
01. ĐA vs NL:
* ĐA: "Những từ này, lặp lại, tạo ra một sức hút tận cõi lòng sâu thẳm của Irena, cô thấy chúng được viết hoa: Sự Trở Về Lớn Lao. Cô bỏ đi những do dự của mình: cô say đắm với những hình ảnh chợt khuấy lên từ những quyển sách cô đã đọc từ lâu, từ những bộ phim, từ ký ức của chính cô, và có thể cả từ ký ức của tổ tiên cô: đứa con lưu lạc trở về nhà với mẹ già của mình; trở về mảnh đất thân thương mà số mệnh ác nghiệt đã đẩy nó ra khỏi đó; nhà cửa ruộng nương mà chúng ta mang mãi trong lòng; con đường mòn được phát hiện lại vẫn đánh dấu bằng những dấu chân quên lãng của tuổi thơ; Odysseus trông thấy hòn đảo của mình sau những năm tháng lang thang; sự trở về, sự trở về, điều kỳ diệu tuyệt vời của sự trở về."
[Repeated, the words took on such power that, deep inside her, Irena saw them written out with capital initials: Great Return. She dropped her resistance: she was captivated by images suddenly welling up from books read long ago, from films, from her own memory, and maybe from her ancestral memory: the lost son home again with his aged mother; the man returning to his beloved from whom cruel destiny had torn him away; the family homestead we all carry about within us; the rediscovered trail still marked by the forgotten footprints of childhood; Odysseus sighting his island after years of wandering; the return, the return, the great magic of the return.]
"Không đánh thức chàng dậy, những thuỷ thủ Phaeacian đặt Odysseus vẫn quấn trong chăn nằm xuống cạnh cây ô liu trên bờ biển Ithaca, và sau đó họ ra đi. Kết thúc cuộc hành trình của chàng như thế. Chàng ngủ vùi, mê mệt. Khi tỉnh dậy, chàng không thể nói rằng chàng đang ở đâu. Lúc đấy Athena xoá sạch lớp sương mù khỏi mắt chàng và đó là nỗi sung sướng vô ngần; nỗi sung sướng của Sự Trở Về Lớn Lao; niềm đê mê của sự thân thuộc; âm nhạc ngân lên những rung động không trung giữa đất và trời: chàng thấy bến tàu mà chàng quen biết từ thủa ấu thơ, và dãy núi cao soi mình trên đó, và chàng vuốt ve cây ô liu già để tin chắc rằng đấy cũng chính là cái cây của hai mươi năm trước."
* Nhị Linh: "Được nhắc lại, những từ ấy mang một sức mạnh lớn đến mức, trong thâm tâm, Irena nhìn thấy chúng được viết ra bằng chữ in hoa: Cuộc Trở Về Vĩ Đại. Cô không cố cưỡng lại nữa: cô bị mê hoặc bởi các hình ảnh đột nhiên hiện lên từ những cuốn sách đọc từ xưa, những bộ phim, từ ký ức của chính cô và có lẽ cả ký ức của tổ tiên cô nữa: đứa con trai lưu lạc trở về nhà với bà mẹ già; người đàn ông trở về với người vợ thân yêu, mà số phận tàn đọc ngày xưa từng buộc anh rời bỏ; ngôi nhà tuổi thơ mà ai cũng mang trong lòng; lối đi nhỏ tìm thấy lại, nơi còn in dấu những bước chân thưở nhỏ; Ulysee nhìn thấy lại hòn đảo của mình sau những năm lang thang; cuộc trở về, cuộc trở về, sự màu nhiệm của cuộc trở về.'
"Vẫn để yên cho chàng ngủ, các thuỷ thủ Phéacie đặt Ulysee quấn người trong chăn lên bờ biển Ithaque, dưới gốc một cây ô liu, rồi bỏ đi. Đó là kết cục của chuyến đi. Chàng kiệt sức nằm đó ngủ. Khi tỉnh dậy, chàng không biết là mình đang ở đâu. Rồi Athéna vén sương mù khỏi mắt chàng và tiếp đó là cơn say; cơn say của Cuộc Trở Về Vĩ Đại; nỗi phấn khích của cái đã biết; thứ nhạc làm run rẩy làn không khí giữa đất và trời; chàng nhìn thấy cái vũng biển mà chàng biết rõ từ tấm bé, ngọn núi nằm kề bên, và chàng vuốt ve thân cây ô liu để chắc chắn rằng nó vẫn giống y như hai mươi năm trước."
02. VHL bi bô:
Kundera có viết một tiểu thuyết ngắn mang chủ đề “nostalgia” có tên tiếng Anh “Ignorance” (Sự không biết) về “hoài niệm” của những người xa quê. Ông so sánh nỗi nhớ quê với sự ghi nhớ của ký ức:
"During the twenty years of Odysseus' absence, the people of Ithaca retained many recollections of him but never felt nostalgia for him. Whereas Odysseus did suffer nostalgia, and remembered almost nothing.
We can comprehend this curious contradiction if we realize that for memory to function well, it needs constant practice: if recollections are not evoked again and again, in conversations with friends, they go. Émigrés gathered together in compatriot colonies keep retelling to the point of nausea the same stories, which thereby become unforgettable. But people who do not spend time with their compatriots, Iike Irena or Odysseus, are inevitably stricken with amnesia. The stronger their nostalgia, the emptier of recollections it becomes. The more Odysseus languished, the more he forgot. For nostalgia does not heighten memory's activity, it does not awaken recollec tions; it suffices unto itself, unto its own feelings, so fully absorbed is it by its suffering and nothing else."
[NL: "Trong hai mươi năm vắng mặt Odysseus, người Ithaca vẫn lưu giữ nhiều ký ức về chàng, nhưng chưa bao giờ họ cảm thấy hoài niệm về chàng. Trong khi Odysseus thì hoài niệm, nhưng gần như không nhớ được ký ức gì.
Chúng ta có thể hiểu được sự mâu thuẫn này nếu chúng ta biết rằng để cho trí nhớ hoạt động tốt, nó cần thường xuyên luyện tập: nếu các ký ức không được nhắc lại thỉnh thoảng, trong đối thoại với bạn bè, chúng sẽ ra đi. Những người lưu vong thường tụ họp trong những cộng đồng đồng bào để kể cho nhau, nhiều tới mức buồn nôn, những câu chuyện giống nhau , và vì thế những câu chuyện đó trở nên khó quên. Nhưng với những người không dành thời gian của mình ở bên những người đồng bào như Irena hay Odysseus thì sẽ không thể nào tránh khỏi việc mất trí nhớ. Lòng hoài niệm của họ càng mạnh mẽ, các ký ức càng trở nên trống rỗng. Odysseus càng buồn khổ, chàng lại càng quên nhiều. Bởi hoài niệm không làm tăng hoạt động của trí nhớ, nó không đánh thức các ký ức; nó tự hài lòng với mình, tự hòa vào cảm giác của nó, tự vùi lấp trong nỗi đau của nó và không gì khác nữa.”]
Trong câu thơ của Thanh Tâm Tuyền “Ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới”, thì nỗi nhớ ở đây không phải nỗi nhớ của hai người yêu nhau, mà là một nỗi nhớ hoài niệm. Thời gian đã là một cái trục ngược chiều, khi người ta hoài niệm không chỉ quá khứ mà cả tương lai. Cảm giác đó chỉ có khi người ta biết rằng đó là hoài niệm, rằng không phải tôi sẽ nhớ tới em trong vòng tay tôi ngày hôm nay, mà tôi sẽ nhớ cái cảm giác của tôi ngày hôm nay, nhớ đôi mắt sáng long lanh của em (chẳng hạn) và những gì nó gợi trong tôi lúc này. Hay đúng hơn nữa, những thứ đó sẽ không trở thành một ký ức cụ thể với tôi, mà sẽ trôi vào trong cảm giác của tôi một ngày nào đó trong tương lai. Và tôi cảm được cái ngày đó ngay từ bây giờ, vào lúc này.
“Anh sợ những cột đèn đổ xuống
Rồi dây điện cuốn lấy chúng ta
Bóp chết mọi hy vọng
Nên anh dìu em đi xa
Đi đi chúng ta đến công viên
Nơi anh sẽ hôn em đắm đuối
Ôi môi em như mật đắng
Như móng sắc thương đau
….Ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới
Chiếc kèn hát mãi than van
Điệu nhạc gầy níu nhau tuyệt vọng
…”
[Dạ khúc- Thanh Tâm Tuyền]
Hoài niệm và Odysseus. Kundera viết về Odysseus và nỗi nhớ quê của chàng. James Joyce cũng từ câu chuyện chàng Odysseus để viết nên tác phẩm văn học lớn nhất thế kỷ 20. Cả Kundera và Joyce đều là những kẻ lưu vong, một bị bắt buộc, một tự nguyện. Hẳn vì thế mà cả hai đều cảm thấy gần gũi với Odysseus.
Một nhà văn lớn khác, Jorge Luis Borges, cũng viết về Odysseus:
“Người ta nói Ulysses, mệt mỏi vì các kỳ quan chàng thấy,
Khóc với yêu thương khi thấy lại Ithaca, xanh mướt, khiêm nhường.
Nghệ thuật chính là Ithaca,
Một màu xanh vĩnh cửu, nào phải kỳ quan. ”
Borges cũng là một kẻ lưu vong-lưu vong trên chính quê hương mình, trong những bức tường thư viện u tối, với đôi mắt dần mù lòa. Nostalgia của ông không còn là nostalgia về một miền đất, một khoảng thời gian, một nền văn hóa hay một lối sống cụ thể, mà đã trở thành sự tìm kiếm một trạng thái tồn tại khác. Thời gian và ký ức (thực - hư) luôn là những thứ ám ảnh Borges.
“Hãy nhìn dòng sông được tạo bởi thời gian và nước
Và nhớ rằng Thời Gian là một dòng sông khác
Để biết chúng ta lưu lạc như sông
Và khuôn mặt ta biến mất đi như nước.”
[Nghệ thuật thi ca- Borges]
“Ở phía bên kia, nơi chúng ta từng trẻ
Có một thế giới quyến rũ diệu kỳ
Những ý nghĩ của chúng ta lang thang
Không dừng lại, không biên giới
Khi tiếng chuông đổ vang...
Cỏ thêm xanh tươi
Ngày thêm rạng rỡ
Vị thêm ngọt ngào
Những đêm kỳ diệu
Bên cạnh bè bạn
Sương mai lóng lánh
Nước chảy trong lành
Dòng sông vô tận”
(High Hopes- Pink Floyd)
Ngày gặp lại, nếu Ithaca không còn xanh mướt, khiêm nhường, chắc gì Odysseus đã khóc?
03. Nostalgia = nostos (return) + algos (suffering)
"The Greek word for "return" is nostos. Algos means "suffering." So nostalgia is the suffering caused by an unappeased yearning to return. To express that fundamental notion most Europeans can utilize a word derived from the Greek (nostalgia, nostalgie) as well as other words with roots in their national languages: añoranza, say the Spaniards; saudade, say the Portuguese. In each language these words have a different semantic nuance. Often they mean only the sadness caused by the impossibility of returning to one's country: a longing for country, for home. What in English is called "homesickness." Or in German: Heimweh. In Dutch: heimwee. But this reduces that great notion to just its spatial element. One of the oldest European languages, Icelandic (like English) makes a distinction between two terms: söknuour: nostalgia in its general sense; and heimprá: longing for the homeland. Czechs have the Greek-derived nostalgie as well as their own noun, stesk, and their own verb; the most moving, Czech expression of love: styska se mi po tobe ("I yearn for you," "I'm nostalgic for you"; "I cannot bear the pain of your absence"). In Spanish añoranza comes from the verb añorar (to feel nostalgia), which comes from the Catalan enyorar, itself derived from the Latin word ignorare (to be unaware of, not know, not experience; to lack or miss), In that etymological light nostalgia seems something like the pain of ignorance, of not knowing. You are far away, and I don't know what has become of you. My country is far away, and I don't know what is happening there. Certain languages have problems with nostalgia: the French can only express it by the noun from the Greek root, and have no verb for it; they can say Je m'ennuie de toi (I miss you), but the word s'ennuyer is weak, cold -- anyhow too light for so grave a feeling. The Germans rarely use the Greek-derived term Nostalgie, and tend to say Sehnsucht in speaking of the desire for an absent thing. But Sehnsucht can refer both to something that has existed and to something that has never existed (a new adventure), and therefore it does not necessarily imply the nostos idea; to include in Sehnsucht the obsession with returning would require adding a complementary phrase: Sehnsucht nach der Vergangenheit, nach der verlorenen Kindheit, nach der ersten Liebe (longing for the past, for lost childhood, for a first love)."
[NL: chờ update...]


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét