Thứ Năm, 15 tháng 4, 2010

Sonnet I

As the opening sonnet of the sequence, this one obviously has especial importance. It appears to look both before and after, into the future and the past.. It sets the tone for the following group of so called 'procreation' sonnets 1-17. In addition, many of the compelling ideas of the later sonnets are first sketched out here - the youth's beauty, his vulnerability in the face of time's cruel processes, his potential for harm, to the world, and to himself, (perhaps also to his lovers), nature's beauty, which is dull in comparison to his, the threat of disease and cankers, the folly of being miserly, the need to see the world in a larger sense than through one's own restricted vision.

Như là son nét mở đầu theo trình tự, cái này dễ thấy có một tầm quan trọng đặc biệt. Nó xuất hiện để nhìn cả trước và sau, về tương lai và quá khứ... Nó đặt ra một giọng cho nhóm sau đấy cái gọi là các son nét 'sinh sôi' 1 -17. Thêm nữa, nhiều ý tưởng hấp dẫn của những bài son nét sau đó được phác hoạ đầu tiên từ đây - vẻ đẹp của người thanh niên, tính dễ tổn thương của khi đối diện với những quá trình tàn nhẫn của thời gian, tiềm lực của anh ta để gây hại tới thế giới và tới chính anh ta, (có lẽ cũng tới những người yêu của anh), vẻ đẹp của tự nhiên mà là buồn tẻ trong sự so sánh với vẻ đẹp của anh, sự đe doạ của bệnh tật và lở loét, sự điên rồ của những hiện hữu bủn xỉn, nhu cầu để thấy thế giới trong một ý nghĩa rộng hơn cái nhìn giới hạn của một người.

'Fair youth, be not churlish, be not self-centred, but go forth and fill the world with images of yourself, with heirs to replace you. Because of your beauty you owe the world a recompense, which now you are devouring as if you were an enemy to yourself. Take pity on the world, and do not, in utter selfish miserliness, allow yourself to become a perverted and self destructive object who eats up his own posterity'.

Tuổi trẻ đúng đắn, không hạ đẳng, không xem mình là trung tâm mà tiến lên và làm đầy thế giới bằng những hình ảnh của chính bạn, bằng những người kế tục thay thế bạn. Bởi vẻ đẹp của bạn, bạn nợ thế giới một báo đền, thứ lúc này bạn đang ngấu nghiến như thể bạn là kẻ thù của chính mình. Hãy thương tiếc thế giới và đừng bằng sự keo kiệt ích kỉ tuyệt đối mà cho phép mình trở thành một đối tượng lầm lạc và tự huỷ hoại, kẻ ngốn hết cả hậu thế của riêng mình.

I

1. From fairest creatures we desire increase,
Ta khao khát sự sinh sôi từ những tạo vật đẹp đẽ nhất

2. That thereby beauty's rose might never die,
Mà theo đó bông hồng của cái đẹp có lẽ không bao giờ chết

3. But as the riper should by time decease,
Nhưng như kẻ chín muồi sẽ đúng thời điểm chết đi

4. His tender heir might bear his memory:
Kẻ thừa kế trẻ trung của hắn có lẽ mang ký ức của hắn:

5. But thou contracted to thine own bright eyes,
Nhưng ngươi giao ước với đôi mắt đẹp của riêng ngươi,

6. Feed'st thy light's flame with self-substantial fuel,
Hãy nuôi sống ngọn lửa ánh sáng của ngươi bằng nhiên liệu tự thực thể ngươi

7. Making a famine where abundance lies,
Và làm ra một sự khan hiếm ở nơi vốn dồi dào

8. Thy self thy foe, to thy sweet self too cruel:
Cái tôi của ngươi kẻ thù của ngươi, quá tàn nhẫn với cái tôi tươi trẻ của ngươi

9. Thou that art now the world's fresh ornament,
Ngươi giờ là vật trang hoàng tươi mới của thế giới

10. And only herald to the gaudy spring,
Và sứ giả duy nhất về mùa xuân sặc sỡ

11. Within thine own bud buriest thy content,
Ở trong mầm sống riêng của ngươi chôn bản thể của ngươi

12. And, tender churl, mak'st waste in niggarding:
Và, kẻ quê mùa đáng yêu, hãy lãng phí một cách dè xẻn

13. Pity the world, or else this glutton be,
Nuối tiếc thế giới, hoặc là thành kẻ háu ăn

14. To eat the world's due, by the grave and thee.
Để ăn quyền lợi của thế giới, bằng nấm mộ và ngươi.



3. riper = older, more mature, (person, plant, thing) more ready for harvesting.

8. Thy self thy foe = being an enemy to yourself.

11. content = substance. Also, probably, pleasure. GBE suggests that content also = semen, and probably there is here a secondary meaning of masturbation, self-pleasure, as opposed to the pleasure of procreation. SB mentions that Shakespeare exploits the possibility that rosebuds were phallic in appearance. (p.324. note to 12-13). Content(s) even today has the double meaning of a) happiness, pleasure, and b) that which is contained in something.

12. tender churl - probably a phrase indicating affection, rather than criticism, rather like 'silly fool', or 'yer daft idiot'. The context makes all the difference to such forms, which spoken angrily can be insulting, spoken tenderly are terms of endearment. churl countryman, rustic;

14. by the grave and thee. Presumably, a duty owed to the world because the grave is all devouring, and therefore to be fought; and a duty owed also to yourself, because it is in the nature of things that beauty should procreate, otherwise 'three score years will bear the world away', and so on. You purpose to be such a glutton as to consume both what the world and you yourself should have as a right. The construction is not noticeably opaque until one starts to analyse it.

* http://www.shakespeares-sonnets.com/icomm.htm
Đọc tiếp →

Thương thiên như viên cái

Thương thiên như viên cái

Thương thiên như viên cái
Lục địa như kỳ cục
Thế nhân hắc bạch phân
Vãng lai tranh vinh nhục
Bần giả tự an an
Phú giả tự lạc lạc
Nam Dương hữu ẩn thổ
Cao miên ngoạ bất túc

Gia Cát Lượng

Trời xanh như lọng tròn

Đất phẳng bằng như bàn cờ tướng
Trời xanh tròn những tưởng ô giương
Người đời đen trắng đôi phường
Kẻ qua người lại tranh đường nhục vinh
Kẻ nghèo hèn lo mình yên ổn
Người giàu sang mải cuộc hoan ca
Nam Dương ẩn sĩ dựng nhà
Kê cao gối ngủ giấc chưa đã đầy

Leopard dịch.

-------------------------

蒼天如圓蓋

蒼天如圓蓋
陸地如棋局
世人黑白分
往來爭榮辱
貧者自安安
富者自樂樂
南陽有隱土
高眠臥不足

諸葛亮

南陽有隱土/高眠臥不足: Nam Dương có đất ẩn cư/ Ngủ nhiều, nằm mãi không thấy đủ.

Đọc tiếp →

Hành Phương Nam

Hành Phương Nam

Gửi Văn Viễn

Đôi ta lưu lạc phương Nam này
Trải mấy mùa qua én nhạn bay
Xuân đến khắp trời hoa rượu nở
Mà ta với ngươi buồn vậy thay

Lòng đắng sá gì muôn hớp rượu
Mà không uống cạn mà không say
Lời thề buổi ấy cầu Tư Mã
áo khinh cừu chưa ai may

Ngươi giam chí lớn vòng cơm áo
Ta trói thân vào nợ nước mây
Ai biết thương nhau từ buổi trước
Bây giờ gặp nhau trong phút giây

Nợ tình chưa trả tròn một món
Sòng đời thua đến trắng hai tay
Quê nhà xa lắc xa lơ đó
Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay

Tâm giao mấy kẻ thì phương Bắc
Ly tán vì cơn gió bụi này
Người ơi buồn lắm mà không khóc
Mà vẫn cười qua chén rượu đầy

Vẫn dám tiêu hoang cho đến hết
Ngày mai ra sao rồi hẵng hay
Ngày mai xán lạn màu non nước
Cốt nhất cười vui trọn tối nay

Rẫy ruồng châu ngọc, thù son phấn
Mắt đỏ lên rồi biết tỉnh say
Hỡi ơi Nhiếp Chính mà băm mặt
Giữa chợ ai người khóc nhận thây

Kinh Kha giữa chợ sầu nghiêng chén
Ai kẻ dâng vàng, kẻ biếu tay?
Mơ gì ấp Tiết thiêu văn tự
Giày cỏ gươm cùn ta đi đây

Ta đi nhưng biết về đâu chứ?
Đã dấy phong yên lộng bốn trời
Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ
Uống say mà gọi thế nhân ơi!

Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ
Ta với nhà ngươi cả tiếng cười
Dằn chén hất cao đầu cỏ dại,
Hát rằng phương Nam ta với ngươi.

Ngươi ơi! Ngươi ơi! Hề ngươi ơi!
Ngươi ơi! Ngươi ơi! Hề ngươi ơi!
Ngươi sang bên ấy sao mà lạnh,
Nhịp trúc ta về lạnh mấy mươi.

Đa Kao 1943

Nguyễn Bính



* cầu Tư Mã: Ý nói Tư Mã Tương Như đời Hán. Thuở Tương Như còn hàn vi, qua cầu Thăng Tiên, đề lên thành cầu rằng: "Bất thừa cao xa tứ mã, bất phục quá thử kiều" (Không cưỡi xe cao bốn ngựa, không qua lại cầu này)

* áo khinh cừu: Khi Tương Như thành danh, được Lương vương trọng vọng, ban cho quan tước, còn tặng một chiếc áo cừu túc sương. Khi Lương vương mất, Tương Như về quê, gặp Trác Văn Quân là con gái một tay cự phú trong vùng, hai người cùng nhau trốn đi. Tương Như nghèo khó, bèn đem cầm chiếc áo cừu lấy rượu cùng Văn Quân đối ẩm. Sau hai người mở quán nấu rượu, vợ nhóm lò nấu rượu, chồng rửa chén bát.

* Nhiếp Chính: Một người anh hùng ẩn thân đời Chiến Quốc. Có người biết chàng, tìm đến xin chàng trả hộ mối thù với Hiệp Luỹ, tướng quốc nước Hàn, phi anh hùng không ai làm nổi. Người đó cung phụng mẹ già của Nhiếp Chính rất tử tế như con cái trong nhà, đến lúc chết lại lo ma chay phận sự. Cảm cái ơn đó, lại không còn vướng bận, Nhiếp Chính đến nước Hàn, vào phủ tướng quốc giữa thiên binh vạn mã, đâm chết Hiệp Luỹ, chống cự với ba quân rồi rạch nát mặt, tự vẫn mà chết. Vua nước Hàn đem thây chàng ra giữa chợ trao giải cho ai tìm được tung tích. Chị gái Nhiếp Chính đã đi lấy chồng, nghe tin lần đến ôm xác em mình khóc thảm thiết, rồi nói với những người xung quanh đại ý rằng: Em tôi là Nhiếp Chính, vì sợ liên luỵ đến tôi và người ơn của nó nên mới phải rạch mặt mà chết thế này, nay tôi lại tiếc thân để người đời không ai biết đến nó thì còn mặt mũi nào nữa. Nói rồi cũng tự vẫn chết bên xác em. Nhờ đó, tên tuổi của Nhiếp Chính mới lưu danh sử sách như một anh hùng. Chị của Nhiếp Chính cũng là một nữ nhân anh liệt, đáng cảm phục.

* ấp Tiết: Phùng Hoan, thực khách của Mạnh Thường Quân lãnh nhiệm vụ đi đòi nợ, khi đến ấp Tiết gọi các con nợ lại và tuyên bố đốt hết văn tự nợ. Sau về nói với Mạnh Thường Quân là tiền nợ ấy đã lấy mua "Đức" hết rồi! Sau Mạnh Thường Quân bị vua Tề phế, khi qua ấp Tiết thì toàn dân ra đón linh đình, nhờ thế vua Tề thu dụng lại.

* Nợ tình chưa trả tròn một món:
Nợ thế chưa trả tròn một món


* Ngày mai xán lạn màu non nước/ Cốt nhất cười vui trọn tối nay:
Ngày mai có nghĩa gì đâu nhỉ/ Cốt nhất cười vui trọn tối nay

* Link tham khảo:

http://vinhattieu.wordpress.com/tag/nh%E1%BA%A3m/

http://www.thivien.net/viewpoem.php?ID=749

http://binhchonthohay.com/Thovan/Danhmuctho_all.aspx
Đọc tiếp →

Trong dòng sông của Heraclitus

.
In Heraclitus's river
a fish is busy fishing,
a fish guts a fish by a sharp fish,
a fish builds a fish, a fish lives in a fish,
a fish escapes from a fish in siege.

In Heraclitus's river
a fish loves a fish,
your eyes, it says, glow like the fishes in the sky,
I would swim at your side to the sea we will share,
o fairest of the shoal.

In Heraclitus's river
a fish has imagined the fish of all fish,
a fish kneels to the fish, a fish sings to the fish,
a fish begs the fish to ease its fishy lot.

In Heraclitus's river
I, the solitary fish, a fish apart
(apart at least from the tree fish and the stone fish)
write, at isolated moments, a tiny fish or two
whose glittering scales, so fleeting,
may only be the dark's embarrassed wink.

* Source
------------------
Trong dòng sông của Heraclitus

Trong dòng sông của Heraclitus
Con cá bắt cá,
con cá chặt con cá bằng một con cá sắc,
con cá xây con cá, con cá ở trong con cá,
con cá bỏ trốn khỏi con cá bị bao vây.

Trong dòng sông của Heraclitus
con cá yêu con cá,
đôi mắt em - nó nói - sáng như cá trên trời,
cùng em đến vùng biển chung tôi muốn được bơi,
ôi, em xinh đẹp nhất trong đàn cá.

Trong dòng sông của Heraclitus
con cá nghĩ ra một con cá siêu cá,
con cá quỳ gối trước con cá, con cá hát cho con cá nghe,
cầu xin con cá để được bơi thật nhẹ.

Trong dòng sông của Heraclitus
tôi con cá độc đáo, tôi con cá khác biệt,
(dẫu chỉ khác với cá cây hay cá đá)
đôi khi tôi viết về những con cá nhỏ,
với lớp vẩy bạc long lanh, ngắn đến nỗi người ta ngỡ
đó chỉ là bóng đêm đang bối rối chớp mi.

Người dịch:
Thái Linh
* Source
---------------


.
Đọc tiếp →

Mama You've Been On My Mind

Perhaps it is the color of the sun cut flat
An' cov'rin' the crossroads I'm standing at,
Or maybe it's the weather or something like that,
But Mama, you been on my mind.

Có lẽ đấy là màu sắc của mặt trời bị cắt ra
Và trùm lên ngã tư mà tôi đang đứng đó
Hay có lẽ đấy là thời tiết hay thứ gì như thế
Nhưng, Mama, em từng ở trong tâm trí của tôi


I don't mean trouble, please don't put me down, don’t get upset,
I am not pleading or saying that "I can't forget you."
I do not pace the floor bowed down and bent, but yet,
Mama, you been on my mind.

Tôi không có ý làm phiền, đừng hạ thấp tôi hay cáu kỉnh,
Tôi đang không nài xin hay nói rằng, "Tôi không thể quên em"
Tôi không đi lại trong phòng, cúi mình và khuất phục/quỵ luỵ,
Mama, em từng ở trong tâm trí của tôi.


Even though my eyes are hazy and my thoughts they might be narrow,
Where you been don't bother me or bring me down in sorrow.
I don't even mind who you'll be waking with tomorrow,
Mama, you're just on my mind.

Cho dù tâm trí tôi mịt mờ và suy nghĩ của tôi có lẽ là hạn hẹp,
Nơi đâu em từng ở không làm phiền tôi hay mang tôi đến sự buồn sầu.
Tôi thậm chí không bận tâm sáng mai em thức dậy cùng ai,
Mama, em mới đây còn trong tâm trí của tôi.


I am not askin' you to say words like "yes" or "no,"
Please understand me, I have no place I’m callin’ you to go.
I'm just whispering to myself so I can't pretend that I don't know,
Mama, you been on my mind.

Tôi đang không hỏi em để nói những từ như "có" hay "không",
Hãy hiểu tôi, tôi không có nơi nào để gọi em đi.
Tôi chỉ nói thầm với mình rằng tôi không thể vờ là tôi không biết,
Mama, em từng ở trong tâm trí của tôi.

When you wake up in the mornin', baby, look inside your mirror,
You know I won't be next to you, you know I won't be near.
I'd just be curious to know if you can see yourself as clear
As someone who has had you on his mind.


Khi em thức dậy vào buổi sáng, em yêu, hãy nhìn vào trong tấm gương của em
Em biết tôi sẽ không kế bên em, em biết tôi sẽ không gần đấy.
Tôi chỉ muốn biết rằng liệu em có thấy mình trong sạch
Như ai đó từng có em trong tâm trí của mình.


* Bob Dylan's hit:




* Jeft Buckley's hit:
http://www.youtube.com/watch?v=KyJLpEs5jGI

* Download mp3:
http://www.strangerdance.com/cover-project-mama-you-been-on-my-mind-dylan-beatles-johnny-cash-buckley/
.
Đọc tiếp →

Thứ Bảy, 10 tháng 4, 2010

Collected Russian songs - Legenda



The outcry is stuck in my throat
But the time has come, and either you cry out or you don't
But then, someone won't be able to forget
How the warriors were cleaning their swords on the grass...

And how the raven's black tribe were clapping their wings
How the sky was laughing, then bit its tongue
And how the hands of the one who survived were trembling
And how the moment suddenly became an eternity...

The sunset burned like a funeral pyre,
And the stars were gazing like wolves from the clouds
At those who passed into the Night, lying with their arms abreast
And at those who survived, and were sleeping dreamlessly...

And "life" is just a word, there is only love and death...
Hey, who will be singing, if everyone will fall asleep?
Death is worth Living, and Love is worth waiting for...

Translation by Marva
Đọc tiếp →

Chủ Nhật, 28 tháng 3, 2010

Collected Russian songs - Kukushka



Песен еще ненаписанных, сколько?
Скажи, кукушка, пропой.
В городе мне жить или на выселках,
Камнем лежать или гореть звездой?
Звездой.

Солнце мое - взгляни на меня,
Моя ладонь превратилась в кулак,
И если есть порох - дай огня.
Вот так...

Кто пойдет по следу одинокому?
Сильные да смелые
Головы сложили в поле в бою.
Мало кто остался в светлой памяти,
В трезвом уме да с твердой рукой в строю,
в строю.

Солнце мое - взгляни на меня,
Моя ладонь превратилась в кулак,
И если есть порох - дай огня.
Вот так...

Где же ты теперь, воля вольная?
С кем же ты сейчас
Ласковый рассвет встречаешь? Ответь.
Хорошо с тобой, да плохо без тебя,
Голову да плечи терпеливые под плеть,
под плеть.

Солнце мое - взгляни на меня,
Моя ладонь превратилась в кулак,
И если есть порох - дай огня.
Вот так...

- Kino


Những bài hát còn chưa được viết, bao nhiêu?
Hãy nói xem, chim cu ơi, hát thử xem.
Tôi sống trong thành phố hay ở bản làng,
Hòn đá nằm hay vì sao cháy?
Vì sao cháy.

Mặt trời của tôi - hãy nhìn tôi,
Bàn tay tôi đã nắm thành quả đấm,
Và nếu có thuốc súng - thì đưa lửa đây.
Thế đấy...

Ai sẽ đi theo dấu vết đơn độc?
Những cái đầu mạnh mẽ và dũng cảm
Đã chất đống trên cánh đồng trong trận đánh.
Ít người còn đủ trí nhớ sáng suốt,
Trí não tỉnh táo và cả cánh tay cứng cáp ở trong hàng ngũ,
Ở trong hàng ngũ

Mặt trời của tôi - hãy nhìn tôi,
Bàn tay tôi đã nắm thành quả đấm,
Và nếu có thuốc súng - thì đưa lửa đây.
Thế đấy...

Ngươi bây giờ ở chỗ nào nào, khát vọng tự do?
Ngươi đang cùng với ai bây giờ nào
Đang đón bình minh dịu dàng à? Trả lời đi.
Có ngươi thật tốt, thiếu ngươi thật xấu,
Đầu và cả đôi vai nhẫn nại dưới ngọn roi,
Dưới ngọn roi...

Mặt trời của tôi - hãy nhìn tôi,
Bàn tay tôi đã nắm thành quả đấm,
Và nếu có thuốc súng - thì đưa lửa đây.
Thế đấy...

- Phi Long


How many songs haven't been still written?
Tell me, cuckoo, and try to sing.
Do I live in the city or the village,
A laying stone or a burning star?
A burning star.

My sun, look at me,
My hands have been clenched into fists,
And if there is gunpowder, give me fire as well.
That's it...

Who will follow the lonely trace?
The strong and brave heads
Heaped up on the field during the fight.
Few people have enough lucid memory,
Sober mind and firm arms in the rank,
In the rank.

My sun, look at me,
My hands have been clenched into fists,
And if there is gunpowder, give me fire as well.
That's it...

Where are you now, free will?
With who are you now
Meeting the sweet sunrise? Answer.
It's good with you and bad without you
Head and shoulders are patient under the lash
Under the lash.

My sun, look at me,
My hands have been clenched into fists,
And if there is gunpowder, give me fire as well.
That's it...

- Google & Leopard.
Đọc tiếp →

Chủ Nhật, 14 tháng 3, 2010

Collected Russian songs - Lavanda



In our life, everything happens.
And under the sun the snow does not melt,
And the warm winter meets,
Rain comes in December.

Love or not, do not know.
We sometimes play with love,
And when it is lost
"Not fate," we said.

Lavender, lavender mountain,
Our meetings with you dark blue flowers.
Lavender, lavender mountain,
How many years have passed, but I remember you.

Summer gave heat to us,
Seagull hovering above the waves.
Only us the moon was shining,
The two of us on earth.

But where it took all of this.
There was also no answer.
And now as the two planets
We're far away.

Translated by Google & Leopard

*Version 2.0:

She:
In our life everything happens:
An ice doesn't thaw under the sun,
And the winter meets us with the warmth,
It's raining in December !

He:
Do we love each other or not? We don't know
Sometimes we just play with love.
And when we lose it
We say: "There's no luck!"

Together:
Lavender! Mountain lavender!
Blue flowers of our meetings!
Lavender! Mountain lavender!
So many years had elapsed but we remember it, me and you.

She:
The summer gave its warmth away to us,
A seagull flied above a wave.
The moon shone for us only,
Only for us in the world !

He:
But where did everything all go away?
There wasn't an answer and still there's not.
And now like two planets
We are far away from each other.

Together:
Lavender! Mountain lavender!
Blue flowers of our meetings!
Lavender! Mountain lavender!
So many years had elapsed but we remember it, me and you.


Lavanda (Russian: Лава́нда) — is one of the major hits of Sofia Rotaru, a popular song for duet performance of 1985. The lyrics were written by Mikhail Shabrov and the music was composed by Vladimir Matetsky. This song became the debute of collaboreation of Rotaru and with the new author and composer. Rotaru was awarded platinum disc for selling more than million of copies of this song and the same named album.

Canadian Leonard Cohen has released a similar tune in December 1984 "Dance Me to the End of Love".

[Wikipedia]

---------------------
* Vietnamese lyric:

“Trong cuộc sống của chúng ta thường có mọi chuyện.
Và dưới mặt trời tuyết không tan,
Và mùa đông ấm áp -
Mưa rơi vào tháng chạp…”

“Yêu hay là không - chúng mình không biết,
Chúng mình đôi khi chơi đùa với tình yêu,
Và khi đánh mất nó,
“Không phải số phận”, - chúng mình nói.”

Translated by Phi Long


1.
Mọi điều đều có thể trong đời:
Tuyết không tan dưới nắng mặt trời
Mùa đông có nhiều khi ấm áp
Tháng 12 bỗng có mưa rơi

Yêu hay không- chúng mình đâu biết
Anh và em chơi trò tình yêu
Và đến khi tình yêu đi mất
Ta nói rằng “Không hợp duyên nhau”

Rf.
Lavanda- bông hoa núi nhỏ
Cánh biếc xanh, xanh cuộc hẹn hò
Bao nhiêu năm đã qua từ đó
Anh và em vẫn nhớ không quên

2.
Mùa hè đến, đất trời rực nắng
Chim hải âu trên biển lượn bay
Mặt trăng trên đầu mình toả sáng
Cho riêng anh và em nơi này

Nhưng tất cả đã đi đâu mất?
Câu trả lời biết kiếm nơi nao.
Anh và em bây giờ như thể
Hai hành tinh lạ, chẳng hề quen

Translated by Vân Chi


Đọc tiếp →

Collected Russian songs - Zvezda po imeni Solntse



The Star named the Sun
White snow, gray ice, on the cracked earth
Like a patchwork quilt upon it - a city on a loop in the road
And above the city, there are clouds drifting
Hiding the heavenly light
And above the city - there's a yellow haze
The city, for two thousand years,
Lived under the light of the Star
Named the Sun.

And for two thousand years there was war,
War with no particular reason,
War is a young business,
Like medicine against wrinkles.
There's red, red blood,
In an hour it is already just earth
In two flowers and grass grow on it,
In three it is living again

And it is warmed by the rays of the Star
Called the Sun.

And we know that it's always been so,
That Fate loves the one
Who lives by his own rules,
The one who will die young.
He doesn't remember the word 'yes' or the word 'no',
He remembers neither ranks, nor names
But he is able to reach the stars,
Not considering that this is a dream
And falling, singed by the Star
named the Sun.


Zvezda po imeni Solntse (Russian: Звезда по имени Солнце), meaning "The star called the Sun" is an album of the Soviet rock band Kino, released in 1989. It is notable for its mostly personal struggle-oriented lyrics and thoughtful, sad, lonely or sometimes sinister atmosphere. The cover art most likely depicts an obscured star.

Track listing
1."Песня без слов" (A Song Without Words) — 5:06
2."Звезда по имени Солнце" (A Star Called the Sun) — 3:45
3."Невесёлая песня" (Unhappy Song) — 4:18
4."Сказка" (A Fairy Tale) — 5:58
5."Место для шага вперед" (Place for a Step Forward) — 3:39
6."Пачка сигарет" (Pack of Cigarettes) — 4:28
7."Стук" (A Knock) — 3:50
8."Печаль" (Grief) — 5:32
9."Апрель" (April) — 4:40

[Wikipedia]

-----------
* Bonus:

Легенда/ The Legend - Victor Tsoi:
http://www.gather.com/viewArticle.action?articleId=281474977489716


* About A star called the sun:
http://aonb.blogspot.com/2006/06/star-called-sun.html

Đọc tiếp →

Collected Russian Songs - Zhuravli



-----------------------
* English lyric:

"Cranes"

(It is a very famous sad song. Author of the text - Rasul Gamzatov)
(Translation revised by Robert Nviiri on 26th May 2005)


It seems to me, sometimes, soldiers,
Who didn't return from the bloody fields,
Didn't lie dead in our land, a single moment,
But transformed into white Cranes.
All along, from time immemorial,
They’re flying, calling out to us from afar,
Not that, we often ruefully,
Keep our silence, glaring up in the sky.

The crane formation, is
flying, wearily in the sky,
Flying in the fog, till dusk.
And in this formation, is left a minute gap,
Probably, this is a place reserved for me.
A day will come, when together with the cranes,
I will soar in the same blue skies,
Calling out from the sky, in bird language,
All to whom, I left on
earth.


Zhuravli (English: The Cranes) is one of the most famous Russian songs to come out of World War II.

The Dagestani poet Rasul Gamzatov, when visiting Hiroshima, was impressed by the Hiroshima Peace Memorial Park and the monument to Sadako Sasaki. The memory of paper cranes made by the girl haunted him for months and inspired him to write a poem starting with the now famous lines: "It seems to me sometimes that our soldiers That were not to return from fields of gore Did not lie down into their beds of honour But turned into a bevy of white cranes...". The poem was originally written by Rasul Gamzatov in Avar language. Its famous Russian translation was soon made by a Russian poet and translator Naum Grebnyov.

The poem's publication in the journal Novy Mir caught the attention of Mark Bernes who revised the lyrics and asked Yan Frenkel to compose the music. Bernes' new song premiered in 1969 and has since become one of the best known Russian-language songs all over the world.

In the aftermath, white cranes have become associated with dead soldiers, so much so that a range of WWII memorials in the former Soviet Union feature the image of flying cranes and, in several instances, even the lines from the song.


--------------------
* Vietnamese lyric:

Tôi cảm thấy, đôi khi, là những người lính
Đã không đến từ những cánh đồng đẫm máu,
Đã không nằm xuống mặt đất của chúng ta vào lúc nào đó,
Mà đã hóa thành những con sếu trắng.

Cho đến tận bây giờ, từ những thời gian xa xôi ấy,
Họ bay và cho chúng ta tiếng nói của mình.
Có phải vì thế không, mà chúng ta thường hay buồn bã
Im lặng nhìn lên bầu trời?

Bay, bay trên bầu trời, đường bay mệt mỏi,
Bay trong sương mờ vào lúc ngày đang tàn dần.
Và trong vệt chim bay ấy có một quãng trống nhỏ nhoi -
Có thể, đấy là chỗ dành cho tôi.

Sẽ đến một ngày, và cùng đàn sếu
Tôi sẽ bơi trong cùng một sự mơ hồ màu khói thuốc như thế.
Từ dưới vòm trời, theo cách của chim, gọi chào
Tất cả các bạn, những người tôi đã bỏ lại trên mặt đất.

Tôi cảm thấy, đôi khi, là những người lính
Đã không đến từ những cánh đồng đẫm máu,
Đã không nằm xuống mặt đất của chúng ta vào lúc nào đó,
Mà đã hóa thành những con sếu trắng.

Translated by Đim-ma.
Đọc tiếp →

Collected Russian Songs - Kak molody my byli



--------------------------
* English lyric:

Как молоды мы были/Kak molody my byli (How Young We Were).
Dmitri Khvorostovsky

This is sung by the famous operatic baritone Dmitri Khvorostovsky, with the Moscow Chamber Orchestra led by Constantine Obelian and the Style of Five playing Russian folk instruments.
_Vostorgina01

Look back, unfamiliar passerby,
Your uncompromising look is familiar to me
Maybe that is me, only younger?
We not always remember ourselves.

Nothing on this earth passes without a trace,
And the youth that went away is nevertheless immortal.
How young we were!
How young we were!
How sincerely we loved
How believed we in ourselves!

Others met us back then without laughs (put-downs)
All the flowers on the roads of this earth.
Our friends for their mistakes we forgave
Only changes (cheating) we could not forgive.

The first time we already have won
And only one thing from that we understand.
So others on this earth would not lose you,
Try to not lose yourself!

In the heavens, the sky lightings have gone (sunrise and sunset)
And in the heart, the thunder is calming.
To not forget our loved faces
To not forget our native eyes...

Translated by Classic A111 (Youtube).


--------------------------
* Vietnamese lyric:

Ngoảnh nhìn lại, một người đi ngang không quen biết,
Cái nhìn không đổi chác được của bạn là quen thuộc đối với tôi...
Có thể, tôi đấy - nhưng trẻ hơn,
Không phải lúc nào chúng ta cũng nhận ra chính mình...

Không có gì trên trái đất lại đi qua mà không để lại dấu vết,
Và tuổi trẻ đã ra đi dù sao cũng vẫn không mất đi.
Chúng ta đã thật trẻ trung,
Chúng ta đã thật trẻ trung,
Chúng ta đã yêu thật chân thành,
Chúng ta đã thật tự tin!

Lúc đó, không giễu cợt, đã gặp chúng ta
Tất cả những bông hoa trên những con đường trái đất...
Chúng ta bỏ qua cho bạn bè mọi khuyết điểm,
Chỉ trừ sự thay lòng đổi dạ là không thể tha thứ.

Không có gì trên trái đất lại đi qua mà không để lại dấu vết,
Và tuổi trẻ đã ra đi dù sao cũng vẫn không mất đi.
Chúng ta đã thật trẻ trung,
Chúng ta đã thật trẻ trung,
Chúng ta đã yêu thật chân thành,
Chúng ta đã thật tự tin!

Hiệp đầu chúng ta đã gỡ lại
Và chỉ học hiểu được một điều:
Để mọi người không đánh mất bạn ở trên trái đất,
Hãy cố gắng đừng tự đánh mất chính mình!

Không có gì trên trái đất lại đi qua mà không để lại dấu vết,
Và tuổi trẻ đã ra đi dù sao cũng vẫn không mất đi.
Chúng ta đã thật trẻ trung,
Chúng ta đã thật trẻ trung,
Chúng ta đã yêu thật chân thành,
Chúng ta đã thật tự tin!

Trên những vòm trời đã tàn dần những vầng sáng,
Và trong những trái tim dông tố đã lặng đi.
Chúng ta không quên những gương mặt yêu thương,
Chúng ta không quên những đôi mắt thân thuộc...

Không có gì trên trái đất lại đi qua mà không để lại dấu vết,
Và tuổi trẻ đã ra đi dù sao cũng vẫn không mất đi.
Chúng ta đã thật trẻ trung,
Chúng ta đã thật trẻ trung,
Chúng ta đã yêu thật chân thành,
Chúng ta đã thật tự tin!

Translated by Đim-ma.

Đọc tiếp →

Thứ Năm, 4 tháng 3, 2010

Thou, thee, thy, thine

.
Một Đêm Trong Sáng

ĐÂY là thời điểm của ngươi, TÂM HỒN ơi,
chuyến bay thảnh thơi của ngươi vào trong chốn không lời,

Rời xa sách vở, rời xa nghệ thuật,
ngày được xoá, bài học được làm xong,

Hãy tự mình hiện lên đầy vẹn, lặng yên,
chú mục, trầm tư những chủ đề ngươi yêu nhất.

Đêm, giấc ngủ, cái chết và những vì sao.

----------------------------------
A Clear Midnight

THIS is thy hour O Soul, thy free flight into the wordless,
Away from books, away from art, the day erased, the lesson done,
Thee fully forth emerging, silent, gazing, pondering the themes thou
lovest best.
Night, sleep, death and the stars.

Walt Whitman

-----------------------------
From guest gershon hepner (contact)
NIGHT, SLEEP, STARS AND DEATH

The hour of the soul, said Walt,
away from books, is based on themes
no poet worth his salt can fault.
The first is night, the source of dreams,
the second sleep, where dreams are made,
the third the stars to which dreams reach
the last and fourth, don't be afraid,
is death, which can't the rest impeach,
because it cannot be enjoyed,
experienced only once the soul
has fled, and therefore in its void
is ludicrous as grand guignol.

Inspired by a poem by Walt Whitman which was one of the many that were discuss by Michael Silverblatt's guests on KCRW this afternoon.

http://oldpoetry.com/opoem/2415-Walt-Whitman-A-Clear-Midnight
-----------------------------
'Thou' corresponds to 'I/you/he/she'. (Nominative)
'Thee' corresponds to 'me/you/him/her'. (Accusative)
'Thy' corresponds to 'my/your/his/her'. (Possessive)
'Thine' -- 'mine/yours/his/hers'.

It's an archaic form, and its status was similar to the French vous/tu. At one time, it was the formal form, but became the familiar form around Shakespeare's time.

As for the archaic plural form...

Nominative / Accusative / Possessive
Ye (or you) / you / your, yours

http://www.englishforums.com/English/WhatsThouTheeMean/mqkx/post.htm
----------------
"Thee" means "you" (complement), "thou" is "you" (subject), and "thy" is "your".

----------------------
These are all words used in old English.

Thou - You (Subject)

Thy - Your

Thee - You (object)

Concerning Thy there's also Thine. Thy was used before consonat sounds and Thine before vowel sounds.

verbs when used with THOU modify as they do now in the 3rd person singular. And also the 3rd person singular form was diferent.

Examples:

Thou art (You are)
Thou couldst (you could)
Thou wilt (you will)
Thou bingest (you bring)
THou shalt (you shall)

Concerning the 3rd peson singular we have:

He cometh (he comes)
She doth, hath (she does, has)

These are very common in old literature. Nowadays it's really rarely used.

------------------------
http://answers.yahoo.com/question/index?qid=20080422062358AA1s0dg

http://en.wikipedia.org/wiki/Thou#cite_note-10
Đọc tiếp →