm bại hoại nền đạo đức?"

Mạnh tử trả lời rằng:

"Muốn chê họ, thì chẳng có chỗ gì chê; muốn trách họ, thì
chẳng có chỗ gì trách. Họ đồng hoá theo thói tục thông thường, họ dung hiệp với cõi đời ô trược. Lòng dạ họ dường như trung, tín; hành vi họ dường như liêm, khiết. Dân chúng lấy làm ưa thích họ, mà họ cũng tự nhận mình là trung, tín, liêm, khiết. Thế mà họ không thể cùng đi với mình vào Ðạo vua Nghiêu, vua Thuấn. Bởi thế, đức Khổng nói rằng họ làm bại hoại nền đạo đức vậy".
Ở đây cần phải chú ý rằng Mạnh tử cho rằng cõi đời này là ô trọc, thói tục ở đời không hợp với đạo, do đó những người hòa vào cõi đời, những người được dân ưa thích không thể đạt đạo, là đáng khinh bỉ. Đến Mạnh tử, hương nguyên vẫn là hương nguyên. Đến Tuân tử, hương nguyên biến thành hương nguyện. Tuân tử giải thích rằng nguyên và nguyện đồng nghĩa, bởi vì theo ông "nguyên khác" ("khác" là thành thực) còn đọc là nguyện, và do đó hương nguyên là người cẩn nguyện, tức là người mong cầu kỹ lưỡng.

Từ đây có từ hương nguyện. Từ nguyên thành nguyện cũng mất mấy trăm năm. Nhưng không không đổi nguyên thành nguyện thì hương nguyên còn tù mù tăm tối. Nếu đối chiếu với ngày nay thì hương nguyện là những người được lòng dân chúng, làm việc ở đời, không tránh đời, không tự cao, tự đại. Họ là những người đắc cử.

Rất khác với Khổng tử, là người phải tự tiến cử mình. Từ hương nguyện đến Việt Nam cũng thiên biến vạn hóa. Vì đạo trung dung khó, không mấy ai có thể đoan chắc là mình theo được, nên Phan Khôi có nói rằng bây giờ mà còn nói chuyện trung dung thì đấy là phường hương nguyện. Trần Trọng Kim bèn đáp lại rằng: "Hương nguyện là bọn giả dối không có liêm sỉ, mượn tiếng đạo đức mà che đậy bề ngoài. Bọn ấy ở với quân tử có thể làm quân tử được, mà ở với tiểu nhân thì làm tiểu nhân.

Nếu người ta mà thành thực theo đạo đến chết, thì sao lại là hương nguyện." Ngô Đức Kế phê bình Phạm Quỳnh tán dương truyện Kiều, gọi Phạm Quỳnh là học phiệt. Phạm Quỳnh đáp trả gọi Ngô Đức Kế là đạo đức hương nguyện. Đến lượt Huỳnh Thúc Kháng đáp lại Phạm Quỳnh rằng: "Đạo đức hương nguyện” là đạo đức thế nào? Cứ như lời ông Mạnh Tử đã giải thích thì hương nguyện là chiều đời dua tục, không nói trái với ai, chính là chỉ bọn nhu mỵ. Như con đĩ Kiều kia và cả chuyện Kiều nữa mới gọi là nhu mỵ. Thế mà cho kẻ bác [lại] học Kiều là đạo đức hương nguyện thì cái chuyện phong tình ấy là đạo đức gì?"

Ở đây lưu ý Huỳnh Thúc Kháng dùng đến 3 từ: hương nguyện, nhu mỵ và con đĩ. Nhưng theo Huỳnh Thúc Kháng, hương nguyện là chiều đời tua tục, không nói trái với ai. Nhu mỵ mói là hương nguyện, và ám chỉ Phạm Quỳnh mới đích thị là phường hương nguyện. Đến ông Hoàng Ngọc Hiến, hương nguyện trở thành philistine. Đấy hương nguyện nó lằng nhằng như vậy, thành ra xem ai nói hương nguyện cũng chưa chắc đã biết người ta muốn nói gì.


Đọc tiếp →