Hiển thị các bài đăng có nhãn 04-tale. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn 04-tale. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 18 tháng 8, 2010

My back pages



Crimson flames tied through my ears, throwing high and mighty traps
Countless fire and flaming road, using ideas as my maps.
"We'll meet on edges, soon," said I, proud ‘neath heated brow.
Ah, but I was so much older then, I'm younger than that now.

Half-wracked prejudice leaped forth, "Rip down all hate," I screamed.
Lies that life is black and white spoke from my skull, I dreamed.
Romantic facts of musketeers, foundation deep, somehow.
Ah, but I was so much older then, I'm younger than that now.

Girls' faces formed the forward path from phony jealousy
To memorizing politics of ancient history
Flung down by corpse evangelists, unthought of, though, somehow.
Ah, but I was so much older then, I'm younger than that now.

A self-ordained professor's tongue, too serious to fool
Spouted out that liberty is just equality in school
"Equality," I spoke the word as if a wedding vow
Ah, but I was so much older then, I'm younger than that now.

In a soldier's stance, I aimed my hand at the mongrel dogs who teach,
Fearing not I'd become my enemy in the instant that I preach.
My pathway led by confusion boats, mutiny from stern to bow.
Ah, but I was so much older then, I'm younger than that now.

My guard stood hard when abstract threats, too noble to neglect,
Deceived me into thinking I had something to protect.
Good and bad, I define these terms, quite clear, no doubt, somehow.
Ah, but I was so much older then, I'm younger than that now.

Bob Dylan


"... Tấm chắn của tôi đã vẫn cứng cáp khi những lời cảnh báo trừu tượng,
Quá cao nhã để bỏ qua,
Lừa tôi nghĩ rằng tôi có điều gì đó để bảo vệ.
Tốt và xấu, tôi định nghĩa những thuật ngữ này,
Khá rõ, không nghi ngờ, cách nào đó.
Chao ôi, nhưng tôi đã quá già hơn khi đó, bây giờ tôi trẻ hơn rồi."
-----------------

I was always embarrassed by the words sacred, glorious, and sacrifice and the expression in vain. We had heard them, sometimes standing in the rain almost out of earshot, so that only the shouted words came through and had read them, on proclamations that were slapped up by billposters over other proclamations, now for a long time, and I had seen nothing sacred, and the things that were glorious had no glory and the sacrifices were like the stockyards at Chicago if nothing was done with the meat except to bury it. There were many words that you could not stand to hear and finally only the names of places had dignity. Certain numbers were the same way and certain dates and these with the names of the places were all you could say and have them mean anything. Abstract words such as glory, honor, courage or hallow were obscene beside the concrete names of villages, the numbers of roads, the name of rivers, the numbers of regiments and the dates.
(Ernest Hemingway, In A Farewell to Arms)


"... Có nhiều ngôn từ mà bạn đã ko thể tiếp tục nghe nổi và sau hết chỉ tên gọi của nơi chốn là có phẩm giá. Những con số nhất định đã theo cùng một cách đó cùng với những ngày tháng nhất định, và những thứ này với tên gọi nơi chốn đã là tất cả những thứ bạn có thể nói tới và cho chúng ý nghĩa nào đó. Những ngôn từ trừu tượng như là vinh quang, danh dự, lòng can đảm, hay thiêng liêng đã là thô bỉ bên cạnh tên gọi cụ thể của làng mạc, số ghi đường xá, tên gọi sông ngòi, số ghi của các trung đoàn và ngày tháng."



Đọc tiếp →

Thứ Bảy, 7 tháng 8, 2010

Lời người xưa




Gặp cầu nên xuống ngựa
Qua sông chớ trước người
Đêm mưa phòng kẻ trộm
Gà gáy liệu cơ trời

Lê Quý Đôn
Đọc tiếp →

Thứ Hai, 2 tháng 8, 2010

Chân dung làng văn

Trích từ Chân dung 100 nhà văn qua cái nhìn của nhà thơ Xuân Sách:
http://phanthanhvan.vnweblogs.com/post/8200/103070

8. Xuân Diệu


Hai đợt sóng dâng một khối hồng
Không làm trôi được chút phấn thông
Chao ơi ngói mới nhà không mới
Riêng còn chẳng có, có gì chung.

9. Tế Hanh


Quá tuổi hoa niên đã bạc đầu
Tình còn dang dở tận Hàng Châu
Khúc ca mới hát sao buồn thế
Hai nửa yêu thương một nửa sầu.

15. Hoài Thanh


Vị nghệ thuật nửa cuộc đời
Nửa đời sau lại vị người ngồi trên
Thi nhân còn một chút duyên
Lại vò cho nát lại lèn cho đau
Bình thơ tới thuở bạc đầu
Vẫn chưa thể tất nổi câu nhân tình
Giật mình mình lại thương mình
Tàn canh tỉnh rượu bóng hình cũng tan.

19. Xuân Quỳnh


Mải hái hoa dọc chiến hào
Bỏ quên chòi biếc lúc nào không hay
Thói quen cũng lạ lùng thay
Trồng cây táo lại mọc cây bạch đàn.

20. Phạm Tiến Duật


Trường sơn đông em đi hái măng
Trường sơn tây anh làm thơ cho lính
Đời có lúc bay lên vầng trăng
Lại rơi xuống chiếc xe không kính
Thế đấy! Giữa chiến trường
Nghe tiếng bom cũng mạnh!

23. Nguyễn Bính


Hai lần lỡ bước sang ngang
Thương con bướm đậu trên giàn mồng tơi
Trăm hoa thân rã cành rời
Thôi đành lấy đáy giếng thơi làm mồ.

35. Nam Cao


Anh còn đôi mắt ngây thơ
Sống mòn sao vẫn đợi chờ tương lai
Thương cho Thị Nở ngày nay
Kiếm không đủ rượu làm say Chí Phèo.

41. Xuân Thiều


"Đôi vai" thì gánh lập trường
Đôi tay sờ soạng con đường cuối thôn
Nghe anh kể chuyện đầu nguồn
Về nhà thấy mất cái hồn của em.

65. Nguyễn Xuân Sanh


Xưa thơ anh viết không người hiểu
"Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà"
Nay anh chưa viết người đã hiểu
Sắp sáng thì nghe có tiếng gà.

68. Phùng Quán


Hồn đã vượt Côn đảo
Thân xác ở trong lao
Bởi nghe lời mẹ dặn
Nên suốt đời lao đao.

75. Trần Mạnh Hảo


Ôi thằng Trần Mạnh Hảo
Đi phỏng vấn Chí Phèo
Lão chết từ tám hoánh
Đời mày vẫn gieo neo
Còn cái lão Bá Kiến
Đục bản in thơ mày
Bao giờ mày say rượu
Bao giờ mày ra tay.

76. Hoàng Cầm


Em ơi buồn làm chi
Em không buồn sao được
Quan họ đã vào hợp tác
Đông hồ gà lợn nuôi chung
Bên kia sông Đuống em trông
Tìm đâu thấy lá diêu bông hỡi chàng.

81. Tản Đà


Văn chương thuở ấy như bèo
Thương cụ gồng gánh trèo leo tận trời
Giấc mộng lớn đã bốc hơi
Giộc mộng con suốt một thời bơ vơ
Tiếc chi cụ sống tới giờ
Chợ trời nhan nhản tha hồ bán văn.

82. Lưu Quang Vũ


Cũng muốn tin vào hoa hồng
Tin vào điều không thể mất
Cả tôi và cả chúng ta
Đứng trong đầm lầy mà hát
Ông không phải là bố tôi
Con chim sâm cầm đã chết
Ông không phải là bố tôi
Con chim sâm cầm ai giết?

84. Minh Huệ


Vỡ lòng câu thơ viết
Mời bác ngủ bác ơi
Đêm nay bác không ngủ
Nhà thơ ngủ lâu rồi.

97. Phan Thị Thanh Nhàn


Dấu một chòm thơ trong chiếc khăn tay
Em hăm hở đi tìm người trao tặng
Những kẻ phong lưu, những tên du đãng
Mấy ai biết hương thầm của cô gái xóm đê.


100. Xuân Sách (Tự hoạ)


Cô giáo làng tôi đã chết rồi
Một đêm ra trận đất bom vùi
Xót xa đình Bảng người du kích
Đau đớn Bạch đằng lũ trẻ côi
Đường tới chiến công gân cốt mỏi
Lối vào lửa sởn tóc da mồi
Mặt trời ảm đạm quê hương cũ
Ở một cụm đường rách tả tơi.
-------------------------------------------

Trích từ tập thơ Tứ Tuyệt của Trần Mạnh Hảo, NXB Trẻ, 1995:
http://www.thivien.net/viewauthor.php?ID=248

Nhớ Nguyễn Tuân


Một mắt lư đồng, một mắt cua
Chém treo ngành ấy chém a dua
Sông Đà chảy nát tờ hoa cũ
Một đời ăn phở chẳng cần mua...

Nhớ Hàn Mặc Tử


Hàn sỹ mặc nhiên cõi tử sinh
Phong sương thôn Vĩ Dạ phong tình
Hồn thơ nằm sóng xoài dương thế
Đợi gái quê về thử tiết trinh.

Nhớ Ngô Tất Tố


Việc làng văn nghệ tắt đèn anh
Lều chõng mà chi lắm đoạn đành
May còn cụ cố nghìn muôn tuổi
Để làm nhà ngói hoá nhà tranh.

Nhớ Nam Cao

Chí ở đâu rồi phèo ở đây
Thị qua làm nở toét thời nay
Người nam cao quá nên trời thấp
Mòn chút tao thôi để sống mày.

Đọc tiếp →

Thứ Sáu, 9 tháng 7, 2010

Công danh



"Có trung hiếu nên đứng trong trời đất,
Không công danh thời nát với cỏ cây,
Chí tang bồng hồ thỉ dạ nào khuây..."

- Phận sự làm trai (1)


"Đã mang thân ở trong trời đất,
Phải có danh gì với núi sông.
Nợ sách đèn đem nghiên bút trả xong,
Cầu xe ngựa lúc đi về mới tỏ..."

- Nợ tang bồng (2)


"Nhập thế cục bất khả vô công nghiệp,
Xuất mẫu hoài tiện thị hữu quân thân.
Mà chữ danh liền với chữ thân,
Thân đã có ắt danh âu phải có."

- Nghĩa người đời


"Có từng gian hiểm mình càng trí
Song lắm phong trần lụy cũng sâu
Năm ấy đã qua thời chả lại
Giống kia có muộn mới còn lâu..."

- Muộn thành đạt
=================================

(1) Tang: Cây dâu. Bồng: cỏ bồng. Hồ: cây cung. Thỉ: mũi tên.

Tang bồng hồ thỉ là cây cung bằng cây dâu, mũi tên bằng cỏ bồng. Theo Kinh Lễ, khi nhà vua sanh hoàng tử (con trai), quan coi việc lấy cây cung bằng cây dâu và 6 mũi tên bằng cỏ bồng, bắn ra bốn hướng (Đông, Tây, Nam, Bắc) rồi bắn lên trời một mũi, bắn xuống đất một mũi, ngụ ý nói rằng: người con trai lớn lên có chí khí ở bốn phương, tung hoành ngang dọc trong Trời Đất.

Tang bồng hồ thỉ là chí khí nam nhi, vẫy vùng ngang dọc trong Trời Đất.



(2) Chữ vũ trụ trong bài hát nói này dường như đồng nghĩa với chữ trời đất, thế nên câu mở đầu có nghĩa là trong trời đất này mọi việc đều là phận sự của kẻ sĩ. Chẳng có công danh thì hỏi đứng giữa cõi trần này làm chi. Chí cung tên chót hẹn với non sông, theo đạo Nho là phải trung vói vua hiếu với cha. Đã mang thân sống trong trời đất này, phải có danh với núi sông. Là nhà Nho là mang nợ sách đèn, và vì thế phải trang trải bằng nghiên bút. Tác giả chợt nhớ đến truyện người Tư Mã Tương Như, người đời Hán bên Trung Quốc, vào kinh đô tìm công danh có thề rằng:

Bất thừa xa mã bất hoàn quá thử kiều. (Bất thừa cao xa tứ mã, bất phục quá thử kiều.)

Nghĩa là: Nếu không ngồi xe ngựa không về qua cầu này.


Đọc tiếp →

Thứ Năm, 3 tháng 6, 2010

Thái Thọ Huyệt Dương Minh Khảo Luận (+18)

Leopard: Copy toàn văn, từ từ ngâm cứu ngõ hầu biết mình mất hay còn...

====================================
THÁI THỌ HUYỆT DƯƠNG MINH KHẢO LUẬN ( Tư Liệu)


Trước lúc đọc bài phần khảo luận này Quí Vị cần phải xem trước bài viết trước (nếu chưa xem bài trước thì chưa nên đọc bài khảo luận này)

Bấm vào đây để đọc:
http://thuannghia.vnweblogs.com/post/7291/232509
__________

Lấy tư cách là một lương y, hậu nhân của Thanh Long Phái, một Y phái đã xuất thế nhiều Quan Ngự Y cho các triều đại, Vua, Chúa từ đời Hậu Lê cho đến đời Chúa Nguyễn Phúc Thuần. Tôi khẳng định huyệt Dương Minh mà Bà Lương Y Phạm Thị Hồng đã đề cập đến là có thật 100%.

Huyệt này là một biệt huyệt nằm trên Thái Thọ Cân Kinh nối giữa Thủ Dương Minh Đại Trường Kinh với Thủ Thiếu Dương Tam Tiêu và Thủ Thái Dương Tiểu Trường Kinh. Huyệt này là huyệt chủ của Cân Thọ (sự bền vững của Gân, Cơ)

Sách Linh Khu Tố Vấn viết " Thiếu niên chủ Thọ về Cốt khí, Trung niên chủ thọ về Huyết khí, Lão niên chủ thọ về Cân khí. Nam giới chủ thọ về Gân Cốt bền vững, Nữ giới chủ thọ về Khí Huyết đầy đủ..."

Lại nói "Dương Minh là Thái Cân Kinh chủ huyệt, là hội huyệt của các Lạc và biệt Kinh nối ba đường thủ dương Kinh (ba đường Kinh dương ở tay). Thiếu niên huyệt hội (sáng sủa, lộ rõ) là Cốt khí thịnh vượng, dương khí còn minh nguyên chưa bị âm tà hoạnh hại. Trung niên huyệt hội là khí lực cường tráng, vận lực hanh thông, không bị tổn vì âm tà hoạnh hại. Lão niên huyệt hội là gân cốt còn đầy đủ, thâu nạp khí âm mà tàng dương đó là cái lý khí của Đại thọ vậy..."

Như vậy theo sách Linh Khu thì Dương Minh không chỉ là huyệt Đồng tử mà nói thật chính xác đó chính là Thọ Huyệt.

Và có thể với con mắt thao luyện dày dặn của nghề nghiệp, người Thầy Thuốc có thể dựa vào huyệt Dương Minh mà xác định định được là còn Đồng Tử hay không Đồng Tử.

Nhưng nói như Lương Y Phạm Thị Hồng, là nếu thiếu niên đã gần gũi một lần nữ sắc, thì huyệt Dương Minh bị đứt hẳn là chưa chính xác.

Người thầy thuốc có nghề vọng Thần, có thể thấy được huyệt Dương Minh có thần khí tăm tối hay sáng sủa mà xác định được người bệnh có thái quá trong việc chăn gối hay không, để mà xác định được sự vắn dài tuổi thọ của bệnh nhân. Như vậy sao nói Dương Minh huyệt tuyệt đứt được.

Huyệt Dương Minh chính là nơi hội tụ và phát tiết thần sắc của con người. Thần khí sáng sủa, trong lành hay u ám mờ tối là do chính từ Dương Minh huyệt phát tiết, chứ không phải là do Minh Đường, Dịch Mã, Thái Dương sinh ra như một số người đã nghĩ.

Các bạn hãy nhìn sự tích hợp khí huyết của ba đường kinh dương trên cơ thể sau đây, thì các bạn sẽ hiểu rõ thêm tại sao Huyệt Dương Minh lại có vai trò thần diệu như vậy



KINH THỦ DƯƠNG MINH ĐẠI TRƯỜNG




KINH THỦ THIẾU DƯƠNG TAM TIÊU




KINH THỦ THÁI DƯƠNG TIỂU TRƯỜNG

------------------------------------------
ĐƯỜNG LƯU CHUYỂN KHÍ TRONG CÁC MẠCH LẠC KINH THỦ DƯƠNG MINH ĐẠI TRƯỜNG

1-KINH CHÍNH

Khởi đầu từ bờ ngoài chân móng ngón tay trỏ, đi dọc theo mép trên của ngón tay, qua hố lào giải phẫu, đến nếp gấp bờ ngoài khuỷ tay, chạy dọc theo mé trước- ngoài cánh tay, đến đầu trên cánh tay, chỗ hõm khớp vai, ra bờ sau vai, giao với kinh Tiểu Trường ở huyệt Bỉnh Phong, hội với Đốc Mạch ở Đại Chùy và đi sâu vào trong hõm xương đòn, từ đây phân ra 2 nhánh: Một nhánh lặn vào Phế, qua cơ hoành để vào Đại Trường ; Một nhánh từ hố xương đòn, lên cổ, hàm, đi vào giữa hàm răng dưới, vòng quanh mép miệng giao nhau ở Nhân Trung đến cánh mũi phía bên đối diện.

2-KINH BIỆT

Khởi từ huyệt Kiên Ngung, phân thành nhiều nhánh: Một nhánh ra sau ngực hội ở Đại Chùy, Một nhánh đến trước ngực phân nhánh vào Đại Trường, vào Phế, nổi lên ở hố trên xương đòn (ở huyệt Phù Đột) để hội với kinh Biệt Phế.

3-LẠC DỌC

Từ huyệt Lạc - Thiên Lịch chạy đến mỏm vai, lên cổ, vào hàm dưới,
phân một nhánh vào răng - tai và một nhánh vào Phế.

4-LẠC NGANG

Từ huyệt Lạc - Thiên Lịch chạy theo bờ ngoài cẳng tay vào huyệt Nguyên của Phế là Thái Uyên.

5-KINH CÂN

Khởi lên ở bờ ngoài chân móng ngón tay trỏ, đi dọc theo bờ ngoài cẳng tay, lên khuỷ tay đến đầu cánh tay, kết ở Kiên Ngung, phân một nhánh vòng theo bả vai áp vào 2 bên cột sống, còn một nhánh đi từ Kiên Ngung lên đến cổ, chia: một chi nhánh lên má kết ở trong xương gò má và chạy vào tai, một chi nhánh lên trên đến góc trán, vào trong tóc, vòng quanh sọ, xuống phía hàm đối diện cùng kinh.

___

ĐƯỜNG LƯU CHUYỂN KHÍ TRONG CÁC MẠCH LẠC KINH THỦ THIẾU DƯƠNG TAM TIÊU.

1-KINH CHÍNH:

Khởi từ góc trong ngón tay áp úp, dọc theo khe giữa của 2 ngón tay 4-5, ở mu bàn tay, đến mặt ngoài cổ tay, lên trên, đi dọc theo mặt sau cẳng tay giữa xương trụ và xương quay, đến mỏm khuỷ tay, đi theo mặt sau cánh tay lên vai, trong chỗ lõm của đầu xương vai và đầu xương cánh tay. Qua đỉnh cao xương bả vai thì đường kinh bắt chéo ra sau kinh Đởm, chạy xuống rãnh trên xương đòn (h.Khuyết Bồn) rồi đi sâu vào trong ngực đến Tâm Bào Lạc, qua cơ hoành và liên hệ với Tam Tiêu. Một nhánh đi từ ngực (h.Chiêu Trung) trở lên rãnh trên xương đòn để ra sau cổ, liên lạc với Đốc Mạch (h.Đại Chùy), chạy lên sau gáy, vào sau tai, vòng quanh tai, đến góc trên tai, đi vòng xuống mặt và trở lên kết ở bờ dưới ổ mắt. Một nhánh từ sau tai (h.Khế Mạch) vào trong tai và ra trước tai, qua trước h.Thượng Quan (Đởm), vòng xuống góc hàm dưới và liên kết ở góc ngoài đuôi lông mày để liên lạc với kinh Túc Thiếu Dương Đởm ở phía ngoài đuôi mắt (h.Đồng Tử Liêu).

2-KINH BIỆT:

Khởi từ huyệt Giác Tôn của kinh Chính Tam Tiêu đi lên đỉnh đầu ở h.Bá Hội rồi trở xuống vòng sau tai, đến h.Thiên Dũ, qua h.Khuyết Bồn (Vị) để vào sâu trong ngực liên lạc với Tâm Bào Lạc và Tam Tiêu.

3-LẠC DỌC:

Khởi từ huyệt Lạc - Ngoại Quan, theo kinh Chính lên phía sau cánh tay qua hõm trên xương đòn, rồi xuyên vào trong ngực đến Tâm Bào Lạc.

4-LẠC NGANG:

Khởi từ huyệt Lạc - Ngoại Quan, đi dọc theo bờ ngoài cẳng tay để đổ vào Kinh Chính Tâm Bào ở huyệt Nguyên - Đại Lăng.

5-KINH CÂN:

Khởi từ góc trong của móng ngón tay áp út, đến cổ tay, lên phía sau cẳng tay và sau khuỷ tay, theo bờ ngoài cánh tay lên mỏm vai, qua cổ hội với kinh Cân Thủ Thái Dương Tiểu Trường, đến góc hàm dưới, tại đây phân hai nhánh: Một nhánh đi vòng dưới góc hàm dưới để tiến sâu vào họng và kết ở cuống lưỡi. Một nhánh đi lên cao, dọc trước tai, chia nhánh vào tai và đến góc ngoài mắt, kết ở miền trán thái dương tại huyệt Bản Thần
___________________

ĐƯỜNG LƯU CHUYỂN KHÍ TRONG CÁC MẠCH LẠC KINH THỦ THÁI DƯƠNG TIỂU TRƯỜNG

1-KINH CHÍNH

Khởi lên từ góc trong chân móng ngón tay út, chạy dọc theo bờ trong bàn tay, phía xương trụ, lên cổ tay, đi dọc theo phía sau trong cánh tay qua giữa mỏm khuỷ tay vào sau khớp vai, đi ngoằn ngoèo ở gai xương bả vai, đến hội với kinh Bàng Quang và Đốc Mạch hội tại h. Đại Chùy, rồi trở ra hố xương đòn.

Từ hố xương đòn vùng huyệt Khuyết Bồn phân thành hai nhánh: Một nhánh lặn vào Tâm, qua cơ hoành đến Vị, Tiểu Trường và xuống liên hệ với huyệt Hạ Cự Hư của kinh Túc Dương Minh Vị (huyệt Hợp dưới của Tiểu Trường). Một nhánh lên cổ, gò má, tới góc ngoài mắt và vào tai; tại vùng má có nhánh đến bờ dưới hố mắt, hốc mũi và kết ở huyệt Tình Minh (Bq).

2-KINH BIỆT

Khởi từ sau vai ở huyệt Nhu Du, nhập vào nách tại huyệt Uyên Dịch (Đởm), vào ngực và phân nhánh vào Tâm, xuyên cơ hoành xuống liên hệ với Tiểu Trường, Một nhánh chạy đến khóe mắt trong ở huyệt Tình Minh (Bq).

3-LẠC DỌC

Từ huyệt Lạc - Chi Chánh chạy ra ngoài bờ sau cánh tay, lên tới vai vào vùng huyệt Khuyết Bồn (Vị) rồi chạy vào Tâm.

4-LẠC NGANG

Từ huyệt Lạc - Chi Chánh vòng ngang bờ ngoài cánh tay đến huyệt Nguyên của kinh Tâm là Thần Môn.

5-KINH CÂN

Khởi từ phía trong ngón út, men theo cổ tay, chạy dọc bờ trong sau cánh tay phân thành hai nhánh: Một nhánh vòng xuống kết dưới ổ nách, Một nhánh vòng lên vai, cổ, đi trước kinh Túc Thái Dương Bàng Quang và Thiếu Dương Đởm: phân một nhánh đến sau tai và vào trong tai, còn một nhánh đi vòng quanh tai rồi đổ xuống xương hàm dưới, và chạy ngược lên trên đến góc ngoài mắt, kết thành nhiều mao mạch dưới ổ mắt.
_______

Nhìn trên đồ huyệt và đường luân chuyển khí huyết của ba đường Thủ Dương Kinh (lưu ý chổ có gạch đít), chúng ta đều thấy dù là đường luân chuyển kinh chính, kinh biệt, lạc dọc, lạc ngang hay cân kinh, đều thấy cả ba đường kinh Dương này đều cũng có một sự hội tụ ở cuối xương quai hàm và đi vào trong tai. Điểm tích hợp đó chính là Dương Minh huyệt.

Lúc này đây chúng ta mới hiểu được lý luận logic của Y Lý là vì sao Thận khai khiếu ở tai (80% bệnh ù tai - Tinitut là liên quan đến thận). Khai khiếu có nghĩa là bóng ảnh biểu hiện ra ngoài của nội tạng, Trong trường hợp này tạm hiểu nôm na là mọi tình trạng của Thận biểu hiện ra ở Tai. Và chúng ta mới thật thấu ngộ tại vì sao huyệt Dương Minh lại thể hiện được những hiện trạng có liên quan đến sự thịnh suy của quả Thận. Bởi vì Kinh Thận vốn là đường kinh Âm, nhưng Thận chính là cái bể khí, tàng trữ khí Nguyên Dương (Chân Khí). Vì vậy mà xét về sự thịnh-suy của Thận, chính là dựa vào nơi hội tụ khí Dương, nơi khai khiếu của Thận. Đó chính là điều huyền vi của Y Lý cổ truyền.
(Việc Thận khai khiếu ở Tai và ba đường kinh Dương ở tay hội ở huyệt Dương Minh ảnh hưởng đến khí Nguyên Dương của Thận, lý giải rất rõ ràng cho các động tác vận động của Tay, nhịp nhàng, uyển chuyển, và nhu thuận của môn khí công Thiên Lý Tiêu Dao, tại sao lại có thể là một môn khí công Cường Dương Tráng Thận được...)

Là người thầy thuốc và chính người có bệnh về Thận, xác định đúng vị trí huyệt Dương Minh, có thể chỉ bằng một vài thủ thuật đơn giản ( trước đây là bí truyền) có thể khắc phục được cấp bách tình trạng suy chức năng tình dục, để bảo đảm được hạnh phúc gia đình trong việc phòng the.

Vậy thì huyệt Dương Minh nằm ở đâu mới chính xác?. Thật đơn giản! Cho dù huyệt Dương Minh là một động huyệt (Huyệt không có vị trí cố định) Nhưng cũng rất dễ dàng xác định.

Vì huyệt Dương Minh nằm dưới ngay điểm cuối cùng của dái tai (Nhĩ Châu) kéo tthẳng góc vào da mặt. Dái tai ai dài thì huyệt Dương Minh nằm dịch xuống gò Địa Các ( Giữa quai hàm và cằm ) nhiều hơn.
Vòm Địa Các vốn là nơi tích tụ phước khí. Địa Các sâu rộng vững chãi, thì hậu vận sung mãn, trường thọ. Dương Minh huyệt càng nằm xuống dưới, thì sinh lực càng cường tráng là vậy.

Điều này còn lý giải cho một lý luận của Tướng Số Mệnh Học là người có dái tai to, thòng xuống là tướng trường thọ (Huyệt Dương Minh là hội của Thái Thọ Cân Kinh mà...). Và dái tai ai kéo xếch ngược lên trên thì người ta nói đó tướng yểu mệnh bạc phước là vậy.

Huyệt Dương Minh còn có liên quan đến một môn công phu tương đối bá đạo, mà thời xưa các quan Ngự Y và thái giám thường giúp các bậc vua chúa để "chiến đấu" với hàng trăm, hàng ngàn cung nữ mà không biết mệt, đó chính là thuật "Dương Lang Thủ". Thuật này vốn bí truyền, chỉ lưu truyền trong giới có y thuật cao minh và phải phát thệ không truyền bá ra nhân gian kẻo sợ kẻ có tâm bất chánh làm chuyện tà dâm.

Ngày nay, trong những trường hợp đặc biệt các Lương Y đã truyền bá cho bệnh nhân để chữa bệnh suy thoái chức năng Thận, liệt dương

Dương Minh huyệt cũng còn có liên quan đến một phương pháp "hồi dương" cho người đã tuyệt khí. Ví dụ kéo dài hơi thở cuối cùng cho người tuyệt mệnh muốn chờ gặp con cháu chẳng hạn. Hay là dốc hết sinh lực của người sắp chết, nhằm mục đích chờ đợi một một phép mầu khác của Y thuật.

Dương Minh huyệt không phải chỉ có ở Đàn Ông, mà Đàn Bà cũng có huyệt ấy, cũng có những chức năng ấy. Nhưng sự huyền vi trong việc vọng Thần, thì ở Đàn Ông rõ nét và chính xác hơn.

Một huyệt khác ở Phụ Nữ có chức năng như huyệt Dương Minh ở đàn ông là huyệt Huyết Quyết Âm. Huyệt này chính huyệt ở lòng ngực, nằm giữa huyệt Cữu Vĩ và Nhũ Trung. Huyệt này phát Hình ở trên cườm tay trái phía trong, và phát thần ở đỉnh Châu Sa (chóp mũi) và dọi xuống Thủy Các ( làn môi). (Trong khuôn khổ bài viết này cho phép tôi miễn luận bàn về Huyết Quyết Âm huyệt).

Trong sách Linh Khu có nói, đại ý như sau: "Là một Thầy Thuốc nếu chưa thấu đáo được hết sự huyền vi của Dương Minh huyệt và Huyết Quyết Âm huyệt thì chưa thể gọi là một Danh Y. Là một nhà Tướng Mệnh Học, nếu chưa nắm được cái Thần của Dương Minh huyệt và Huyết Quyết Âm huyệt thì chưa thể gọi là một Thần Tướng được"

Câu nói đó thay cho lời kết luận của thiên khảo luận này.

___________________

Hì hì..thêm một quả tái bút:

- Lương Y Phạm Thị Hồng có nói về "Huyệt Dương Minh "...chị Hồng bùi ngùi nhớ lại. Chị bảo, cái huyệt đạo này người theo học y thuật phương Đông đều biết, nhưng nhiều người không để ý vì nó chẳng mấy tác dụng trong việc chữa bệnh, ngoài chức năng chứng minh sự trinh tiết."

Nói vậy là quá coi thường Dương Minh huyệt rồi, ít nhất nó cũng là một điểm để Vọng Thần trong Tứ Chẩn chứ (Vọng-Văn-Vấn-Thiết).

Ngoài tra Dương Minh còn là huyệt khá quan trọng cho việc phục nguyên cho Thận, sao lại nói là chẳng có mấy tác dụng trong việc chữa bệnh được. Có lẽ vì vị Lương Y tài ba và can đảm đầy tình Mẫu Tử này, chỉ căn cứ vào điểm huyệt Dương Minh cấm Châm và cấm Cứu, nên cho rằng nó không có tác dụng chăng?. Nên nhớ rằng trong Y học còn có một phép chữa bệnh cực kỳ thâm diệu nữa là phép Án-Ma (day bấm huyệt).

Chính vì vậy mà Dương Minh huyệt chính là "Tử Huyệt" của các đấng mày râu, họ sẽ bị gục như Từ Hải chết đứng, khi bị quí mợ "mơn trớn" thậm chỉ chỉ cần thổi nhẹ vào Dương Minh huyệt. Và nó cũng là "Sinh Huyệt" cho các quí ngài bị chứng " đã vội về khi chưa tới bến" khi biết khống chế huyệt Dương Minh.

Hà hà.... bạn cứ thử lấy ngón tay trỏ dí vào huyệt Dương Minh ( dí nhẹ thôi nhé). Ấn ngón tay và dí chếch lên trên sẽ cảm giác có một chổ hủm nhỏ, ấn nhẹ vào đó sẽ thấy cả hàm má nhói buốt lên tận mang tai, nơi có mạch Thái Dương, cái mạch hay nhảy cuồng lên như trống làng khi "lâm sự".
Vậy mới thấy cái huyền vi của Dương Minh trong chuyện phục nguyên Thận. Sao lại nói là không có tác dụng chi hè. Lạ thật

"..Chị đã đi gặp GS. Nguyễn Tài Thu - một trong số ít người quan tâm đến cái huyệt đó. GS. Nguyễn Tài Thu sau khi nghe chị thuật lại sự việc cũng lắc đầu bảo, khó lắm con ạ (GS luôn gọi chị là con ) chuyện này không đùa được, liên quan đến luật pháp, mà cái huyệt này chỉ những người rành y thuật phương Đông mới hiểu, khó làm chứng cứ minh oan lắm... Nói vậy nhưng GS cũng rất thương cho phạm nhân Lợi, chính ông đã móc ví lấy tất cả số tiền trong đó là 800 ngàn đồng gửi chị mua thuốc để tiêm cho Lợi, rồi động viên chị hãy bình tĩnh, làm từng bước cho chắc chắn."- trích trong bài báo "Bí mật huyệt Dương minh".

Hè hè kẻ hèn này thời còn xuân xanh (23 tuồi) đã có dịp gặp gỡ vị Giáo Sư tài ba này, trong cuộc hội thảo Châm Cứu Cai Nghiện Ma Túy. Trong cuộc hội ngộ này tôi đã có trình bày với Giáo Sư có thể dùng thuật Dương Lang Thủ chữa trị bệnh suy Thận, dẫn đến chứng Dương Nuy. Nhưng có lẽ hồi ấy Giáo Sư ở tận trên trời, mà tôi thì tận dưới đáy, nên Giáo Sư không để ý đến. Cho nên bây giờ Ông vẫn coi nhẹ huyệt Dương Minh như vậy đó chăng. Trong khi Tổ Sư Gia Hải Thượng Lãn Ông có nói : "bá bệnh từ Thận mà sinh ra, nên lấy Thận làm trọng trong các thuật ôn bổ chính khí mà loại trừ bá bệnh". (Chính vì vậy mà Cụ Tổ mới lấy huyệt Thận Du và Mệnh Môn làm "Đại Chủ Huyệt" trong Y Thuật lừng danh kim cổ của Ông chứ.)

22.05.10
QN- Lê Thuận Nghĩa
Sưu tầm và biên khảo
==============================================


Đọc tiếp →

Thứ Năm, 27 tháng 5, 2010

Trống cơm



260.
Trống cơm khéo vỗ nên vông,
Một bầy con sít lội sông đi tìm.
Thương ai con mắt lim dim,
Một bầy con nhện đi tìm giăng tơ,
Thương ai duyên nợ tang bồng.


http://www.quangduc.com/tho/252cadao1t.html

Q:Xin cho tôi biết ý nghĩa của bài hát: Trống cơm?

A: Ô hay, cũng có người để ý đến cái ẩn ý nửa cười nửa khóc của làn điệu dân ca này nhỉ. Câu hỏi thú vị quá!

"Tình bằng có cái trống cơm khen ai khéo vỗ ấy mấy bông nên bông, ấy mấy bông nên bông"

Đó tưởng như là mô tả cảnh đánh trống ở một làng quê Việt nam nào, nhưng ta hãy nhắm mắt lại đừng nhìn mà nghe và nghĩ kỹ thêm:
- Cái trống gì nho nhỏ mà người vỗ vào thì "bông nên bông"?
- Cái thú chơi gì lạ kỳ... cái kiểu khen gì lạ kỳ (khen hay giễu khó biết!)... gọi là chơi trống có được không nhỉ. Có cô bé nào mới lớn đừng có ngây thơ mà ra đình làng xem mấy anh chơi trống mà có ngày "bông nên bông" đấy!

Thế rồi đang từ chơi trống, vác trống... mấy con Sít kia mò mẫm đi đâu? lội sông đi đâu? tìm ai mà phải vất vả thế, mò mẫm thế? Hay là đi tìm cái kẻ ham chơi trống, nhưng giỏi quất ngựa truy phong? Thôi thì cứ tìm đi, tìm đi cho thỏa nỗi "nhớ thương ai", em đáng thương ạ!

"Tình bằng ấy là con nhện, ố ô,... ố mấy chăng tơ... chăng tơ ấy mấy đi tìm em nhớ thương ai"
Cái hình tượng con nhện chăng tơ thật quá đắt, các cụ quá giỏi, quá tinh tế. Cái chữ tình đúng là như cái lưới nhện, vừa dính, vừa rắc rối. Cái tơ nhện giăng ra trói bắt con ruồi, nhưng có ai đã từng lặng ngắm cái tơ nhện mong manh trơ trọi trong không trung trước gió, chắc không khỏi cảm thấy có chút cám cảnh...

Cả làn điệu dân ca chốt lại có mấy câu thôi "duyên nợ khách tang bồng". Đó là cái duyên nợ gì mà đọc lên như thấy phù vân, ảo huyễn của cuộc đời. Dân ca Việt bay bướm, làn điệu ngọt lịm mà ý tứ thẳm sâu. Vừa là hát đùa cho vui, vừa là lời nhắc khéo nhẹ nhàng, nhưng để lại sau một câu ca bay đi là cả nỗi suy tư.

Thân mến.





Chạm vào một nhánh tầm xuân...




Lích cha lích chích vành khuyên...




Giăng tơ... cứ tưởng thời gian mắc vào...




...

Đọc tiếp →

Thứ Ba, 11 tháng 5, 2010

Hoa Lựu

.








Dưới trăng quyên đã gọi hè,
Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông.

Ảnh trên Flickr.

Đọc tiếp →

Thứ Ba, 4 tháng 5, 2010

Lạc quan và Bi quan




Một số người là kẻ lạc quan và một số là kẻ bi quan, và một cách thú vị có những người là kẻ lạc quan vào ban sớm và là kẻ bi quan vào ban đêm. Như Levison từng nói, một kẻ bi quan chỉ thấy phía tối của đám mây, và nhăn nhó; một triết gia nhìn thấy cả hai phía, và nhún vai; và một kẻ lạc quan thì không thấy một đám mây nào hết - hắn dạo bước trên chúng!

Dịch từ bờ lóc của
I like nice life.
Đọc tiếp →

Thứ Hai, 14 tháng 9, 2009

If not me, then who?

01. Sự thay đổi của Andrei Sakharov



Sự thay đổi của Andrei Sakharov Người chế tạo bom hydro của Liên Xô trở thành một nhà hoạt động vì hòa bình và nhân quyền. Điều gì đã khiến ông thay đổi như vậy?
...
Khi một đồng nghiệp của hỏi ông tại sao ông lại làm những việc như vậy, Sakharov đã trả lời: "Nếu không phải tôi thì ai đây?" (*)

http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=90&News=2060&CategoryID=24


(*): In the 1970s one of his colleagues Vladimir Ritus, asked him why he had taken the steps he did thereby putting himself in such grave danger. Sakharov's reply was, "If not me, who?"

http://oldweb.uwp.edu/academic/criminal.justice/1486017.pdf



02. Andrey Dmitrievich Sakharov (1921-1989)

Andrey Dmitrievich Sakharov chào đời ngày 21/5/1921 tại thành phố Moscow, nước Nga. Ông Sakharov là một nhà vật lý hạch tâm, một nhân vật can đảm tranh đấu cho nhân quyền, đòi hỏi các tự do dân sự (civil liberties) cũng như các cải tiến tại Liên Xô. Vào tháng 12 năm 1975, ông Andrey D. Sakharov được trao tặng Giải Thưởng Nobel Hòa Bình (the Nobel Prize for Peace) vì các công trình hoạt động của ông trong nhiều năm trường.

...

Năm 1947, ông Andrey D. Sakharov bảo vệ luận án Tiến Sĩ về Vật Lý Hạch Tâm (nuclear physics) rồi qua năm sau, 1948, được mời tham gia vào nhóm các nhà nghiên cứu khoa học mà nhiệm vụ của họ là làm phát triển các võ khí nguyên tử, với nhà bác học đứng đầu nhóm là ông Igor E. Tamm. Từ đầu năm 1950, nhà bác học Igor E. Tamm cùng với Tiến Sĩ Andrey D. Sakharov và nhóm chuyên gia, đã nghiên cứu và thử nghiệm các phản ứng nhiệt hạch tâm có kiểm soát (controlled thermonuclear reaction), rồi sau đó chế tạo các máy phát từ khổng lồ (magnetic generators), nhờ đó đã đạt được một kỷ lục về từ trường mạnh tới 25 triệu gauss.

Trong vòng 20 năm, ông Sakharov đã làm việc trong các điều kiện an ninh tuyệt đối, dưới các căng thẳng lớn, đầu tiên tại khu vực thành phố Moscow rồi về sau tại một trung tâm nghiên cứu bí mật. Các công trình nghiên cứu xuất sắc của ông Sakharov về khí động học của chất khí (gas dynamics), sự hạn chế từ tính của các hạt chứa điện tích (magnetic confinement of charged particles) cũng như các vấn đề chính yếu trong công trình chế tạo bom khinh khí (hydrogen bomb), lần đầu tiên được thử vào tháng 8 năm 1953. Do những đóng góp lớn lao này, ông Sakharov được bầu làm Viện Sĩ của Hàn Lâm Viện Khoa Học Liên Xô năm 32 tuổi, cũng như được trao tặng nhiều danh dự và thụ hưởng các đặc quyền, đặc lợi khác.

Vào thời gian đầu của thập niên 1950, ông Sakharov cũng như nhiều nhà bác học Liên Xô khác, đã say sưa với tầm quan trọng của công trình võ khí nguyên tử, tin tưởng rằng nhờ chương trình này mà có sự cân bằng thế lực trên thế giới, giữa hai khối tư bản và cộng sản, nhưng qua giữa thập niên, ông bắt đầu suy nghĩ tới các nguy hiểm do các vụ nổ nguyên tử gây ra, lo lắng về các phóng xạ từ trái bom khinh khí 100-megaton nổ trong không trung, rơi xuống nhiều miền đất rộng lớn, gây ra tai họa cho nhân loại và môi trường thiên nhiên. Tại một buổi họp trong Điện Kremlin vào năm 1961, ông Sakharov đã chuyển tới vị Tổng Bí Thư Nikita Khrushchev một bản viết chỉ trích việc tiếp tục các thí nghiệm võ khí hạch tâm. Ông Sakharov đã vận động thành công việc chống đối và vạch trần các chủ thuyết giả mạo (spurious doctrines) của nhà sinh học đầy thế lực T.D. Lysenko. Ông đã quan tâm tới các vấn đề sinh học (biological) cũng như đạo đức (moral) do bởi các thử nghiệm hạch tâm kể trên, rồi kể từ năm 1967, ông đã báo động cho nhiều người khác biết rõ các tai họa sẽ xẩy ra.

Trong bài luận văn viết vào năm 1968 với nhan đề là "Suy Nghĩ về Tiến Bộ, Cùng Sống trong Hòa Bình và Tự Do Trí Tuệ" (Reflections on Progress, Peaceful Coexistence, and Intellectual Freedom), ông Sakharov đã biện hộ việc giảm bớt căng thẳng (détente) giữa hai khối đối nghịch Đông và Tây và kêu gọi cách hội tụ của hai hệ
thống tư bản và xã hội chủ nghĩa.

...

http://vietsciences.free.fr/biographie/physicists/sakharov.htm

03. Sakharov's Chronology

...

1968, July. “Reflections on Progress, Peaceful Coexistence, and Intellectual Freedom” is published in the West.

1972, October. Sakharov’s first interview to a Western correspondent.

1973, August 21. Sakharov’s first press conference.

1973, August 23. In an interview with Western journalists, Sakharov says, “How can we speak of trust, if one of the sides is like a giant concentration camp?”

1975, October 9. The Nobel Peace Prize award to Sakharov is announced.
...
http://people.bu.edu/gorelik/AIP_Sakharov_Photo_Chrono/AIP_Sakharov_Photo_Chronology.html


04. Andrei Sakharov's Nobel Lecture, December 11, 1975 (Peace, Progress, Human Rights):

http://nobelprize.org/nobel_prizes/peace/laureates/1975/sakharov-lecture.html

05. The opening paragraphs of Sakharov’s Reflections on Progress, Peaceful Coexistence, and Intellectual Freedom:

http://www.aip.org/history/sakharov/essay.htm
Đọc tiếp →

Thứ Tư, 29 tháng 7, 2009

A dream

A Dream by Jorge Luis Borges
(Translated, from the Spanish, by Suzanne Jill Levine.)

In a deserted place in Iran there is a not very tall stone tower that has neither door nor window. In the only room (with a dirt floor and shaped like a circle) there is a wooden table and a bench. In that circular cell, a man who looks like me is writing in letters I cannot understand a long poem about a man who in another circular cell is writing a poem about a man who in another circular cell . . . The process never ends and no one will be able to read what the prisoners write.




- Bản dịch và lời bình của Đông A:



Hôm nay đọc The New Yorker thấy bài thơ A dream của Jorge Luis Borges, qua bản dịch của Suzanne Jill Levine. Tôi thấy thích bài thơ này và thử dịch ra tiếng Việt. Công nhận, The New Yorker đưa bài thơ này rất hợp thời. Không rõ Borges sáng tác bài thơ này vào năm nào. Thẩm mỹ về chuỗi vô tận, A trong A trong A ... rất hợp với tư duy phương Đông, không có khởi đầu và không có kết thúc, và con người chỉ còn có thể bất lực mà thôi. Nhưng thực ra các chuỗi vô tận không hẳn đã là vô tận. Chúng có một giới hạn, giống như nghịch lý Achilles đuổi rùa của Hy Lạp cổ đại. Cái giới hạn đấy là lúc con người có thể đọc được những gì mà những người tù đã viết ra.


Một giấc mơ
Jorge Luis Borges

Ở một nơi hoang vắng ở Iran có một tháp đá không cao lắm, không có cửa cũng như cửa sổ. Trong căn phòng duy nhất (với nền đất và có dạng hình tròn) có một chiếc bàn gỗ và một chiếc ghế băng. Trong ngục tròn đó có một người nom giống như tôi đang viết chữ mà tôi không thể hiểu, một bài thơ dài về một người trong một ngục tròn khác đang viết một bài thơ về một người trong một ngục tròn khác... Diễn tiến này chẳng bao giờ kết thúc và chẳng một ai có khả năng được đọc những gì mà những người tù đã viết ra.


Source: http://donga01.blogspot.com/2009/07/mot-giac-mo.html


- Lời bình của Leopard (về lời bình của Đông A (về bài thơ của Borges (về... ))):

Bác ĐA bẩu: Cái giới hạn đấy là lúc con người có thể đọc được những gì mà những người tù đã viết ra.

Giới hạn đấy là thế nào?

Hình như để có thể hiểu được mình phải xem lại kiến thức toán học về chuỗi số. Nhớ lại chút, thì như là chuỗi số thì kéo dài vô hạn, nhưng tổng của chuỗi thì hữu hạn. Giống như một tảng thịt nặng 60 kí lô là hữu hạn, nhưng ta có thể cắt nó ra thành vô số các tảng nhỏ, số các tảng nhỏ có thể là vô hạn.

Vậy, vấn đề thứ nhứt là ta đang có tảng thịt nặng 60 kí lô hay chỉ là các tảng nhỏ của nó.

Vấn đề thứ hai là nếu ta chỉ có các tảng nhỏ, thì làm sao biết được cái tảng lớn. Tức là cách đọc. Ví dụ như với một bản nhạc, anh đọc những nốt nhạc và có thể đọc cả khoảng trống giữa những nốt nhạc ấy. Khoảng trống giữa những nốt nhạc hay quy luật giữa những con số... Đại khái thế!

Vấn đề thứ ba, mí là vấn đề quan tọng, là ta có muốn đọc hay không. Hông mún, thì thôi, cũng hông ai ép.
Đọc tiếp →

A hoax

I have learned that when a newborn baby holds, with its little hand,
his father's finger, it has trapped him for the rest of his life.

I have learned that a man has the right and obligation to look down
at another man, only when that man needs help to get up from the
ground.

...


Farewell letter (below, maybe you should read it first) has a very strong and inspiring message.This video (they say the message was a hoax which travelled the world as belonging to Gabo) is dedicated to the people in my life that I love, my husband, my son and my friends, and to those that I love and only live in my heart now.

A youtube friend told me that it was written by Johnny Welch
http://webalia.com/EP/pensar/reconoci...


Source: http://www.youtube.com/watch?v=YaIiTp2lDlk
Đọc tiếp →