Chủ Nhật, 4 tháng 7, 2010

Vịnh hoa cúc kỳ I



詠菊其一

春前桃李漫紛紛,
垢葉蒼莖了不聞。
苦節若為安素分,
窮秋然後見清芬。
暗憐老圃應如是,
獨立西風孰與群。
高潔貞心非易得,
陶潛歸去始知君。

Vịnh cúc kỳ nhất

Xuân tiền đào lý mạn phân phân,
Cấu diệp thương hành liễu bất văn.
Khổ tiết nhược vi an tố phận,
Cùng thu nhiên hậu kiến thanh phân.
Ám liên lão phố ưng như thị,
Độc lập tây phong thục dữ quần.
Cao khiết trinh tâm phi dị đắc,
Đào tiềm quy khứ thuỷ tri quân.

Nguyễn Khuyến

Vịnh hoa cúc kỳ I

Trước xuân đào mận rộn ràng tươi
Lá cáu cành non vẫn lặng hơi
Thì phải thời gay yên phận sạch
Rồi ra thu tận tỏ hương ngời
Thương thầm vườn úa nên như vậy
Đứng giữa gió tây mới biết ai
Cao khiết lòng trinh đâu dễ kiếm
Đào Tiềm quy ẩn mới hay người

Leopard dịch.
==============================

* ưng như thị 應如是: nên như vậy, như thế.
* thục dữ quần 孰與群: sánh với quần hoa
* thủy tri quân 始知君: mới biết người quân tử.

Không có nhận xét nào: