Thứ Sáu, 22 tháng 5, 2009

Tiểu nhân & quân tử

Blog của Đông A có ghi:



Người quân tử ở trong thiên hạ không tranh với ai, hợp quần (1) với mọi người mà không bè đảng (2). Người quân tử nếu có tranh luận thì tranh luận vào vấn đề, luận điểm. Kẻ tiểu nhân khi tranh luận thì tranh luận ở ngoài vấn đề, luận điểm. Người quân tử đối với việc thiên hạ không chủ trương phải thế này hay phải thế khác, chỉ hợp nghĩa thì làm. Người quân tử không sợ người ta hiểu lầm mình, chỉ lo đạo của mình, chí của mình chưa đạt mà thôi. Người quân tử không sợ người ta chụp mũ, luôn luôn thận độc (3) và răn mình. Kẻ tiểu nhân chỉ biết chụp mũ cho người khác và trách người.

Xem như thế để biết đâu là tiểu nhân, đâu là quân tử. Cái loại hương nguyện (4) đúng là "đức chi tặc dã".


(1) Vũ Cán, nhà nho thế kỷ 16 có thơ:

Thận độc

Kỷ sở độc tri nhân bất tri,
Khổng môn thuỳ giáo thận ư ty.
Tuy cư u ám ẩn vi xứ,
Thường tại thao tồn tỉnh sát thì.
Thành chính công phu tòng thử đắc,
Trị bình hiệu nghiệm tựu trung suy,
Dục cầu quân tử tu thân yếu.
Đương tại ngô tâm vô tự khi.
Thận độc

(Điều chỉ mình mình biết người khác không hay biết,
Cửa Khổng truyền dạy rằng phải cẩn thận với điều đó.
Dẫu ở nơi u ám khuất nẻo,
Vẫn luôn phải luôn rèn rũa suy xét.
Công phu của đạo thành ý chính tâm từ đó mà được,
Hiệu nghiệm của đạo trị quốc bình thiên hạ theo đó mà thành.
Muốn tìm điều cốt yếu của điều người quân tử dùng tu thân,
Nên tìm ở chỗ tâm ta không tự lừa dối.)

(2): Theo cuốn Chiết Văn Giải Tự, thì chữ 'đảng' có nghĩa đen là bè đảng, và theo mẫu tự truyền thống là ghép chữ 'thượng' ở trên với chữ 'hắc' ở dưới, tức là 'thượng hắc', ngụ ý là một bè đảng chủ trương toàn những điều hắc ám. Trong tiếng Hán, từ Đảng hay đảng nhân mang nghĩa chỉ trích. Đức Khổng Tử nói: 'Kẻ quân tử dẫu kiêu hãnh cũng không tranh chấp, dẫu quần tụ cũng ko kéo bè kết đảng' , và có giải thích trong Luận ngữ của mình rằng những kẻ kéo bè kết đảng như thế là để bao che nhau làm điều xấu.Trong lịch sử TQ những nhóm chính trị qui mô nhỏ thường bị gọi là băng đảng...Trong văn hóa TQ, những từ như cẩu đảng, băng đảng,kết đảng...đều mang nghĩa xấu


(3) Hợp quần là tư tưởng xã hội của Tuân Tử với câu: "Lực bất nhược ngưu, tẩu bất nhược mã, nhi ngưu mã vi dụng hà giã? Viết: Nhân năng quần, bỉ bất năng quần... Cố nhân sinh bất năng vô quần, quần nhi vô phấn tắc tranh, tranh tắc loạn, loạn tắc ly, ly tắc nhược, nhược tắc bất năng thắng vật... Năng dĩ sư thân vị chi hiếu, năng dĩ sư huynh vị chi dễ, năng dĩ sư thượng vị chi thuận, năng dĩ sư hạ vị chi quân. Quân giả, thiện quần giã, quần đạo đương, tắc vạn vật giai đắc kỳ nghi". (Sức chẳng mạnh bằng trâu, chạy chẳng nhanh bằng ngựa, sao trâu ngựa lại để cho ta khiển dụng? Câu trả lời là: Người ta biết hợp quần, trâu ngựa không biết hợp quần... Cho nên người ta sinh ra chẳng thể không hợp quần, nhưng đã hợp quần mà không định phận là tranh giành nhau, hễ tranh là loạn, loạn thì chia rẽ nhau, chia rẽ nhau thì yếu, đã yếu thì chẳng thành tựu được việc gì cả... Biết lấy đạo hợp quần mà thờ song thân gọi là hiếu, biết lấy đạo hợp quần mà trọng đàn anh, gọi là đễ, biết lấy đạo hợp quần mà kính bề trên, gọi là thuận, biết lấy đạo hợp quần mà xử kẻ dưới, gọi là chúa. Người làm chúa phải giỏi đạo hợp quần, đạo hợp quần tốt, là tất cả mọi sự vật đều được giải quyết một cách thỏa đáng).

Đoạn văn này của Tuân Tử gồm có 4 điểm chánh sau đây:

- Hợp quần là một trong những đặc tính của loài người. Nói khác đi, con người là loài động vật có đặc tính xã hội, nhờ vậy mới ưu việt hơn các loài động vật khác.

- Hợp quần tốt, là một phương thức giải quyết được các vấn đề phân tranh trong xã hội.

- Hợp quần cũng là một phương cách, tiến hành sự việc chung trong xã hội, và mọi người đều có vị trí cùng quyền lợi tương xứng.

- Tuân Tử muốn lấy đạo hợp quần thay thế cho giá trị cũ của đạo hiếu đễ. Nghĩa là, một khi con người ta đã góp phần cống hiến thích đáng cho xã hội, thì kể như đã làm tròn bổn phận trong đạo Hiếu và Để rồi.


(4) Trích từ blog của Đông A:

Tôi đoan chắc rằng nhiều người không hiểu hương nguyện là gì. Cũng chẳng phải bởi thời gian trôi qua, ký ức ngôn ngữ không còn nên ngày nay không hiểu. Người xưa cũng vậy thôi. Hương nguyện là từ rất cắc cớ. Nó vốn ban đầu là hương nguyên. Hương là làng xã, nguyên là gốc, là trước, là trọn vẹn. Không biết từ này nguyên gốc từ đâu chui ra, mọi người đều chỉ truy nguyên về Luận ngữ, coi đây là nguồn gốc.

Trong Luận ngữ, Khổng tử phán một câu: Hương nguyên, đức chi tặc dã, có nghĩa là hương nguyên là kẻ làm hại đức. Khổng tử chỉ nói thế, không giải thích gì vì vậy mà các học trò theo học đạo của ông có người không hiểu. Đến tận Mạnh tử, khi có một học trò hỏi ông, người như thế nào gọi là hương nguyên, Mạnh tử mới giải thích rằng:

"...Ấy là những kẻ hay chê cười...

Ðối với cuồng sĩ họ trách rằng: "Mấy ông ấy có chí cao nguyện lớn để làm gì?...".

Ðối với quyến sĩ, họ trách rằng: "Mấy ông ấy làm gì mà ăn ở khác đời? Làm gì mà lãnh đạm với đời? Ðã sinh ra và sống ở đời này, thì cứ làm việc đời nầy đi. Miễn được khen là tốt rồi".

Họ nịnh đời bằng cách che giấu điều tốt đẹp của người và khoe khoang việc xứng đáng của mình.

Phường như thế là hương nguyên vậy".

Cậu học trò của Mạnh tử cắc cớ hỏi tiếp:

"Cả làng đều khen họ là người thật thà đứng đắn; đi đâu họ cũng làm như người
thật thà đứng đắn. Tại sao đức Khổng tử nói rằng họ làm bại hoại nền đạo đức?"

Mạnh tử trả lời rằng:

"Muốn chê họ, thì chẳng có chỗ gì chê; muốn trách họ, thì
chẳng có chỗ gì trách. Họ đồng hoá theo thói tục thông thường, họ dung hiệp với cõi đời ô trược. Lòng dạ họ dường như trung, tín; hành vi họ dường như liêm, khiết. Dân chúng lấy làm ưa thích họ, mà họ cũng tự nhận mình là trung, tín, liêm, khiết. Thế mà họ không thể cùng đi với mình vào Ðạo vua Nghiêu, vua Thuấn. Bởi thế, đức Khổng nói rằng họ làm bại hoại nền đạo đức vậy".
Ở đây cần phải chú ý rằng Mạnh tử cho rằng cõi đời này là ô trọc, thói tục ở đời không hợp với đạo, do đó những người hòa vào cõi đời, những người được dân ưa thích không thể đạt đạo, là đáng khinh bỉ. Đến Mạnh tử, hương nguyên vẫn là hương nguyên. Đến Tuân tử, hương nguyên biến thành hương nguyện. Tuân tử giải thích rằng nguyên và nguyện đồng nghĩa, bởi vì theo ông "nguyên khác" ("khác" là thành thực) còn đọc là nguyện, và do đó hương nguyên là người cẩn nguyện, tức là người mong cầu kỹ lưỡng.

Từ đây có từ hương nguyện. Từ nguyên thành nguyện cũng mất mấy trăm năm. Nhưng không không đổi nguyên thành nguyện thì hương nguyên còn tù mù tăm tối. Nếu đối chiếu với ngày nay thì hương nguyện là những người được lòng dân chúng, làm việc ở đời, không tránh đời, không tự cao, tự đại. Họ là những người đắc cử.

Rất khác với Khổng tử, là người phải tự tiến cử mình. Từ hương nguyện đến Việt Nam cũng thiên biến vạn hóa. Vì đạo trung dung khó, không mấy ai có thể đoan chắc là mình theo được, nên Phan Khôi có nói rằng bây giờ mà còn nói chuyện trung dung thì đấy là phường hương nguyện. Trần Trọng Kim bèn đáp lại rằng: "Hương nguyện là bọn giả dối không có liêm sỉ, mượn tiếng đạo đức mà che đậy bề ngoài. Bọn ấy ở với quân tử có thể làm quân tử được, mà ở với tiểu nhân thì làm tiểu nhân.

Nếu người ta mà thành thực theo đạo đến chết, thì sao lại là hương nguyện." Ngô Đức Kế phê bình Phạm Quỳnh tán dương truyện Kiều, gọi Phạm Quỳnh là học phiệt. Phạm Quỳnh đáp trả gọi Ngô Đức Kế là đạo đức hương nguyện. Đến lượt Huỳnh Thúc Kháng đáp lại Phạm Quỳnh rằng: "Đạo đức hương nguyện” là đạo đức thế nào? Cứ như lời ông Mạnh Tử đã giải thích thì hương nguyện là chiều đời dua tục, không nói trái với ai, chính là chỉ bọn nhu mỵ. Như con đĩ Kiều kia và cả chuyện Kiều nữa mới gọi là nhu mỵ. Thế mà cho kẻ bác [lại] học Kiều là đạo đức hương nguyện thì cái chuyện phong tình ấy là đạo đức gì?"

Ở đây lưu ý Huỳnh Thúc Kháng dùng đến 3 từ: hương nguyện, nhu mỵ và con đĩ. Nhưng theo Huỳnh Thúc Kháng, hương nguyện là chiều đời tua tục, không nói trái với ai. Nhu mỵ mói là hương nguyện, và ám chỉ Phạm Quỳnh mới đích thị là phường hương nguyện. Đến ông Hoàng Ngọc Hiến, hương nguyện trở thành philistine. Đấy hương nguyện nó lằng nhằng như vậy, thành ra xem ai nói hương nguyện cũng chưa chắc đã biết người ta muốn nói gì.


Không có nhận xét nào: