Hiển thị các bài đăng có nhãn nguyenkhuyen. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nguyenkhuyen. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 5 tháng 9, 2010

Đọc Dịch

讀易

冬日爭如夏日長

南風還有北風涼
自為可口鴟嗔鳳
不盡機心雀捕螳
海宇若開新世界
民風應入古鴻荒
清晨獨起觀周易
消息盈虛未易詳

阮勸

Độc dịch


Đông nhật tranh như hạ nhật trường

Nam phong hoàn hữu bắc phong lương
Tự vi khả khẩu si sân phượng
Bất tận cơ tâm tước bộ đường
Hải vũ nhược khai tân thế giới
Dân phong ưng nhập cổ hồng hoang
Thanh thần độc khởi quan Chu Dịch
Tiêu tức doanh hư vị dị tường

Nguyễn Khuyến


Đọc Dịch

Ngày đông ngày hạ chẳng dài ngang
Chớm dứt gió nam gió bắc sang
Cú tức phượng hoàng mồi tưởng bở
Sẻ rình bọ ngựa họa không lường
Càn khôn dường đổi thay trần thế
Dân chúng dễ vào lại hỗn mang
Sớm dậy một mình xem sách Dịch
Đầy vơi suy thịnh dễ đâu tường

Leopard dịch
----------------------

(1) Cú gầm gè phượng hoàng: Sách Trang Tử: Chim uyên sồ là một loài phượng, ăn uống rất thanh. Một hôm, cú kiếm được con chuột thối, gặp khi uyên sồ bay qua, cú tưởng uyên sồ đến tranh của mình, ngửa lên mà gầm gè với uyên sồ. Câu này chê những kẻ chỉ bo bo giữ lấy cái mồi phú quý thối nát, tưởng những người cao thượng cũng ham muốn như mình.

(2) Chim sẻ vồ bọ ngựa: Sách Ngô Việt Xuân Thu có chép: con ve đậu dưới bóng mát, thích ý đang kêu. Một con bọ ngựa nấp sau rình bắt ve, lại có con chim sẻ rình bắt bọ ngựa. Một người nấp sau định bắn chim sẻ, người này vì chú ý đến chim quá, thành ra sa chân xuống hố. Câu này ý nói: để ý vào lợi trước mắt mà quên những mối nguy sau lưng.

(3) Hồng hoang: đời thượng cổ khi mới có loài người.

(4) Chu Dịch: tức Kinh Dịch.

(5) Đầy, vơi, suy, thịnh: theo triết lý của Kinh Dịch thì lẽ trời đất có khi lớn lên, khi tiêu đi, khi thịnh, khi suy.

Nguồn: Thơ Văn Nguyễn Khuyến, NXB Văn học, 1971.

* Chú giải lấy tại trang sau: http://www.thivien.net/viewpoem.php?ID=39676
Đọc tiếp →

Thứ Sáu, 30 tháng 7, 2010

Sơn trà



山茶

春來客贈我山茶
醉裏曚曨不辨花
白髮蒼顏吾老矣
紅袍金帶子真耶
尋常細雨驚穿葉
蕭瑟晨風怨落茄
近日相看惟以鼻
了無香氣一呵呵

阮勸


Sơn trà

Xuân lai khách tặng ngã sơn trà
Tuý lý mông lung bất biện hoa
Bạch phát thương nhan ngô lão hĩ
Hồng bào kim đái tử chân da
Tầm thường tế vũ kinh xuyên diệp
Tiêu sắt thần phong oán lạc già
Cận nhật tương khan duy dĩ tỵ
Liễu vô hương khí nhất kha kha

Nguyễn Khuyến

Sơn trà

Xuân tới có người gởi tặng hoa
Đương say ta chẳng biết sơn trà
Mặt xanh tóc trắng ta già vậy
Đai bạc áo hồng bác đấy a
Mưa nhỏ tầm thường e xỏ lá
Gió mai hiu hắt ngại rơi hoa
Buổi nay nhìn ngắm duy nhờ mũi
Đếch thấy hơi hương một tiếng khà

Pang De dịch dật.


-------------------------
(1) Sơn trà: loại hoa có sắc mà không có mùi hương.

(2) Xuyên lá: dịch sát chữ “xuyên diệp 穿葉”. Tiếng Việt có thành ngữ “xỏ lá” để chỉ những hành động thâm hiểm, đểu cáng. Tác giả đưa thành ngữ Việt này vào thơ Hán thành “xuyên diệp” với hàm ý đả kích kẻ đã chơi trò “xỏ lá” tặng cây trà.

(3) Rụng đài hoa: dịch sát chữ “lạc già 落茄”. Đây tác giả cũng có ngụ ý chơi chữ, thể hiện rõ trong bài tự dịch nôm thành “rơi già” (đồng âm với dơi già, con dơi già).

Xem thêm bài "Tạ lại người cho hoa trà" (Tác giả tự dịch bài "Sơn trà") phần thơ Nôm.

Trong cuốn sách "Chu Mạnh Trinh - Thơ và giai thoại", NXB VHTT, 2000, tác giả Lê Văn Ba đã đưa ra những cứ liệu thuyết phục để khẳng định rằng Chu Mạnh Trinh không phải là người tặng hoa trà cho Nguyễn Khuyến.

Nguồn:
1. Thơ Văn Nguyễn Khuyến, Nhà xuất bản Văn học, 1971.
2. Nguyễn Khuyến - Tác phẩm, Nguyễn Văn Huyền biên khảo, NXB KHXH, 1984.
3. Trần Văn Nhĩ, Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến, NXB Văn Nghệ, 2005.
-----------------------------
* Bản tự dịch của Tam nguyên Yên Đổ:

Tết đến người cho một chậu trà,
Đương say ta chẳng biết rằng hoa.
Da mồi, tóc bạc ta già nhỉ,
Áo tía đai vàng bác đó a?
Mưa nhỏ những kinh phường xỏ lá,
Gió to luống sợ lúc rơi già.
Xem hoa, ta chỉ xem bằng mũi,
Đếch thấy hơi hương một tiếng khà.

------------------------------------------

* Nguồn: http://www.thivien.net/viewpoem.php?ID=39407
Đọc tiếp →

Thứ Năm, 8 tháng 7, 2010

Tiếng dế đêm thu

秋夜蛩聲

一天星斗夜沉沉,
乍頂聲聲思不禁。
隔竹高低敲丙枕,
和霜斷續瀉滄音。
愁侵角戍三更月,
喚起鄉閨萬里心。
銷鐵橫秋男子操,
丁寧莫使入人深。

Thu dạ cùng thanh

Nhất thiên tinh đẩu dạ trầm trầm,
Sạ đính thanh thanh tứ bất câm.
Cách trúc cao đê xao bính chẩm,
Hoà sương đoạn tục tả thương âm.
Sầu xâm giác thú tam canh nguyệt,
Hoán khởi hương khuê vạn lý tâm.
Tiêu thiết hoành thu nam tử tháo,
Đinh ninh mạc sử nhập nhân thâm.

Nguyễn Khuyến

Tiếng dế đêm thu

Một trời Tinh Đẩu thẳm đêm trường
Vẳng tiếng râm ran dạ khó ngưng
Cách trúc nhỏ to lay gối muộn
Hòa sương đứt nối rót âm thương
Canh ba đồn ải buồn tiếng ốc
Dặm vạn phòng khuê khổ bóng hường
Hoành giáo suốt thu noi tiết tháo
Đinh ninh chẳng để ngấm sâu lòng

Leopard dịch


=============================================
Bản dịch nghĩa:

Một trời sao Tinh sao Đẩu, đêm sâu thăm thẳm
Bỗng đến tiếng râm ran, lòng dạ khó im
Cách trúc tiếng to nhỏ gõ lay gối muộn
Hòa sương tiếng đứt nối tuôn chảy âm thanh của mùa thu
Sầu lan vào tiếng ốc nơi đồn thú, trăng lúc canh ba
Tiếng khơi âm hưởng chốn phòng khuê, tâm tình xa vạn dặm
Mùa thu hoành cây giáo sắt, cái tiết tháo của nam nhi (*)
Đinh ninh không để (tiếng dế) thấm sâu vào người


* Thương âm 滄音: "thương" chỉ tên âm giai trong ngũ âm nhạc cổ, cũng hiểu là thuộc về mùa thu.

* "Bính chẩm 丙枕: "bính" chỉ thời khắc lúc nửa đêm, giống như "bính dạ" 丙夜 là lúc nửa đêm hay canh ba. "Bính" cũng có nghĩa là thuộc về lửa...

* Kiến giải của TĐVH về câu "Tiêu thiết hoành thu nam tử tháo":
(trích đoạn)

"Gửi chú Leopard đẹp giai...

...

Khi mới đọc bài "Thu dạ cùng thanh" của cụ Nguyễn Khuyến, anh cũng thấy có nhiều chỗ lờ mờ, chưa hiểu rõ lắm, cảm giác giống hệt chú. Sau khi tìm hiểu nghĩa lý từng chữ, từng câu của bài thơ này, anh xin đưa ra một vài suy nghĩ của riêng mình, có thể gọi là thiển ý như sau:

1. Đúng như chú đã phân vân về chữ tiêu 銷 (tiêu tan, mất mát) mà Vanachi đã chép sai, chữ đúng phải là 鏢 , nghĩa là cái vỏ đao có bịt đồng, nhưng "tiêu thiết" thì vẫn khó hiểu. Không lẽ là sắt làm bằng vỏ đao có bịt đồng? May mà học giả Nguyễn Văn Huyền đã chú rằng "tiêu thiết" là đảo ngữ của "thiết tiêu" cho hợp luật bằng trắc. Ông còn chua thêm: Tiêu là một loại vũ khí giống như giáo, lao (trong các từ điển cổ Hán văn mà anh có, "Tiêu" chỉ có nghĩa là vỏ đao có bịt đồng). Dù sao cũng không quá quan trọng là đao sắt hay giáo sắt. Chúng ta hiểu "Tiêu thiết" ám chỉ một loại vũ khí làm bằng sắt. Người xưa cũng có cái khó là đôi khi dùng chữ cũng chỉ cốt lấy cái ý cho hợp bằng trắc, số chữ cân đối, chưa kể là phải đảo ngữ như Nguyễn Văn Huyền đã giải thích. Chẳng hạn "bôi tửu" trong bài "Đề Lưu Quan Trương đào viên kết nghĩa xứ" của Nguyễn Đề, nếu hiểu là danh từ thì hơi có vấn đề, ở đây cũng là đảo ngữ cho hợp vận mà thôi hoặc có thể hiểu "bôi" làm động từ là "nâng chén".

2. Chữ hoành 橫 làm động từ nghĩa là “cầm ngang” như "hoành đao" 橫刀 là cầm ngang dao. Tháo 操 là chí (tiết tháo). "Nam tử tháo" là cái chí khí của kẻ nam nhi. Cả câu là một cụm danh từ (Noun phrase). Dịch nghĩa bắt đầu từ "nam tử tháo" cho đến "thu" rồi đến "hoành" và cuối cùng là "tiêu thiết". Có thể hiểu là: Cái chí của kẻ nam nhi là phải, mùa thu cầm ngang ngọn giáo.

3. Bây giờ anh trình bày cách hiểu của mình về hai câu:

愁侵角戍三更月,
喚起鄉閨萬里心。
Sầu xâm giác thú tam canh nguyệt,
Hoán khởi hương khuê vạn lý tâm.

Để hiểu cho thấu đáo, anh nghĩ chúng ta phải hiểu bối cảnh của bài thơ. Anh thì hiểu rằng, bài thơ này miêu tả tâm trạng của người lính nơi đồn trại xa nhà. Vì vậy anh lý giải thế này:

a) 戍三更月 là cụm danh từ, tức là “Trăng canh ba ở nơi biên thú đồn tại”. "Sầu xâm" là nỗi buồn xâm lấn, át đi. Giác 角 là tiếng “Tù và” báo “canh” nơi đồn trại. Vậy cả câu: 愁侵角戍三更月, anh hiểu là: Nỗi sầu át đi tiếng tù và (vào lúc) trăng canh ba nơi đồn trú.

b) 閨萬里心 là cụm danh từ, tức là “Nỗi lòng xa vạn dặm của người thiếu phụ chốn phòng khuê”, cũng tức là "Nỗi lòng của người thiếu phụ ngóng chồng nơi vạn dặm". Chữ hương 鄉, anh nghĩ phải đọc là hưởng (tất nhiên trong bài đọc là hương cho hợp vận) tức là "âm hưởng dội lại". Cụm "Hoán khởi" thì rất rõ ràng là "khơi dậy, khơi gợi". Tóm lại theo anh: "Hoán khởi hương khuê vạn lý tâm" phải hiểu là "Khơi gợi tiếng (âm hưởng của nỗi) lòng nơi vạn dặm của người khuê phụ". Người chồng trong cảnh cô đơn, buồn bã nơi biên thú đã hình dung vợ mình nơi xa ngàn dặm cũng đang ngóng mình, sầu nhớ đến mình và hình dung ra rằng tiếng lòng người vợ đang vọng đến nơi biên thú mà mình đi lính. Ở đây, người chồng nhớ vợ nhưng cũng chính là nói về nỗi nhớ của người vợ (chinh phụ) có chồng (chinh phu) đi lính. Nói đến đây, anh lại nhớ đến bài Khuê oán của Vương Xương Linh, Nạn hữu xuy địch của Bác Hồ. Thật là ý vị thiết tha. Lời giản mà ý sâu. Khó lòng mà tả xiết!

c) Đây là một bài thơ hay, giàu phong vị cổ điển. Cụ Nguyễn Khuyến tài thật!

..."
Đọc tiếp →

Chủ Nhật, 4 tháng 7, 2010

Vịnh hoa cúc kỳ I



詠菊其一

春前桃李漫紛紛,
垢葉蒼莖了不聞。
苦節若為安素分,
窮秋然後見清芬。
暗憐老圃應如是,
獨立西風孰與群。
高潔貞心非易得,
陶潛歸去始知君。

Vịnh cúc kỳ nhất

Xuân tiền đào lý mạn phân phân,
Cấu diệp thương hành liễu bất văn.
Khổ tiết nhược vi an tố phận,
Cùng thu nhiên hậu kiến thanh phân.
Ám liên lão phố ưng như thị,
Độc lập tây phong thục dữ quần.
Cao khiết trinh tâm phi dị đắc,
Đào tiềm quy khứ thuỷ tri quân.

Nguyễn Khuyến

Vịnh hoa cúc kỳ I

Trước xuân đào mận rộn ràng tươi
Lá cáu cành non vẫn lặng hơi
Thì phải thời gay yên phận sạch
Rồi ra thu tận tỏ hương ngời
Thương thầm vườn úa nên như vậy
Đứng giữa gió tây mới biết ai
Cao khiết lòng trinh đâu dễ kiếm
Đào Tiềm quy ẩn mới hay người

Leopard dịch.
==============================

* ưng như thị 應如是: nên như vậy, như thế.
* thục dữ quần 孰與群: sánh với quần hoa
* thủy tri quân 始知君: mới biết người quân tử.
Đọc tiếp →