Hiển thị các bài đăng có nhãn vuongduy. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn vuongduy. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 22 tháng 8, 2010

Làm tại ruộng vườn trong ngày xuân

春中田園作

屋上春鳩鳴

村邊杏花白

持斧伐遠揚

荷鋤覘泉脈

歸燕識故巢

舊人看新歷

臨觴忽不御

惆悵遠行客


王维


Xuân trung điền viên tác


Ốc thượng xuân cưu minh

Thôn biên hạnh hoa bạch

Trì phủ phạt viễn dương

Hà sừ chiêm tuyền mạch
Quy yến thức cố sào

Cựu nhân khán tân lịch

Lâm thương hốt bất ngự

Trù trướng viễn hành khách

Vương Duy


Làm tại ruộng vườn trong ngày xuân


Trên mái câu vang tiếng

Bên thôn hạnh trắng hoa

Cành dài rìu phát sạch

Mạch suối cuốc dò la

Tổ cũ én về nhận

Lịch nay người trước rà

Cầm ly chợt chẳng nhấp

Buồn nhớ khách đi xa


Pang De dịch.

--------------------------

* Bonus:

杏園

夜來微雨洗芳塵 
公子驊騮步貼勻
莫怪杏園憔悴去 
滿城多少插花人

杜牧

Hạnh viên

Dạ lai vi vũ tẩy phương trần
Công tử hoa lưu bộ thiếp quân
Mạc quái hạnh viên tiều tụy khứ
Mãn thành đa thiểu sáp hoa nhân

Đỗ Mục

Bản dịch của Đông A:

Mưa phùn tẩy sạch phấn đêm qua
Công tử thong dong tuấn mã ra
Đừng lạ hạnh viên tiều tụy bỏ
Đầy thành khôn xiết kẻ cài hoa

http://donga01.blogspot.com/2010/04/hoa-hanh.html

Bản dịch của Pang De:

Mưa nhỏ đêm qua tẩy bụi hương
Thiếu gia tuấn mã bước dềnh dang
Đừng kinh vườn hạnh tiêu điều hết
Bội kẻ cài hoa khắp phố phường





* Chú giải:

Phương trần 芳塵

(1). 指落花。 晋 庾阐 《 杨都赋》:“ 结芳尘於绮疏。” 南朝 宋 谢庄 《 月赋》:“ 緑苔生阁, 芳尘凝榭。” 唐 司空曙 《 送高胜重谒曹王》 诗:“ 想君登旧榭, 重喜扫芳尘。”《 乐府群玉 • 赵文宝<朝天子 • 送春>》:“ 堤上芳尘, 桥边飞絮, 树头红一片无。”

(1) .Chỉ lạc hoa。 Tấn dữu xiển 《dương đô phú》 : “kết phương trần ư khỉ sơ。” Nam Triều tống tạ trang 《nguyệt phú》 : “緑 đài sanh các,phương trần ngưng tạ。” Đường tư không thự 《tống cao thắng trọng yết tào vương》 thi: “tưởng quân đăng cựu tạ,trọng hỉ tảo phương trần。” 《Nhạc Phủ quần ngọc•triệu văn bảo <triều thiên tử•tống xuân >》 : “đê thượng phương trần,kiều biên phi nhứ,thụ đầu hồng nhất phiến vô。

[...]

http://www.zdic.net/cd/ci/7/ZdicE8Zdic8AZdicB336669.htm
Đọc tiếp →

Chủ Nhật, 15 tháng 8, 2010

Trả lời Bùi Địch



答裴迪

淼淼寒流廣
蒼蒼秋雨晦
君問終南山
心知白雲外

Đáp Bùi Địch

Miểu miểu hàn lưu quảng
Thương thương thu vũ hối
Quân vấn Chung Nam sơn
Tâm tri bạch vân ngoại

Vương Duy

Trả lời Bùi Địch

Mênh mang nước lạnh chảy dàn
Trời thu xanh thẳm mờ làn mưa bay
Núi Nam anh hỏi nào hay
Phía ngoài mây trắng tâm này biết thôi

Leopard dịch.

Đọc tiếp →

Thứ Hai, 26 tháng 7, 2010

Khóc Ân Dao kỳ một



哭殷遙其一

送君返喪石樓山
松柏蒼蒼賓馭還
埋骨白雲長已矣
空餘流水向人間

Khốc Ân Dao kỳ nhất

Tống quân phản táng Thạch lâu san,
Tùng bách thương thương tân ngự hoàn.
Mai cốt bạch vân trường dĩ hĩ,
Không dư lưu thuỷ hướng nhân gian.

Vương Duy

Khóc Ân Dao kỳ một

Đưa anh lại núi Thạch Lâu vùi
Tùng bách xanh màu ngựa khách lui
Mây trắng chôn xương người đã tận
Trần còn dòng nước chảy về xuôi

Leopard dịch.

------------------------------------------
01. Thương thương:

* VôDanhKhách viết:

1. Xanh sẫm của cỏ như trong 蒼海 = thương hải = bể xanh
2. Xanh như trong 倉海 = thương hải = bể xanh.
3. Mông mênh như trong 滄海 = thương hải = bể khơi.

Có vài bài thơ Đường xài hai chữ 蒼海. Khách không tìm thấy bài nào xài chữ 倉海.

Có thể nói tất cả các bài thơ cửa Lý Thương Ẩn xài hai chữ 滄海 như trong bài: Cẩm Sắt, Yết Sơn, Diêu Lạc....

* Vi Nhất Tiếu viết:

Gốc chữ thương 倉, thêm bộ thảo thành thương 蒼, thêm bộ thủy thành 滄, đều trỏ vào màu xanh. Tuy nhiên màu xanh của chữ thương khác với màu xanh của chữ thanh 青. Thanh là màu xanh "cơ bản", xanh của ngũ hành, tượng cho Mộc ở phương Đông. Đông tà Hoàng Dược Sư là "thanh bào quái khách" chứ không phải "thương bào quái khách", chúa xuân theo gió Đông mà đến nên gọi là Thanh đế chứ không phải Thương đế.

Chữ thương 蒼 có bộ thảo nên dùng trỏ sắc xanh của cây cối, chiêu Thương tùng nghênh khách của Hoa Sơn chính là dùng chữ thương này. Ngoài ra còn dùng để trỏ màu sắc của bầu trời, trong bài tế hoa phù dung của Bảo Ngọc câu đầu tiên là 天何如是之蒼蒼兮 - Thiên hà như thị chi thương thương hề (trời kia sao xanh xanh quá vậy)...

Chữ thương 滄 có bộ thủy nên dùng để tả biển cả, còn có hàm ý bát ngát trùng khơi chứ không đơn giản là chỉ màu sắc. Ngoài ra do điển cố "thương hải biến vi tang điền" nên dùng chữ "thương hải" thường kín đáo bộc lộ tình cảm, mang màu sắc ưu tư trước những biến động của nhân gian.

Chữ thanh 清 có bộ thủy vào lại chuyển sang mang nghĩa là nước trong, là thanh sạch, giản dị, chứ không còn là màu xanh nữa, nên ít dùng để tả biển, có chăng hay dùng để tả trời (cõi thái thanh) hay gió (thanh phong minh nguyệt)...

Thương khung thần kiếm viết là 蒼穹神剑, chữ thương bộ thảo, còn chữ khung nghĩa là vòm, thương khung là cái vòm màu xanh >>> chỉ trời...

http://www.vietkiem.com/forums/index.php?showtopic=16363


* Thơ Đỗ Phủ:

Thiên thượng phù vân như bạch y
Tu du hốt biến vi thương cẩu

天上浮雲如白衣
斯須變幻為蒼狗

http://hi.baidu.com/%BC%AA%CB%FB%C9%F9/blog/item/dc5cce06a6ee3577020881b9.html

* Kiêm gia - Kinh thi:

Kiêm hà (gia) thương thương (蒼蒼), bạch lộ vi sương


02. Trường dĩ hĩ:

Đỗ Phủ có thơ là "Tồn giả thả thâu sinh, tử giả trường dĩ hỹ" (存者且偷生,死者長已矣). Nghĩa là "Kẻ còn sống qua ngày, kẻ chết thế là hết."

--------------------------------

* http://www.viethoc.org/
Đọc tiếp →