乞食
崚嶒長劍倚青天,
輾轉泥塗三十年。
文字何曾為我用,
饑寒不覺受人憐。
Khất thực
Lăng tằng trường kiếm ỷ thanh thiên
Triển chuyển nê đồ tam thập niên
Văn tự hà tằng vi ngã dụng
Cơ hàn bất giác thụ nhân liên
Nguyễn Du
Xin ăn
Kiếm tựa trời xanh chót mấy từng
Ba mươi năm lẻ lấm bùn sương
Văn chương giúp ích nào đâu thấy
Bất giác cơ hàn chịu kẻ thương
Leopard dịch.
=========================
http://www.oocities.com/songvietgiang/bachanh.html
http://thohanviet.tripod.com/
Đọc tiếp →
Thứ Tư, 30 tháng 6, 2010
Mộ Sở Bá Vương kỳ II
楚霸王墓其二
路旁片石獨崢嶸
不是烏江是魯城
及識敗亡非戰罪
空勞智力與天爭
古今無那英雄淚
風雨猶聞叱吒聲
寂寂二時無埽祭
春來虞草自叢生
Sở Bá Vương mộ kỳ nhị
Lộ bàng phiến thạch độc tranh vanh
Bất thị Ô Giang thị Lỗ Thành
Cập thức bại vong phi chiến tội
Không lao trí lực dữ thiên tranh
Cổ kim vô nả anh hùng lệ
Phong vũ do văn sất trá thanh
Tịch tịch nhị thì vô tảo tế
Xuân lai Ngu thảo tự tùng sanh
Nguyễn Du
Mộ Sở Bá Vương kỳ II
Một phiến chon von dựng cạnh đường
Lỗ Thành tống táng chẳng Ô Giang
Mới hay vong bại nào quân tội
Hoài dốc sức tâm chống hóa công
Mưa gió còn vang lời thét hận
Cổ kim chưa hết lệ anh hùng
Hai mùa vắng lặng không thăm viếng
Xuân tới cỏ Ngu mọc khắp vùng
Leopard dịch.
===============================
* Tài liệu tham khảo: (lần lần)
Cổ đại Hán ngữ ngữ pháp
http://www.hoasontrang.us/phorum/showthread.php?5428-Cổ-đại-Hán-ngữ-ngữ-pháp
Tóm tắt ngữ pháp Hán ngữ cổ đại
Vietsciences- Lê Anh Minh 27/05/2006
http://vietsciences.free.fr/sinhngu/hannom/tomtatnguphaphanngucodai.htm
Đọc tiếp →
路旁片石獨崢嶸
不是烏江是魯城
及識敗亡非戰罪
空勞智力與天爭
古今無那英雄淚
風雨猶聞叱吒聲
寂寂二時無埽祭
春來虞草自叢生
Sở Bá Vương mộ kỳ nhị
Lộ bàng phiến thạch độc tranh vanh
Bất thị Ô Giang thị Lỗ Thành
Cập thức bại vong phi chiến tội
Không lao trí lực dữ thiên tranh
Cổ kim vô nả anh hùng lệ
Phong vũ do văn sất trá thanh
Tịch tịch nhị thì vô tảo tế
Xuân lai Ngu thảo tự tùng sanh
Nguyễn Du
Mộ Sở Bá Vương kỳ II
Một phiến chon von dựng cạnh đường
Lỗ Thành tống táng chẳng Ô Giang
Mới hay vong bại nào quân tội
Hoài dốc sức tâm chống hóa công
Mưa gió còn vang lời thét hận
Cổ kim chưa hết lệ anh hùng
Hai mùa vắng lặng không thăm viếng
Xuân tới cỏ Ngu mọc khắp vùng
Leopard dịch.
===============================
* Tài liệu tham khảo: (lần lần)
Cổ đại Hán ngữ ngữ pháp
http://www.hoasontrang.us/phorum/showthread.php?5428-Cổ-đại-Hán-ngữ-ngữ-pháp
Tóm tắt ngữ pháp Hán ngữ cổ đại
Vietsciences- Lê Anh Minh 27/05/2006
http://vietsciences.free.fr/sinhngu/hannom/tomtatnguphaphanngucodai.htm
Đọc tiếp →
Thứ Hai, 28 tháng 6, 2010
Cảm hoài

Cảm hoài
Thế sự du du nại lão hà,
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.
Thời lai đồ điếu thành công dị,
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.
Trí chúa hữu hoài phù địa trục,
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,
Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.
Thời lai đồ điếu thành công dị,
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.
Trí chúa hữu hoài phù địa trục,
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,
Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma
Đặng Dung
Cảm hoài
Thế sự mênh mang ngại sức già
Đất trời vô tận để vui ca
Gặp thời đồ điếu thành công trạng
Lỡ vận anh hùng nuốt lệ sa
Giúp chúa những mong nâng địa trục
Rửa khiên không lối kéo ngân hà
Thù nhà chưa báo đầu mau bạc
Đất trời vô tận để vui ca
Gặp thời đồ điếu thành công trạng
Lỡ vận anh hùng nuốt lệ sa
Giúp chúa những mong nâng địa trục
Rửa khiên không lối kéo ngân hà
Thù nhà chưa báo đầu mau bạc
Trăng xát Long Tuyền mấy độ đưa
Leopard dịch.
-------------------------
感懷
世事悠悠奈老何
無窮天地入酣歌
時來屠釣成功易
運去英 雄飲恨多
致主有懷扶地軸
洗兵無路挽天河
國讎未報頭先白
幾度龍泉戴月磨
鄧容 (?-1414)
Cảm hoài
Thế sự du du [2]nại lão hà?
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca[3].
Thời lai đồ điếu[4] thành công dị,
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.
Trí chủ[5] hữu hoài phù địa trục[6],
Tẩy binh[7] vô lộ vãn thiên hà.
Quốc thù vị báo[8] đầu tiên bạch,
Kỷ độ Long Tuyền[9] đới nguyệt ma.
1. Giáo trình Hán-Nôm tập I, GS. Phạm Văn Các chủ biên, Nxb Giáo dục, 1983, tr. 250)
2. Du du còn có nghĩa là rối bời.
3. Hàm ca: cuộc rượu hát ca.
4. Sách Ngữ văn 10 ([nâng cao]. Nxb Giáo dục, 2007, tr. 158) và Giáo trình Hán-Nôm tập 1 (tr. 247) đều giải thích: đồ là hàng thịt, điếu là câu cá; nhắc tích Phàn Khoái bán thịt chó, Hàn Tín câu cá, sau giúp Lưu Bang (Hán Cao Tổ) phá Tần, diệt Sở, làm nên nghiệp lớn.
5. Phò tá giúp đỡ cho chủ
6. Địa trục: trục trái đất.
7. Điển tích từ hai câu thơ trong bài Tẩy Binh Mã (Rửa khí giới) của Đỗ Phủ: An đắc tráng sĩ vãn thiên hà; Tịnh tẩy giáp binh trường bất dụng. Dịch nghĩa: Ước gì có tráng sĩ kéo nước sông Ngân xuống (dịch chữ thiên hà); Rửa sạch khí giới, mãi mãi không dùng đến nữa.
8. Vị báo: vị (chưa), báo (đáp trả lại).
9. Long Tuyền: tên một loại gươm báu thời xưa.
Bản dịch của Phan Kế Bính:
Việc đời bối rối tuổi già vay,
Trời đất vô cùng một cuộc say.
Bần tiện gặp thời lên cũng dễ,
Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay.
Vai khiêng trái đất mong phò chúa,
Giáp gột sông trời khó vạch mây.
Thù trả chưa xong đầu đã bạc,
Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày.
Trích nhận xét:
Thơ đời Trần, bất kể là vui hay buồn thường thể hiện sự khẳng định nhân phẩm và niềm tự hào về bản lĩnh con người. Và ngay cả trong cái buồn của thơ ca cuối thế kỷ thứ 14 vẫn còn còn phảng phất dư ba của hào khí Đông A[12]. Và Thuật hoài, bài thơ duy nhất còn lại của Đặng Dung, được chép trong Toàn Việt Thi Lục của Lê Quí Đôn (1726 - 1784) chính là một trong những bài thơ hay và tiêu biểu cho phong cách thơ ấy[13].
Từ điển Văn học (bộ mới) đánh giá: Tuy là thơ của một người ôm hận vì bất lực trước thời thế, "người đọc vẫn thấy toát lên ở đây tình cảm cao cả tràn khắp đất trời, đó là lòng yêu nước thiết tha của một tráng sĩ vì nước bôn ba, là niềm tin và quyết tâm bảo vệ nền độc lập dân tộc qua hình tượng rất đẹp, rất thơ: “Mấy phen mang gươm Long Tuyền mài dưới trăng”". "Thuật hoài" ra đời vào những ngày cuối cùng của nhà Trần, nhưng vẫn mang trọn hào khí dân tộc của những năm đầu dựng nước và giữ nước cả về nội dung lẫn hình thức. Lý Tử Tấn (1378 - ?, quan thời Lê) nhận xét "Phi hào kiệt chi sĩ bất năng" (Nếu không phải là kẻ sĩ hào kiệt thì không thể làm được bài thơ này)[14].
Bài thơ này hiện vẫn còn được nhiều người biết đến, và đang được giảng dạy trong chương trình văn học lớp 10 (nâng cao) thuộc hệ thống giáo dục Việt Nam.
* Đông A: Theo lối chiết tự, chữ Trần còn có thể đọc là Đông A, vì được ghép từ hai chữ Đông (東) và A (阿)
* Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/Thu%E1%BA%ADt_ho%C3%A0i_%28%C4%90%E1%BA%B7ng_Dung%29 Đọc tiếp →
Mưa xuân mới tạnh ở Lâm An

臨 安 春 雨 初 霽
世 味 年 來 薄 似 紗
誰 令 騎 馬 客 京 華
小 樓 一 夜 聽 春 雨
深 巷 明 朝 賣 杏 花
矮 紙 斜 行 閑 作 草
晴 窗 細 乳 戲 分 茶
素 衣 莫 起 風 塵 嘆
猶 及 清 明 可 到 家
世 味 年 來 薄 似 紗
誰 令 騎 馬 客 京 華
小 樓 一 夜 聽 春 雨
深 巷 明 朝 賣 杏 花
矮 紙 斜 行 閑 作 草
晴 窗 細 乳 戲 分 茶
素 衣 莫 起 風 塵 嘆
猶 及 清 明 可 到 家
陸游
Lâm An xuân vũ sơ tễ
Thế vị niên lai bạc tự sa
Thùy linh kỵ mã khách kinh hoa
Tiểu lâu nhất dạ thính xuân vũ
Thâm hạng minh triêu mại hạnh hoa
Nụy chỉ tà hành nhàn tác thảo
Tình song tế nhũ hý phân trà
Tố y mạc khởi phong trần thán
Do cập Thanh minh khả đáo gia
Lục Du
Mưa xuân mới tạnh ở Lâm An
Năm tới vị đời mỏng tựa sa
Ai xui ruổi ngựa khách phồn hoa
Mưa xuân gác nhỏ đêm nghe vẳng
Hoa hạnh hẻm cùng sáng bán ra
Giấy xấu nét xiên đành viết thảo
Song hừng búp nhỏ bỡn pha trà
Áo tơ gió bụi than đừng nổi
Kịp đến Thanh minh trở lại nhà
Mưa xuân mới tạnh ở Lâm An
Năm tới vị đời mỏng tựa sa
Ai xui ruổi ngựa khách phồn hoa
Mưa xuân gác nhỏ đêm nghe vẳng
Hoa hạnh hẻm cùng sáng bán ra
Giấy xấu nét xiên đành viết thảo
Song hừng búp nhỏ bỡn pha trà
Áo tơ gió bụi than đừng nổi
Kịp đến Thanh minh trở lại nhà
(Đông A dịch)
Đọc tiếp →
Lên Hoành Sơn

Đăng Hoành Sơn
Sơn ngoại thanh sơn vạn lý trình
Sơn biên dã thảo tống nhân hành
Anh hùng mạc vãn thiên niên quốc
Chinh chiến không tồn nhất lũy danh
Bắc lĩnh đoạn vân thu túc vũ
Nam trang sơ hiểu đái tân tình
Há sơn phản giác đăng sơn khổ
Tự thán du du ủy tục tình
Cao Bá Quát
Bản dịch của tôi:
Lên Hoành Sơn
Đèo nối non xanh vạn dặm trường
Bên đèo nội cỏ tiễn lên đường
Anh hùng chớ kéo ngàn năm lại
Chiến trận còn trơ tiếng lũy suông
Ải bắc mây tan mưa tối dứt
Xóm nam trời hửng sáng mai hường
Xuống đèo mới thấu trèo đèo khổ
Lo lắng lòng than phó thói thường
Tôi chợt nhớ tới câu thơ của Nguyễn Du: Cổ kim vị kiến thiên niên quốc, xưa nay chưa bao giờ thấy có triều đại nào được nghìn năm. Câu thơ của Cao Bá Quát: Anh hùng mạc vãn thiên niên quốc, anh hùng đừng có cố kéo dài triều đại nghìn năm làm gì, chiến công xưa giờ chỉ còn mỗi cái tên lũy trơ trọi suông mà thôi. Tôi dịch câu thơ này không được trọn vẹn. Chẳng biết làm sao!
(Đông A dịch)
* Nguồn: http://donga01.blogspot.com/2010/06/ang-hoanh-son.html
* Chứng tích lịch sử:
Hoành Sơn vốn là biên giới tự nhiên giữa nước Đại Việt và Chămpa. Hiện trên dãy Hoành Sơn còn phế tích Lũy Lâm Ấp của Chămpa có từ thế kỷ 4.
Từ năm 992, đường đèo qua dãy núi Hoành Sơn chính thức được xây dựng dưới sự chỉ đạo của Ngô Tử An[3].
Thế kỷ 17, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nói với sứ của Nguyễn Hoàng rằng "Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân". Nguyễn Hoàng đã qua Hoành Sơn đến Thuận Hóa và làm nên nghiệp lớn của chúa Nguyễn ở Đàng Trong và nhà Nguyễn sau này.
Thời nhà Nguyễn, Hoành Sơn Quan được xây dựng trên đỉnh đèo Ngang và hình tượng trưng cho dãy Hoành Sơn được khắc vào Huyền đỉnh (một trong Cửu đỉnh).
(Wikipedia)
Sơn ngoại thanh sơn vạn lý trình
Sơn biên dã thảo tống nhân hành
Anh hùng mạc vãn thiên niên quốc
Chinh chiến không tồn nhất lũy danh
Bắc lĩnh đoạn vân thu túc vũ
Nam trang sơ hiểu đái tân tình
Há sơn phản giác đăng sơn khổ
Tự thán du du ủy tục tình
Cao Bá Quát
Bản dịch của tôi:
Lên Hoành Sơn
Đèo nối non xanh vạn dặm trường
Bên đèo nội cỏ tiễn lên đường
Anh hùng chớ kéo ngàn năm lại
Chiến trận còn trơ tiếng lũy suông
Ải bắc mây tan mưa tối dứt
Xóm nam trời hửng sáng mai hường
Xuống đèo mới thấu trèo đèo khổ
Lo lắng lòng than phó thói thường
Tôi chợt nhớ tới câu thơ của Nguyễn Du: Cổ kim vị kiến thiên niên quốc, xưa nay chưa bao giờ thấy có triều đại nào được nghìn năm. Câu thơ của Cao Bá Quát: Anh hùng mạc vãn thiên niên quốc, anh hùng đừng có cố kéo dài triều đại nghìn năm làm gì, chiến công xưa giờ chỉ còn mỗi cái tên lũy trơ trọi suông mà thôi. Tôi dịch câu thơ này không được trọn vẹn. Chẳng biết làm sao!
(Đông A dịch)
* Nguồn: http://donga01.blogspot.com/2010/06/ang-hoanh-son.html
* Chứng tích lịch sử:
Hoành Sơn vốn là biên giới tự nhiên giữa nước Đại Việt và Chămpa. Hiện trên dãy Hoành Sơn còn phế tích Lũy Lâm Ấp của Chămpa có từ thế kỷ 4.
Từ năm 992, đường đèo qua dãy núi Hoành Sơn chính thức được xây dựng dưới sự chỉ đạo của Ngô Tử An[3].
Thế kỷ 17, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nói với sứ của Nguyễn Hoàng rằng "Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân". Nguyễn Hoàng đã qua Hoành Sơn đến Thuận Hóa và làm nên nghiệp lớn của chúa Nguyễn ở Đàng Trong và nhà Nguyễn sau này.
Thời nhà Nguyễn, Hoành Sơn Quan được xây dựng trên đỉnh đèo Ngang và hình tượng trưng cho dãy Hoành Sơn được khắc vào Huyền đỉnh (một trong Cửu đỉnh).
(Wikipedia)
Ngày Thanh Minh cảm tác hoạ thơ Trần Ngộ Hiên

清明日感作和陳遇軒
悠悠人事幾洼隆,
節自驚心此夜同。
波靜寒魚空吸影,
月明高鳥尚疑宮。
江河勢逐嬴虛水,
今昔愁連上下風。
含石只勞精衛恨,
移山長笑老愚公。
Thanh Minh nhật cảm tác, hoạ thơ Trần Ngộ Hiên
Du du nhân sự kỷ oa long,
Tiết tự kinh tâm thử dạ đồng.
Ba tĩnh hàn ngư không hấp ảnh,
Nguyệt minh cao điểu thượng nghi cung.
Giang hà thế trục doanh hư thuỷ,
Kim tích sầu liên thượng hạ phong.
Hàm thạch chỉ lao tinh vệ hận,
Di sơn trường tiếu lão Ngu công.
Cao Bá Quát
Ngày Thanh Minh cảm tác, hoạ thơ Trần Ngộ Hiên
Thế sự miên man sụt với chồi
Đêm nay thời tiết hãi lòng người
Chim cao trăng sáng ngờ cung hão
Cá lạnh sóng yên đợp bóng chơi
Nước dẫn thế sông khi dấy cạn
Gió đưa sầu thế lúc dâng hồi
Hoài công Tinh Vệ còn tha đá
Dời núi Ngu Công để tiếng cười
Leopard dịch.
=====================
Leopard dịch nghĩa:
Việc đời dằng dặc, mấy bận lõm lồi (thịnh suy)
Thời tiết vốn lay động lòng người, đêm nay cũng vậy
Sóng yên con cá lạnh lẽo hoài đớp cái bóng
Trăng sáng con chim nơi cao vẫn nghi có chiếc cung.
Sông hồ, sức chảy theo con nước đầy vơi
Xưa nay, nỗi sầu cùng ngọn gió lên xuống
Ngậm đá chỉ nhọc sức, chim Tinh Vệ hận
Dời núi, cười dài ông lão Ngu Công. Đọc tiếp →
Thứ Sáu, 25 tháng 6, 2010
Ngẫu hứng tiết Thanh Minh
Thanh Minh ngẫu hứng
Đông phong trú dạ động giang thành
Nhân tự bi thê thảo tự thanh
Xuân nhật hữu thân phi thiếu tráng
Thiên nhai vô tửu đối Thanh minh
Thôn ca sơ học tang ma ngữ
Dã khốc thời văn chiến phạt thanh
Khách xá hàm sầu dĩ vô hạn
Mạc giao mao thảo cận giai sinh
Nguyễn Du, Thanh Hiên thi tập.
Ngẫu hứng tiết Thanh Minh
Gió đông sớm tối lộng bên thành
Người cứ buồn thương cỏ cứ xanh
Xuân đến nào thân thời trẻ khỏe
Trời bên không rượu tiết Thanh Minh
Câu ca trong xóm hay canh cửi
Tiếng khóc ngoài đồng tưởng chiến tranh
Quán trọ ôm sầu khôn kể xiết
Gần thềm chớ để cỏ leo quanh
Đông A dịch. Đọc tiếp →
Đông phong trú dạ động giang thành
Nhân tự bi thê thảo tự thanh
Xuân nhật hữu thân phi thiếu tráng
Thiên nhai vô tửu đối Thanh minh
Thôn ca sơ học tang ma ngữ
Dã khốc thời văn chiến phạt thanh
Khách xá hàm sầu dĩ vô hạn
Mạc giao mao thảo cận giai sinh
Nguyễn Du, Thanh Hiên thi tập.
Ngẫu hứng tiết Thanh Minh
Gió đông sớm tối lộng bên thành
Người cứ buồn thương cỏ cứ xanh
Xuân đến nào thân thời trẻ khỏe
Trời bên không rượu tiết Thanh Minh
Câu ca trong xóm hay canh cửi
Tiếng khóc ngoài đồng tưởng chiến tranh
Quán trọ ôm sầu khôn kể xiết
Gần thềm chớ để cỏ leo quanh
Đông A dịch. Đọc tiếp →
Sớm xuân
Xuân hiểu
Xuân miên bất giác hiểu
Xứ xứ văn đề điểu
Dạ lai phong vũ thanh
Hoa lạc tri đa thiểu
Mạnh Hạo Nhiên
Sớm xuân
Giấc xuân vùi đâu hay trời sáng
Khắp chốn nơi đua tiếng chim ca
Đêm qua mưa dội gió gào
Cánh hoa rơi rụng biết là bao nhiêu
Leopard dịch. Đọc tiếp →
Xuân miên bất giác hiểu
Xứ xứ văn đề điểu
Dạ lai phong vũ thanh
Hoa lạc tri đa thiểu
Mạnh Hạo Nhiên
Sớm xuân
Giấc xuân vùi đâu hay trời sáng
Khắp chốn nơi đua tiếng chim ca
Đêm qua mưa dội gió gào
Cánh hoa rơi rụng biết là bao nhiêu
Leopard dịch. Đọc tiếp →
Thứ Tư, 23 tháng 6, 2010
Đỗ thuyền đêm trên bến Phong Kiều

楓橋夜泊
月落烏啼霜満天
江楓漁火対愁眠
姑蘇城外寒山寺
夜半鐘声到客船
張継
Phong Kiều dạ bạc
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.
Trương Kế
Đỗ thuyền đêm trên bến Phong Kiều
Sương đầy trời quạ kêu trăng lẩn
Đối giấc sầu cây bến lửa chài
Cô Tô thuyền khách đậu ngoài
Nửa đêm vọng tới chuông chùa Hàn San.
Leopard dịch.
===============================
Chữ đáo 到 : tạo bởi ghép chữ chí 至 (nghĩa) + đao刂(âm). Nghĩa nằm ở chữ “chí”: hình con chim chạm, đáp xuống đất…Đáo cho nghĩa của sự đến, đáp xuống đích, tới nơi, đạt được. Đến với chủ ý, không ngẫu nhiên. (Phật học: đáo bỉ ngạn: sang bờ bên kia, giác ngộ)
Giang phong: cây phong, hàng phong, mọc theo bờ sông, phong: (chiết tự: mộc + phong: cây uốn theo gió) cây phong Tàu, theo người sinh trưởng tại vùng này, cho biết tương tự như giống phong (maple) ở Ontario, Canada, nhưng nhỏ cây và nhỏ lá hơn.
Ngư hỏa: đèn (hay ánh đèn) của thuyền đánh cá trên sông.
http://chuyendaudau.blogspot.com/2009/03/tieng-chuong-chua-trong-phong-kieu-da.html Đọc tiếp →
Lên cao

Đăng cao
Phong cấp thiên cao viên khiếu ai
Chử thanh sa bạch điểu phi hồi
Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ
Bất tận trường giang cổn cổn lai
Vạn lý bi thu thường tác khách
Bách niên đa bệnh độc đăng đài
Gian nan khổ hận phồn sương mấn
Lạo đảo tân đình trọc tửu bôi
Đỗ Phủ
Lên cao
Gió gấp trời cao vượn ỉ ôi
Bến trong cát trắng cánh chim hồi
Xạc xào lá rụng không biên giới
Cuồn cuộn sông về chẳng lúc thôi
Vạn dặm thu sầu thường nhiễu khách
Trăm năm thân yếu vẫn leo đồi
Gian nan khổ hận đầu thêm bạc
Xiêu đảo mới dừng chén rượu hôi
Leopard dịch.
Phong cấp thiên cao viên khiếu ai
Chử thanh sa bạch điểu phi hồi
Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ
Bất tận trường giang cổn cổn lai
Vạn lý bi thu thường tác khách
Bách niên đa bệnh độc đăng đài
Gian nan khổ hận phồn sương mấn
Lạo đảo tân đình trọc tửu bôi
Đỗ Phủ
Lên cao
Gió gấp trời cao vượn ỉ ôi
Bến trong cát trắng cánh chim hồi
Xạc xào lá rụng không biên giới
Cuồn cuộn sông về chẳng lúc thôi
Vạn dặm thu sầu thường nhiễu khách
Trăm năm thân yếu vẫn leo đồi
Gian nan khổ hận đầu thêm bạc
Xiêu đảo mới dừng chén rượu hôi
Leopard dịch.
--------------------------
登高
風急天高猿嘯哀
渚清沙白鳥飛回
無邊落木蕭蕭下
不盡長江滾滾來
萬里悲秋常作客
百年多病獨登臺
艱難苦恨繁霜鬢
潦倒新停濁酒杯
杜甫
* Đỗ Phủ 杜甫 (712-770) tự Tử Mĩ, hiệu Thảo Đường, người đời sau gọi là Đỗ Thiếu Lăng, Đỗ Lăng Tẩu, Đỗ Công Bộ hay còn gọi là Lão Đỗ để phân biệt với Tiểu Đỗ là Đỗ Mục. Đọc tiếp →
Thứ Ba, 22 tháng 6, 2010
Cảm xúc đầu thu kỳ II
Sơ thu cảm hứng (II)
Giang thượng tây phong mộc diệp hy
Hàn thiền chung nhật táo cao chi
Kỳ trung tự hữu thanh thương điệu (1)
Bất thị sầu nhân bất hứa tri
Nguyễn Du
Giang thượng tây phong mộc diệp hy
Hàn thiền chung nhật táo cao chi
Kỳ trung tự hữu thanh thương điệu (1)
Bất thị sầu nhân bất hứa tri
Nguyễn Du
Cảm hứng đầu thu (II)
Gió thổi trên sông lá lắt lay
Cành cao ve lạnh suốt hôm rầy
Vì chưng tiếng có thanh thương điệu
Chẳng phải người buồn chẳng biết thay
Leopard dịch.
(1) Thanh thương điệu: Âm điệu buồn nhất trong ngũ âm của nhạc cổ.
* http://thohanviet.tripod.com/
Leopard dịch.
(1) Thanh thương điệu: Âm điệu buồn nhất trong ngũ âm của nhạc cổ.
* http://thohanviet.tripod.com/

----------------------
初秋感興其二
江上西風木葉稀
寒蟬終日噪高枝
其中自有清商調
不是愁人不許知
阮攸
Đọc tiếp →
Trăng non
初月
吸得陽光纔上天,
初三初四未團圓。
嫦娥妝鏡微開匣,
壯士彎弓不上弦。
千里關山無改色,
一庭霜露共愁眠。
徘徊正憶鴻山夜,
卻在羅浮江水邊。
Sơ nguyệt
Hấp đắc dương quang tài thướng thiên,
Sơ tam sơ tứ vị đoàn viên.
Thường Nga trang kính vi khai hạp,
Tráng sĩ loan cung bất thướng huyền.
Thiên lý quan san vô cải sắc,
Nhất đình sương lộ cộng sầu miên.
Bồi hồi chính ức Hồng sơn dạ,
Khước tại La Phù giang thuỷ biên.
Nguyễn Du
Trăng non
Hớp chút ánh dương mới ló mày
Mùng ba mùng bốn chẳng tròn đầy
Hằng Nga gương điểm hơi xô nắp
Tráng sĩ cung giương chửa kéo dây
Ngàn dặm quan san không sắc đổi
Một sân sương móc giấc sầu bày
Bồi hồi ngay nhớ đêm Hồng Lĩnh
Giờ bến La Phù lại ở đây
Đông A dịch
* http://thohanviet.tripod.com/ Đọc tiếp →
吸得陽光纔上天,
初三初四未團圓。
嫦娥妝鏡微開匣,
壯士彎弓不上弦。
千里關山無改色,
一庭霜露共愁眠。
徘徊正憶鴻山夜,
卻在羅浮江水邊。
Sơ nguyệt
Hấp đắc dương quang tài thướng thiên,
Sơ tam sơ tứ vị đoàn viên.
Thường Nga trang kính vi khai hạp,
Tráng sĩ loan cung bất thướng huyền.
Thiên lý quan san vô cải sắc,
Nhất đình sương lộ cộng sầu miên.
Bồi hồi chính ức Hồng sơn dạ,
Khước tại La Phù giang thuỷ biên.
Nguyễn Du
Trăng non
Hớp chút ánh dương mới ló mày
Mùng ba mùng bốn chẳng tròn đầy
Hằng Nga gương điểm hơi xô nắp
Tráng sĩ cung giương chửa kéo dây
Ngàn dặm quan san không sắc đổi
Một sân sương móc giấc sầu bày
Bồi hồi ngay nhớ đêm Hồng Lĩnh
Giờ bến La Phù lại ở đây
Đông A dịch
* http://thohanviet.tripod.com/ Đọc tiếp →
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
