Thứ Ba, 31 tháng 8, 2010
Cảm xúc kể lại
重章掉尾舊依官
日與豺狼處此間
我國山河蠶食去
誰家門戶燕飛還
暑牛月喘南郊暑
胡馬風嘶北地寒
物類且能知水土
處堂燕雀獨安閒
阮春溫
Cảm thuật
Trùng chương điêu vĩ cựu y quan
Nhật dữ sài lang xử thử gian
Ngã quốc sơn hà tàm thực khứ
Thùy gia môn hộ yến phi hoàn
Ngô ngưu nguyệt suyễn Nam giao thử
Hồ mã phong tê Bắc địa hàn
Vật loại thả năng tri thủy thổ
Xử đường yến tước độc an nhàn
Nguyễn Xuân Ôn
Cảm xúc kể lại
Áo còn vẻ phượng mũ đuôi điêu
Giao kết sài lang sớm tới chiều
Nước đấy núi sông tằm gậm mất
Nhà ai cổng ốc én bay đều
Thấy trăng ngờ nắng trâu Nam thở
Gặp gió tưởng đông ngựa Bắc kêu
Loài vật cũng còn hay thủy thổ
Lầu cao én sẻ mới nhàn nhiều
Leopard dịch.
-----------------------------
* Nguyễn Xuân Ôn (1825 – 1889), hiệu Ngọc Đường, Hiến Đình, Lương Giang, nhân dân thường gọi ông là Nghè Ôn; là quan nhà Nguyễn và là thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nghệ - Tĩnh (Việt Nam) hồi cuối thế kỷ 19.
http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Xu%C3%A2n_%C3%94n
* Trùng chương điêu vĩ:
http://chimviet.free.fr/34/chqyn_quanche02.htm
* Lược trích các chú giải từ trang Thivien.net:
http://www.thivien.net/viewpoem.php?ID=39760
Nguồn: Nguyễn Đức Vân – Hà Văn Đại, Thơ văn Nguyễn Xuân Ôn (In lần 2), NXB Văn học, 1977)
01. Thùy gia môn hộ yến phi hoàn:
Thơ xưa có câu: "Cựu thời Vương, Tạ đình tiền yến; Cánh bạng thuỳ gia môn hộ phi?" (Những con chim yến ở trước sân nhà họ Vương, họ Tạ là các quý tộc đời Tấn ngày xưa, lại dựa vào nhà ai mà bay?)
[Leopard viết:
Lưu Vũ Tích có bài thơ Ô Y hạng như sau:
烏衣巷
朱雀橋邊野草花
烏衣巷口夕陽斜
舊時王謝堂前燕
飛入尋常百姓家
Ô Y hạng
Chu Tước kiều biên dã thảo hoa
Ô Y hạng khẩu tịch dương tà
Cựu thời Vương Tạ đường tiền yến
Phi nhập tầm thường bách tính gia ]
02. Ngô ngưu nguyệt suyễn - Hồ mã phong tê:
Mãn Phấn đời nhà Tấn nói: "Trâu đất Ngô, vì ở xứ nắng, thường thở mạnh, khi nó thấy trăng mọc, sợ là mặt trời nên cũng thở."
Cổ thi có câu: "Hồ mã tê Bắc phong" (Ngựa Hồ thấy gió Bắc thì hí, vì nó ở xứ rét quen).
03. Yến tước độc an nhàn:
Đời Chiến quốc, nước Tần đánh nước Triệu, vua tôi nước Ngụy không lo gì. Khổng Tử Thuận nói: Triệu mất thì Nguỵ bị tai vạ đến nơi, cũng như chim én chim sẻ ở trong nhà, không biết nhà sắp bị cháy. [?] Đọc tiếp →
Thứ Bảy, 28 tháng 8, 2010
Diễn ngôn/ngôn từ, hành động/hành vi?

When it was announced that Octavio Paz was awarded the Nobel Prize in Literature (October 11, 1990), the Press Release quoted Paz's view of poetry: "Between what I see and what I say, / between what I say and what I keep silent, / between what I keep silent and what I dream, / between what I dream and what I forget: / poetry." I was overwhelmed by these words and headed immediately to the library to find the entire poem. When I discovered it in Paz's book of poems A Tree Within, I typed it out and read it over and over again. When I taught kids in the California-Poets-in-th-Schools program, my first workshop handout was "What Is Poetry?" I'd include Paz's poem along with the vision of poetry by Shakespeare, Dante, Goethe, and Emily Dickinson. What I like about Paz's idea of poetry is that it is not fixed and quite elusive— between yes & no, between silence & speech, between what is & what is not. Isn't this the dilemma of Hamlet— "To be or not to be. That is the question." I love the closing of stanza 2— "Eyes close, / the words open." It echoes Emily Dickinson's Poem #1212— A word is dead / When it is said, / Some say. / I say it just / Begins to live / That day." Yes, how true! The poet's words never die on the page, but lives on in the hearts of its readers— opening our minds to new vistas of the universe. (Peter Y. Chou)
Between What I See and What I Say... (1976)
for Roman Jakobson
1
Between what I see and what I say,
Between what I say and what I keep silent,
Between what I keep silent and what I dream,
Between what I dream and what I forget:
poetry.
It slips
between yes and no,
says
what I keep silent,
keeps silent
what I say,
dreams
what I forget.
It is not speech:
it is an act.
It is an act
of speech.
Poetry
speaks and listens:
it is real.
And as soon as I say
it is real,
it vanishes.
Is it then more real?
2
Tangible idea,
intangible
word:
poetry
comes and goes
between what is
and what is not.
It weaves
and unweaves reflections.
Poetry
scatters eyes on a page,
scatters words on our eyes.
Eyes speak,
words look,
looks think.
To hear
thoughts,
see
what we say,
touch
the body of an idea.
Eyes close,
the words open.
— Octavio Paz (1914-1998),
"Between What I See and What I Say..."
A Tree Within, (Poems 1976-1987)
XXX
*Source: http://www.wisdomportal.com/PoetryAnthology/OctavioPaz-Anthology.html
---------------------------
Decir, Hacer - Octavio Paz
A Roman Jakobson
Entre lo que veo y digo,
Entre lo que digo y callo,
Entre lo que callo y sueño,
Entre lo que sueño y olvido
La poesía.
Se desliza entre el sí y el no:
dice
lo que callo,
calla
lo que digo,
sueña
lo que olvido.
No es un decir:
es un hacer.
Es un hacer
que es un decir.
La poesía
se dice y se oye:
es real.
Y apenas digo
es real,
se disipa.
¿Así es más real?
Idea palpable,
palabra
impalpable:
la poesía
va y viene
entre lo que es
y lo que no es.
Teje reflejos
y los desteje.
La poesía
siembra ojos en las páginas
siembra palabras en los ojos.
Los ojos hablan
las palabras miran,
las miradas piensan.
Oír
los pensamientos,
ver
lo que decimos
tocar
el cuerpo
de la idea.
Los ojos
se cierran
Las palabras se abren.
---------------------------------
* Act/action/deed/ behavior:
http://figureground.ca/2010/01/22/intentionality-and-action/
http://books.google.com.vn/books?id=0SWWAOazlRUC&pg=PA9&lpg=PA9&dq=%22difference+between+action+and+act%22&source=bl&ots=A_b7sAJiH0&sig=cnwKz-NKQBtZbJOKZRtnUx11JtA&hl=vi&ei=yZl6TLaOGs_JcaegmfIF&sa=X&oi=book_result&ct=result&resnum=1&ved=0CBQQ6AEwAA
* Talk/speech/discourse:
... Đọc tiếp →
Thứ Sáu, 27 tháng 8, 2010
Chiêu Quân ra ải

昭君出塞
南來程盡北來程
南北那堪悵別情
萬里漢天花有淚
百年胡地馬無聲
一段羅綺傷春老
幾曲琵琶素月明
分付君王安枕席
愁城一片是長城
蔡順
Chiêu Quân xuất tái
Nam lai trình tận Bắc lai trình
Nam Bắc na kham trướng biệt tình
Vạn lý Hán thiên hoa hữu lệ
Bách niên Hồ địa mã vô thanh
Nhất đoàn la ỷ thương xuân lão
Kỷ khúc tỳ bà tố nguyệt minh
Phân phó quân vương an chẩm tịch
Sầu thành nhất phiến thị trường thành
Thái Thuận
Chiêu Quân ra ải
Nam vừa dứt lối Bắc liền qua
Nam Bắc sao kham hận cách xa
Trời Hán nghìn trùng hoa có lệ
Đất Hồ muôn thủa ngựa không ra
Một manh tơ lụa thương xuân muộn
Mấy khúc tỳ bà kể ánh nga
Nhắn nhủ quân vương yên gối nệm
Thành sầu một phiến cũng thành xa
Pang De dịch.
* Vạn lý Hán thiên hoa hữu lệ/ Bách niên Hồ địa mã vô thanh: Vặn dặm trời Hán, hoa có lệ châu/ Trăm năm đất Hồ, ngựa không có tiếng kêu.
----------------------------------
01. Thái Thuận 蔡順 (1440-?) tự Nghĩa Hoà, hiệu Lục Khê, biệt hiệu Lữ Đường, sinh 1440. Đậu tiến sĩ 1475 (niên hiệu Hồng Đức thứ 6). Làm quan ở nội các viện triều Lê thánh Tôn hơn 20 năm, sau được bổ làm Tham Chính ở Hải Dương; sau nữa được đặc cách giữ chức phó nguyên suý hội Tao Đàn.
Tác phẩm còn lại: Lữ Đường Thi Di Cảo do con trai là Thái Khác và học trò là Đỗ chính Mô sưu tầm, biên soạn.
http://www.thivien.net/viewauthor.php?ID=501
02. "Ở đây hạnh thắm nên mai nhạt"
Theo Dương Quảng Hàm, năm 1306, vua Trần Anh Tông đem Huyền Trân Công chúa gả cho vua Chiêm Thành. Nhiều văn nhân bèn mượn việc vua nhà Hán gả Chiêu Quân cho chúa Hung Nô để chỉ trích việc ấy.
Vua dụ Vương Tường [1] để gả cho chúa Thuyền-vu
Hán Hồ vẫn muốn vẹn trăm đường,
Há trẫm riêng tây có phụ nường.
Bắc-quốc[2] tuy rằng ngoài dị-tục,
Vương-đình[3] song cũng một biên phương.
Ở đây hạnh thắm nên mai nhạt,
Về đấy sen tàn lỗi cỏ hương[4].
Hơn thiệt thôi đừng ai-oán nữa,
Bõ ngay áo gấm lại hoang lương.
Khuyết danh
[1]. Vương Tường tên là Chiêu-quân, cung nữ vua Hán Nguyên-đế, sau đem gả cho vua nước Hồ. Người nước Hồ gọi vua họ là Thiền vu 單 于
[2]. Bắc quốc: đây chỉ nước Hồ, ở phía bắc nước Tàu
[3]. Vương đình: đây chỉ chỗ vua Hồ ở
[4]. Câu 5, 6: ý nói: ở cung nhà Hán có nhiều người đẹp, nên Vương-Tường không được vua yêu; nhưng sang bên nước Hồ vì không có con gái đẹp thì Vương-Tường sẽ được chiều chuộng. «Lỗi 磊 » là nhô cao lên, trồi lên.
http://vi.wikisource.org/wiki/Vua_d%E1%BB%A5_V%C6%B0%C6%A1ng_T%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%91%E1%BB%83_g%E1%BA%A3_cho_ch%C3%BAa_Thuy%E1%BB%81n-vu
03. "Chim sa cá lặn": trầm ngư lạc nhạn 沉魚落雁.

Tây Thi nhạn lạc
Chiêu Quân trầm ngư
Điêu Thuyền bế nguyệt
Dương Ngọc Hoàn tu hoa
Xem thêm về: Triệu Cơ, Đát Kỉ, Bao Tự, Hạ Cơ, Triệu Phi Yến, Ngu Cơ, Võ Tắc Thiên, Trương Lệ Hoa, Trần Viên Viên, Tứ đại kì thư…
http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%A3o_lu%E1%BA%ADn:V%C6%B0%C6%A1ng_Chi%C3%AAu_Qu%C3%A2n
Đọc tiếp →
Thứ Tư, 25 tháng 8, 2010
Ngước trông

仰望 (天龍八部 2003)
謝雨欣
陽光下閃爍的那顆星
有了你我就能看得清
睜開眼睛我觸摸到光明
沒有你我寧願長眠不醒
只要有你在我的視線裡
我可以穿越於天地
仰望著你總是無法自已
吸進你呼出的氣才能維持住我的生命
脫離了母體就是為了找尋你
沒有你不想要我自己
在你懷裡成長在你懷裡死去
這就是我選擇的宿命
* Bính âm:
Yáng guāng xià shǎn shuò de nà kē xīng
Yǒu le nǐ wǒ jiù néng kàn de qīng
Zhēng kāi yǎn jīng wǒ chù mō dào guāng míng
Méi yǒu nǐ wǒ nìng yuàn cháng mián bù xǐng
Zhǐ yào yǒu nǐ zài wǒ de shì xiàn lǐ
Wǒ kě yǐ chuān yuè yú tiān dì
Yǎng wàng zhe nǐ zǒng shì wú fǎ zì yǐ
Xī jìn nǐ hū chū de qì cái néng wéi chí zhù wǒ de shēng mìng
Tuō lí le mǔ tǐ jiù shì wèi le zhǎo xún nǐ
Méi yǒu nǐ bù xiǎng yào wǒ zì jǐ
Zài nǐ huái lǐ chéng zhǎng zài nǐ huái lǐ sǐ qù
Zhè jiù shì wǒ xuǎn zé de sù mìng
* Hán Việt:
Ngưỡng vọng
Dương quang hạ, thiểm thước đích na khỏa tinh.
Hữu liễu nâm, ngã tựu năng khán đắc thanh.
Tĩnh khai nhãn tình, ngã xúc mô đáo quang minh.
Một hữu nâm, ngã ninh nguyện trường miên bất tỉnh.
Chỉ yếu hữu nâm tại ngã đích thị tuyến lý,
Ngã khả dĩ xuyên việt ư thiên địa.
Ngưỡng vọng trước nâm tổng thị vô pháp tự dĩ,
Hấp tiến nâm hô xuất đích khí tài năng duy trì trụ ngã đích sinh mệnh.
Thoát ly liễu mẫu thể tựu thị vi liễu trảo tầm nâm.
Một hữu nâm, bất tưởng yếu ngã tự kỷ.
Tại nâm hoài lí thành trưởng, tại nâm hoài lí tử khứ.
Giá tựu thị ngã tuyển trạch đích túc mệnh.
* Dịch nghĩa:
Dưới ánh trời, vì sao đó lấp lánh
Có anh rồi, em mới có thể nhìn thấy rõ ràng (khai sáng!)
Khai mở con mắt, em tiếp xúc với ánh sáng
Không có anh, em nguyện ngủ hoài không tỉnh lại.
Chỉ cốt có anh trong tầm mắt của em,
Em có thể băng qua khắp đất trời.
Ngước trông…
[còn nữa]
Đọc tiếp →
Chủ Nhật, 22 tháng 8, 2010
Làm tại ruộng vườn trong ngày xuân
屋上春鳩鳴
村邊杏花白
持斧伐遠揚
荷鋤覘泉脈
歸燕識故巢
舊人看新歷
臨觴忽不御
惆悵遠行客
王维
Xuân trung điền viên tác
Ốc thượng xuân cưu minh
Thôn biên hạnh hoa bạch
Trì phủ phạt viễn dương
Hà sừ chiêm tuyền mạch
Quy yến thức cố sào
Cựu nhân khán tân lịch
Lâm thương hốt bất ngự
Trù trướng viễn hành khách
Vương Duy
Làm tại ruộng vườn trong ngày xuân
Trên mái câu vang tiếng
Bên thôn hạnh trắng hoa
Cành dài rìu phát sạch
Mạch suối cuốc dò la
Tổ cũ én về nhận
Lịch nay người trước rà
Cầm ly chợt chẳng nhấp
Buồn nhớ khách đi xa
Pang De dịch.
--------------------------
* Bonus:
杏園
夜來微雨洗芳塵
公子驊騮步貼勻
莫怪杏園憔悴去
滿城多少插花人
杜牧
Hạnh viên
Dạ lai vi vũ tẩy phương trần
Công tử hoa lưu bộ thiếp quân
Mạc quái hạnh viên tiều tụy khứ
Mãn thành đa thiểu sáp hoa nhân
Đỗ Mục
Bản dịch của Đông A:
Mưa phùn tẩy sạch phấn đêm qua
Công tử thong dong tuấn mã ra
Đừng lạ hạnh viên tiều tụy bỏ
Đầy thành khôn xiết kẻ cài hoa
http://donga01.blogspot.com/2010/04/hoa-hanh.html
Bản dịch của Pang De:
Mưa nhỏ đêm qua tẩy bụi hương
Thiếu gia tuấn mã bước dềnh dang
Đừng kinh vườn hạnh tiêu điều hết
Bội kẻ cài hoa khắp phố phường

* Chú giải:
Phương trần 芳塵
(1). 指落花。 晋 庾阐 《 杨都赋》:“ 结芳尘於绮疏。” 南朝 宋 谢庄 《 月赋》:“ 緑苔生阁, 芳尘凝榭。” 唐 司空曙 《 送高胜重谒曹王》 诗:“ 想君登旧榭, 重喜扫芳尘。”《 乐府群玉 • 赵文宝<朝天子 • 送春>》:“ 堤上芳尘, 桥边飞絮, 树头红一片无。”
(1) .Chỉ lạc hoa。 Tấn dữu xiển 《dương đô phú》 : “kết phương trần ư khỉ sơ。” Nam Triều tống tạ trang 《nguyệt phú》 : “緑 đài sanh các,phương trần ngưng tạ。” Đường tư không thự 《tống cao thắng trọng yết tào vương》 thi: “tưởng quân đăng cựu tạ,trọng hỉ tảo phương trần。” 《Nhạc Phủ quần ngọc•triệu văn bảo <triều thiên tử•tống xuân >》 : “đê thượng phương trần,kiều biên phi nhứ,thụ đầu hồng nhất phiến vô。
[...]
http://www.zdic.net/cd/ci/7/ZdicE8Zdic8AZdicB336669.htm Đọc tiếp →
Thứ Tư, 18 tháng 8, 2010
My back pages
Crimson flames tied through my ears, throwing high and mighty traps
Countless fire and flaming road, using ideas as my maps.
"We'll meet on edges, soon," said I, proud ‘neath heated brow.
Ah, but I was so much older then, I'm younger than that now.
Half-wracked prejudice leaped forth, "Rip down all hate," I screamed.
Lies that life is black and white spoke from my skull, I dreamed.
Romantic facts of musketeers, foundation deep, somehow.
Ah, but I was so much older then, I'm younger than that now.
Girls' faces formed the forward path from phony jealousy
To memorizing politics of ancient history
Flung down by corpse evangelists, unthought of, though, somehow.
Ah, but I was so much older then, I'm younger than that now.
A self-ordained professor's tongue, too serious to fool
Spouted out that liberty is just equality in school
"Equality," I spoke the word as if a wedding vow
Ah, but I was so much older then, I'm younger than that now.
In a soldier's stance, I aimed my hand at the mongrel dogs who teach,
Fearing not I'd become my enemy in the instant that I preach.
My pathway led by confusion boats, mutiny from stern to bow.
Ah, but I was so much older then, I'm younger than that now.
My guard stood hard when abstract threats, too noble to neglect,
Deceived me into thinking I had something to protect.
Good and bad, I define these terms, quite clear, no doubt, somehow.
Ah, but I was so much older then, I'm younger than that now.
Bob Dylan
"... Tấm chắn của tôi đã vẫn cứng cáp khi những lời cảnh báo trừu tượng,
Quá cao nhã để bỏ qua,
Lừa tôi nghĩ rằng tôi có điều gì đó để bảo vệ.
Tốt và xấu, tôi định nghĩa những thuật ngữ này,
Khá rõ, không nghi ngờ, cách nào đó.
Chao ôi, nhưng tôi đã quá già hơn khi đó, bây giờ tôi trẻ hơn rồi."
-----------------
I was always embarrassed by the words sacred, glorious, and sacrifice and the expression in vain. We had heard them, sometimes standing in the rain almost out of earshot, so that only the shouted words came through and had read them, on proclamations that were slapped up by billposters over other proclamations, now for a long time, and I had seen nothing sacred, and the things that were glorious had no glory and the sacrifices were like the stockyards at Chicago if nothing was done with the meat except to bury it. There were many words that you could not stand to hear and finally only the names of places had dignity. Certain numbers were the same way and certain dates and these with the names of the places were all you could say and have them mean anything. Abstract words such as glory, honor, courage or hallow were obscene beside the concrete names of villages, the numbers of roads, the name of rivers, the numbers of regiments and the dates.
(Ernest Hemingway, In A Farewell to Arms)
"... Có nhiều ngôn từ mà bạn đã ko thể tiếp tục nghe nổi và sau hết chỉ tên gọi của nơi chốn là có phẩm giá. Những con số nhất định đã theo cùng một cách đó cùng với những ngày tháng nhất định, và những thứ này với tên gọi nơi chốn đã là tất cả những thứ bạn có thể nói tới và cho chúng ý nghĩa nào đó. Những ngôn từ trừu tượng như là vinh quang, danh dự, lòng can đảm, hay thiêng liêng đã là thô bỉ bên cạnh tên gọi cụ thể của làng mạc, số ghi đường xá, tên gọi sông ngòi, số ghi của các trung đoàn và ngày tháng."
Đọc tiếp →
Thứ Ba, 17 tháng 8, 2010
Go on
In my rearview
I watch you watching the twilight
Behind the telephone lines,
With nothing to prove or to assume,
Just thinking that your thoughts are different than mine.
In my rearview
I watch you.
I gave you your life, would you give me mine?
I see you slowly swim away
'Cause the light is leaving town
To a place that I can't be.
There's no apologies.
Just go on
Just go on.
There's still so many things
I wanna to say to you.
But go on
Just go on
We're bound by blood that's moving
from the moment that we started.
The moment that we started.
I see perfect little eyes
Watch the shadows of the clouds
And the surface of the ocean out the window of a plane.
I get nervous when I fly,
I'm used to walking with my feet.
Turbulence is like a sigh that I can't help but over think.
What is the purpose of my life
If it doesn't ever do.
With learning to let it go,
Live vicariously through.
You can do the same.
It's the least you can do,
'Cause it's a lonely little chain
If you don't add to it.
So go on
Just go on.
There's still so many things
I wanna say to you.
Go on
Just go on.
We're bound by blood and love
From the moment that we started.
Just go on
Just go on
There's still so many things
I wanna say to you
Just go on
...
Jack Johnson
---------------------------
"Turbulence is like a sigh that I can't help but over think": Sự náo động/bất ổn giống như cái/tiếng thở dài mà tôi không thể tránh được, trừ việc suy xét đến nó. Đọc tiếp →
Chủ Nhật, 15 tháng 8, 2010
Trả lời Bùi Địch

答裴迪
淼淼寒流廣
蒼蒼秋雨晦
君問終南山
心知白雲外
Đáp Bùi Địch
Miểu miểu hàn lưu quảng
Thương thương thu vũ hối
Quân vấn Chung Nam sơn
Tâm tri bạch vân ngoại
Vương Duy
Trả lời Bùi Địch
Mênh mang nước lạnh chảy dàn
Trời thu xanh thẳm mờ làn mưa bay
Núi Nam anh hỏi nào hay
Phía ngoài mây trắng tâm này biết thôi
Leopard dịch.
Đọc tiếp →
Thứ Bảy, 14 tháng 8, 2010
Người vượn
Apeman
The Kinks
I think I'm sophisticated
'Cos I'm living my life like a good homosapien,
But all around me everybody's multiplying
Till they're walking round like flies man.
So I'm no better than the animals sitting in their cages in the zoo man
'Cos compared to the flowers and the birds and the trees,
I am an ape man.
I think I'm so educated and I'm so civilized
'Cos I'm a strict vegetarian,
But with the over-population and inflation and starvation and the crazy politicians
I don't feel safe in this world no more
I don't want to die in a nuclear war
I want to sail away to a distant shore
and make like an ape man.
I'm an ape man, I'm an ape ape man, I'm an ape man,
I'm a King Kong man, I'm a voo-doo man, I'm an ape man,
'Cos compared to the sun that sits in the sky,
compared to the clouds as they roll by,
Compared to the bugs and the spiders and flies,
I am an ape man.
La la la…
In man's evolution he has created the cities and the motor traffic rumble,
but give me half a chance and I'd be taking off my clothes and living in the jungle,
'Cos the only time that I feel at ease
Is swinging up and down in a coconut tree.
Oh what a life of luxury
to be like an ape man.
I'm an ape, I'm an ape ape man, I'm an ape man,
I'm a King Kong man, I'm a voo-doo man, I'm an ape man,
I look out my window, but I can't see the sky
'Cos the air pollution is fogging up my eyes,
I want to get out of this city alive
And make like an ape man.
Come and love me, be my ape man girl,
And we will be so happy in my ape man world.
I'm an ape man, I'm an ape ape man, I'm an ape man,
I'm a King Kong man, I'm a voo-doo man, I'm an ape man.
I'll be your Tarzan, you'll be my Jane.
I'll keep you warm and you'll keep me sane,
and we'll sit in the trees and eat bananas all day
Just like an ape man.
I'm an ape man, I'm an ape ape man, I'm an ape man,
I'm a King Kong man, I'm a voo-doo man I'm an ape man.
I don't feel safe in this world no more,
I don't want to die in a nuclear war,
I want to sail away to a distant shore,
And make like an ape man.
Đọc tiếp →
Thứ Hai, 9 tháng 8, 2010
Không đề
Nỗi buồn thả dây cương
Tỉnh dậy ân hận mãi
Lỡ vướng ai trên đường
Lâm Huy Nhuận Đọc tiếp →
Áng trăng tỏ hộ tấm lòng em
Tình của em là thực, yêu của em là thực.
Ánh trăng tỏ hộ tấm lòng em.
Chàng hỏi, em yêu chàng có sâu, em yêu chàng được bao?
Tình của em không rời, yêu của em không đổi.
Ánh trăng tỏ hộ tấm lòng em.
Một chiếc hôn nhẹ nhàng thực đã làm xao động lòng em.
Một mảnh tình sâu kín khiến em tưởng nhớ tới lúc này.
Chàng hỏi, em yêu chàng có sâu, em yêu chàng được bao?
Chàng hãy nghĩ một chút, chàng hãy nhìn một chút.
Ánh trăng tỏ hộ tấm lòng em.
Pang De dịch dật.
--------------------------------------
* Bản Hán:
你问我爱你有多深 我爱你有几分
我的情也真 我的爱也真
月亮代表我的心
你问我爱你有多深 我爱你有几分
我的情不移 我的爱不变
月亮代表我的心
轻轻的一个吻 已经打动我的心
深深的一段情 教我思念到如今
你问我爱你有多深 我爱你有几分
你去想一想 你去看一看
月亮代表我的心
* Bản Hán Việt:
Nhĩ vấn ngã ái nhĩ hữu đa thâm, ngã ái nhĩ hữu kỉ phân?
Ngã đích tình dã chân, ngã đích ái dã chân.
Nguyệt lượng đại biểu ngã đích tâm.
Nhĩ vấn ngã ái nhĩ hữu đa thâm, ngã ái nhĩ hữu kỉ phân?
Ngã đích tình bất di, ngã đích ái bất biến.
Nguyệt lượng đại biểu ngã đích tâm.
Khinh khinh đích nhất cá vẫn dĩ kinh đả động ngã đích tâm.
Thâm thâm đích nhất đoạn tình giáo ngã tư niệm đáo như kim.
Nhĩ vấn ngã ái nhĩ hữu đa thâm, ngã ái nhĩ hữu kỉ phân?
Nhĩ khứ tưởng nhất tưởng, nhĩ khứ khán nhất khán.
Nguyệt lượng đại biểu ngã đích tâm.
Đọc tiếp →
Thứ Bảy, 7 tháng 8, 2010
Lời người xưa
Gặp cầu nên xuống ngựa
Qua sông chớ trước người
Đêm mưa phòng kẻ trộm
Gà gáy liệu cơ trời
Lê Quý Đôn Đọc tiếp →
Khúc ca người Việt
越人歌
今夕何夕兮,搴舟中流。
今日何日兮,得与王子同舟。
蒙羞被好兮,不訾诟耻。
心几烦而不绝兮,得知王子。
山有木兮木有枝,心悦君兮君不知
Việt nhân ca
Kim tịch hà tịch hề, khiên chu trung lưu.
Kim nhật hà nhật hề, đắc dữ vương tử đồng chu.
Mông tu bị háo hề, bất tử cấu sỉ.
Tâm kỷ phiền nhi bất tuyệt hề, đắc tri vương tử.
Sơn hữu mộc hề, mộc hữu chi; tâm duyệt quân hề, quân bất tri.
Yuè rén gē
Jīn xī hé xī xī, Qiān zhōu zhōng liú
Jīn rì hé rì xī, De yǔ wáng zǐ tóng zhōu
Méng xiū bèi hǎo xī, bù xián gòu chǐ
Xīn jǐ fán ér bù jué xī, dé zhī wáng zǐ
Shān yǒu mù xī mù yǒu zhī, xīn shuō jūn xī jūn bù zhī
Tạm dịch ra Việt ngữ:
Đêm nay đêm nào chừ, chèo thuyền giữa sông
Ngày này ngày nào chừ, cùng vương tử xuôi dòng.
Thẹn được chàng mến yêu chừ, nào chê phận thiếp long đong
Lòng rối ren mà chẳng dứt chừ, được gặp chàng vương tông
Non có cây chừ, cây có cành chừ; lòng yêu chàng chừ, chàng biết không?
http://www.viethoc.org/phorum/read.php?13,28483
---------------------------------
Thứ Năm, 5 tháng 8, 2010
Love minus zero
Người tôi yêu, nàng nói như im lặng,
Không lý tưởng hay thái quá nào,
Nàng không phải nói rằng nàng chung thủy,
Nhưng nàng chân thành, như lửa như băng.
Người ta mang tới những hoa hồng,
Và hứa hẹn hàng giờ qua,
Người tôi yêu, nàng cười vui như hoa,
Valentine không thể mua lấy nàng.
Tại bến xe và những quầy hàng,
Người ta trò chiện về thời cuộc,
Đọc sách, lặp lại những lời trích dẫn,
Vẽ lên những giải pháp trên tường.
Một vài người nhắc tới tương lai,
Người tôi yêu cất lời dịu dàng,
Nàng biết không có thành công nào cho bằng thất bại, (1)
Và thất bại không là thành công một tẹo nào.
Áo choàng và thập giá đu đưa, (2)
Các quý bà cùng thắp nến
Trong những nghi thức của các kỵ sĩ,
Đến cả tốt đen cũng phải thù hằn.
Những bức tượng làm bằng que diêm
Đổ sụp vào nhau,
Người tôi yêu chớp mắt, nàng không phiền lụy,
Nàng biết quá nhiều để phán xét, luận bàn.
Cây cầy rung lên lúc nửa đêm,
Tay bác sĩ làng quê dạo bước,
Cháu gái chủ nhà băng kiếm điều hoàn hảo,
Mong đợi mọi món quà từ các kẻ khôn ngoan.
Cơn gió rít vang như chiếc búa,
Đêm thổi tới lạnh và ẩm ướt,
Người tôi yêu, nàng như con quạ nào,
Đậu bên song nhà tôi cùng một cánh gãy rời.
--------------------
(1) Nguyên văn là "She knows there's no success like failure":
There's nothing like - used to say that a particular thing is very enjoyable:
There's nothing like a nice cup of tea!
http://www.ldoceonline.com/dictionary/like_1
(2) Nguyên văn là "The cloak and dagger dangles".
(3) Gúc linh tinh:
After my Zen teacher died, a fellow practitioner said to me, “Natalie, your writing succeeded. You didn’t follow the teachings. Everything Roshi taught us was about how to fail.”
http://myinneredge.wordpress.com/2008/01/22/no-glitter/
(4) Bất giác nhớ tới thơ của Tào Mạnh Đức:
Nguyệt minh tinh hi
Ô thước nam phi
Nhiễu thụ tam tạp
Vô chi khả y
Thứ Hai, 2 tháng 8, 2010
Chân dung làng văn
http://phanthanhvan.vnweblogs.com/post/8200/103070
8. Xuân Diệu

Hai đợt sóng dâng một khối hồng
Không làm trôi được chút phấn thông
Chao ơi ngói mới nhà không mới
Riêng còn chẳng có, có gì chung.
9. Tế Hanh

Quá tuổi hoa niên đã bạc đầu
Tình còn dang dở tận Hàng Châu
Khúc ca mới hát sao buồn thế
Hai nửa yêu thương một nửa sầu.
15. Hoài Thanh

Vị nghệ thuật nửa cuộc đời
Nửa đời sau lại vị người ngồi trên
Thi nhân còn một chút duyên
Lại vò cho nát lại lèn cho đau
Bình thơ tới thuở bạc đầu
Vẫn chưa thể tất nổi câu nhân tình
Giật mình mình lại thương mình
Tàn canh tỉnh rượu bóng hình cũng tan.
19. Xuân Quỳnh

Mải hái hoa dọc chiến hào
Bỏ quên chòi biếc lúc nào không hay
Thói quen cũng lạ lùng thay
Trồng cây táo lại mọc cây bạch đàn.
20. Phạm Tiến Duật

Trường sơn đông em đi hái măng
Trường sơn tây anh làm thơ cho lính
Đời có lúc bay lên vầng trăng
Lại rơi xuống chiếc xe không kính
Thế đấy! Giữa chiến trường
Nghe tiếng bom cũng mạnh!
23. Nguyễn Bính

Hai lần lỡ bước sang ngang
Thương con bướm đậu trên giàn mồng tơi
Trăm hoa thân rã cành rời
Thôi đành lấy đáy giếng thơi làm mồ.
35. Nam Cao

Anh còn đôi mắt ngây thơ
Sống mòn sao vẫn đợi chờ tương lai
Thương cho Thị Nở ngày nay
Kiếm không đủ rượu làm say Chí Phèo.
41. Xuân Thiều

"Đôi vai" thì gánh lập trường
Đôi tay sờ soạng con đường cuối thôn
Nghe anh kể chuyện đầu nguồn
Về nhà thấy mất cái hồn của em.
65. Nguyễn Xuân Sanh

Xưa thơ anh viết không người hiểu
"Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà"
Nay anh chưa viết người đã hiểu
Sắp sáng thì nghe có tiếng gà.
68. Phùng Quán

Hồn đã vượt Côn đảo
Thân xác ở trong lao
Bởi nghe lời mẹ dặn
Nên suốt đời lao đao.
75. Trần Mạnh Hảo

Ôi thằng Trần Mạnh Hảo
Đi phỏng vấn Chí Phèo
Lão chết từ tám hoánh
Đời mày vẫn gieo neo
Còn cái lão Bá Kiến
Đục bản in thơ mày
Bao giờ mày say rượu
Bao giờ mày ra tay.
76. Hoàng Cầm

Em ơi buồn làm chi
Em không buồn sao được
Quan họ đã vào hợp tác
Đông hồ gà lợn nuôi chung
Bên kia sông Đuống em trông
Tìm đâu thấy lá diêu bông hỡi chàng.
81. Tản Đà

Văn chương thuở ấy như bèo
Thương cụ gồng gánh trèo leo tận trời
Giấc mộng lớn đã bốc hơi
Giộc mộng con suốt một thời bơ vơ
Tiếc chi cụ sống tới giờ
Chợ trời nhan nhản tha hồ bán văn.
82. Lưu Quang Vũ

Cũng muốn tin vào hoa hồng
Tin vào điều không thể mất
Cả tôi và cả chúng ta
Đứng trong đầm lầy mà hát
Ông không phải là bố tôi
Con chim sâm cầm đã chết
Ông không phải là bố tôi
Con chim sâm cầm ai giết?
84. Minh Huệ

Vỡ lòng câu thơ viết
Mời bác ngủ bác ơi
Đêm nay bác không ngủ
Nhà thơ ngủ lâu rồi.
97. Phan Thị Thanh Nhàn

Dấu một chòm thơ trong chiếc khăn tay
Em hăm hở đi tìm người trao tặng
Những kẻ phong lưu, những tên du đãng
Mấy ai biết hương thầm của cô gái xóm đê.
100. Xuân Sách (Tự hoạ)

Cô giáo làng tôi đã chết rồi
Một đêm ra trận đất bom vùi
Xót xa đình Bảng người du kích
Đau đớn Bạch đằng lũ trẻ côi
Đường tới chiến công gân cốt mỏi
Lối vào lửa sởn tóc da mồi
Mặt trời ảm đạm quê hương cũ
Ở một cụm đường rách tả tơi.
-------------------------------------------
Trích từ tập thơ Tứ Tuyệt của Trần Mạnh Hảo, NXB Trẻ, 1995:
http://www.thivien.net/viewauthor.php?ID=248
Nhớ Nguyễn Tuân
Một mắt lư đồng, một mắt cua
Chém treo ngành ấy chém a dua
Sông Đà chảy nát tờ hoa cũ
Một đời ăn phở chẳng cần mua...
Nhớ Hàn Mặc Tử
Hàn sỹ mặc nhiên cõi tử sinh
Phong sương thôn Vĩ Dạ phong tình
Hồn thơ nằm sóng xoài dương thế
Đợi gái quê về thử tiết trinh.
Nhớ Ngô Tất Tố
Việc làng văn nghệ tắt đèn anh
Lều chõng mà chi lắm đoạn đành
May còn cụ cố nghìn muôn tuổi
Để làm nhà ngói hoá nhà tranh.
Nhớ Nam Cao
Chí ở đâu rồi phèo ở đây
Thị qua làm nở toét thời nay
Người nam cao quá nên trời thấp
Mòn chút tao thôi để sống mày.
Ấm lạnh

Ấm lạnh
Đêm nay là cái đêm gì nhỉ
Rét biến thành dây để trói tôi
Em kề bên hoa trước mặt
Ngày mai thương nhớ đã qua trời.
Hữu Thỉnh, Matxcơva, 1987. Đọc tiếp →
Bướm chết trong sách

芸窗曾幾染書香
謝卻風流未是狂
薄命有緣留簡籍
殘魂無淚哭文章
蠹魚易醒繁華夢
螢火難灰錦繡腸
聞道也應甘一死
淫書猶勝為花忙
Điệp tử thư trung
Vân song tằng kỷ nhiễm thư hương,
Tạ khước phong lưu vị thị cuồng.
Bạc mệnh hữu duyên lưu giản tịch,
Tàn hồn vô lệ khốc văn chương.
Đố ngư dị tỉnh phồn hoa mộng,
Huỳnh hoả nan hôi cẩm tú trường.
Văn đạo dã ưng cam nhất tử,
Dâm thư do thắng vị hoa mang.
Nguyễn Du
Bướm chết trong sách
Hương văn mấy độ nhiễm thư phòng
Từ bỏ phong lưu chẳng phải ngông
Mệnh bạc còn duyên lưu thẻ sách
Hồn tàn không lệ khóc văn chương
Đố ngư dễ tỉnh mơ đô hội
Đom đóm khó thiêu dạ lụa nhung
Nghe đạo mà nên ưng bụng chết
Sách văn mê mệt bỏ hoa không
Đố ngư: Con trùng chết giữa những trang sách có tên là đố ngư, nó không hẳn là con bướm, cũng không phải là con mọt. Nó là loại gián nhỏ không có cánh, có ba lông đuôi, thường sống trong những tủ sách, tủ quần áo. Ta thường gọi nó là con ba đuôi.
Văn đạo: Khổng Tử trong sách Luận Ngữ viết "Triêu văn đạo tịch tử khả hĩ", nghĩa là "Sáng nghe đuợc đạo lý, tối chết cũng hả lòng."
Dâm thư do thắng vị hoa mang: Mê mệt sách còn át cả (việc) bị hoa làm cho bận rộn.
Chim công múa

孔雀腑懷毒,
誤服不可醫。
外露文章體,
中藏殺罰機。
人誇容止善,
我惜羽毛奇。
鶴海亦會舞,
不與世人知。
Khổng tước vũ
Khổng tước phủ hoài độc
Ngộ phục bất khả y
Ngoại lộ văn chương thể
Trung tàng sát phạt ky
Nhân khoa dung chỉ thiện
Ngã tích vũ mao kỳ
Hạc hải diệc hội vũ
Bất dữ thế nhân tri
Hồng Sơn Liệp Hộ Nguyễn Du
Chim công múa
Không thuốc nào chữa được
Khi ngộ độc gan công
Vẻ đẹp lộ ngoài mã
Chất độc giấu trong lòng
Người thường khen cái dáng
Ta chỉ tiếc bộ lông
Hạc bể cũng biết múa
Không cho người đời trông
Nguyễn Thạch Giang dịch.
-----------------------------
Thêm bản dịch nghĩa:
Phủ chim công mang độc
Lỡ uống không thể chữa
Ngoài lộ hình dáng văn hoa
Trong giấu nhân giết chóc
Người khen dung mạo và cử chỉ tốt
Ta tiếc lông cánh hiếm có
Hạc bể cũng hội hè múa may
Nhưng không cho người trần xem


Đọc tiếp →
Chủ Nhật, 1 tháng 8, 2010
Trời sương

霜天
落月茫茫水上樓
曉霜如雨滿汀洲
半崖綠樹添黃葉
一夜青山盡白頭
雲暗不來衡麓雁
天寒獨倚楚江舟
嶺梅欲問花開未
极目風煙攪客愁
阮思僩
Sương thiên
Lạc nguyệt mang mang thuỷ thượng lâu
Hiểu sương như vũ mãn đinh châu
Bán nhai lục thụ thiêm hoàng diệp
Nhất dạ thanh sơn tận bạch đầu
Vân ám bất lai Hành lộc nhạn
Thiên hàn độc ỷ Sở giang châu
Lĩnh mai dục vấn hoa khai vị
Cực mục phong yên giảo khách sầu
Nguyễn Tư Giản
Trời sương
Trăng lặn lầu soi mặt nước mờ
Như mưa sương sớm phủ đầy bờ
Nửa đèo cây lá thêm vàng úa
Một tối non đầu hóa trắng phơ
Mây thẫm núi Hành không nhạn lại
Trời hàn sông Sở mỗi thuyền trơ
Muốn hay mai Lĩnh đà khai nụ
Hút mắt khói mây dạ bộn bừa
Pang De dịch.
-----------------------------
Nguyễn Tư Giản 阮思僩 (1823-1890) hiệu Thạch Nông 石農, Vân Lộc 雲麓, tự Tuân Thúc 洵叔, quê huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn (nay là huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh).
Hành lộc: chân núi Hành. Hành Dương, một dãy núi ở tỉnh Hồ Nam, trong đó ngọn núi Hồ Nhạn, tương truyền chim nhạn từ phương Bắc dời xuống phương Nam, đến đấy gặp mùa xuân thì bay trở lại, do đó thành tên núi. Câu này hàm ý nhớ nước nhà ở phương Nam.
Sở giang: sông Sở. Nước Sở nay là vùng Hồ Nam, Hồ Bắc
Lĩnh mai: Tức núi Đại Dũ Lĩnh (núi Đại Dũ), ở tỉnh Giang Tô (Trung Quốc). Trên núi Đại Dũ có cửa ải, phân cách hai tỉnh Giang Tô và Quảng Đông, cũng là ranh giới cũ giữa nước Nam Việt của Triệu Đà với Trung Quốc thời Tần - Hán. Núi Dũ Lĩnh là nơi có nhiều mai, khí hậu phía Nam và phía Bắc núi khác nhau, mai phía Nam nở hoa trước mai phía Bắc núi.
Nguồn:
1. Vân Lâm Nguyễn tộc - Lý triều hậu duệ, Hoàng giáp Nguyễn Tư Giản - Cuộc đời và thơ văn, Kỷ yếu hội thảo khoa học kỷ niệm 990 năm Thăng Long - Hà Nội và 110 năm ngày mất Hoàng Giáp Nguyễn Tư Giản, Trung tâm Văn hoá ngôn ngữ Đông Tây xuất bản, Hà Nội, 2001.
2. Phạm Thiều - Đào Phương Bình (chủ biên), Thơ đi sứ, Viện nghiên cứu Hán Nôm, NXB KHXH, Hà Nội, 1993.
http://www.thivien.net/viewpoem.php?ID=39363


