
楓橋夜泊
月落烏啼霜満天
江楓漁火対愁眠
姑蘇城外寒山寺
夜半鐘声到客船
張継
Phong Kiều dạ bạc
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.
Trương Kế
Đỗ thuyền đêm trên bến Phong Kiều
Sương đầy trời quạ kêu trăng lẩn
Đối giấc sầu cây bến lửa chài
Cô Tô thuyền khách đậu ngoài
Nửa đêm vọng tới chuông chùa Hàn San.
Leopard dịch.
===============================
Chữ đáo 到 : tạo bởi ghép chữ chí 至 (nghĩa) + đao刂(âm). Nghĩa nằm ở chữ “chí”: hình con chim chạm, đáp xuống đất…Đáo cho nghĩa của sự đến, đáp xuống đích, tới nơi, đạt được. Đến với chủ ý, không ngẫu nhiên. (Phật học: đáo bỉ ngạn: sang bờ bên kia, giác ngộ)
Giang phong: cây phong, hàng phong, mọc theo bờ sông, phong: (chiết tự: mộc + phong: cây uốn theo gió) cây phong Tàu, theo người sinh trưởng tại vùng này, cho biết tương tự như giống phong (maple) ở Ontario, Canada, nhưng nhỏ cây và nhỏ lá hơn.
Ngư hỏa: đèn (hay ánh đèn) của thuyền đánh cá trên sông.
http://chuyendaudau.blogspot.com/2009/03/tieng-chuong-chua-trong-phong-kieu-da.html

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét