Thứ Hai, 31 tháng 5, 2010

Tâm trí tôi để đâu?



Để đôi chân trên không trung và đầu trên mặt đất,
Hãy thử trò này và xoay cho tròn.
Đầu của anh sẽ xẹp lép
Nếu không có gì trong nó,
Và anh sẽ tự hỏi:

Tâm trí tôi để đâu?
Tâm trí tôi để đâu?
Cách xa dưới nước,
Thấy nó đang bơi.

Tôi từng bơi ở biển Caribbean,
Động vật đều nấp sau đá tảng,
Ngoại trừ một con cá nhỏ,
Nó đã bảo tôi, Đông là Tây,
Cố gắng nói với tôi, cái con coy koi…

Tâm trí tôi để đâu?
Tâm trí tôi để đâu?
Cách xa dưới nước,
Thấy nó đang bơi.

Pixies

Đọc tiếp →

Chủ Nhật, 30 tháng 5, 2010

Xin chào Đầu búa



She told me to stay
or go away,
and I looked in her eyes and left her.
Some people try
to tell me why
I made up my mind and left her.

Caribou


Đọc tiếp →

Người treo cổ



"Hãy nới dây thừng của anh, người treo cổ, hãy nới nó một lát,
Tôi nghĩ là thấy người yêu tôi đang chạy đến từ khá xa đây."

"Em ơi, phải em mang tới hi vọng, hay em trả tiền chuộc cho tôi
Hay em tới để xem tôi treo mình trên giá treo này?"

"Vâng, em mang tới hi vọng, em đã trả tiền chuộc cho anh,
Bởi vì em không tới để xem anh treo mình trên giá treo này."
Đọc tiếp →

Thứ Bảy, 29 tháng 5, 2010

Ngụy biện - Viện Dẫn tới Động Cơ (thay vì Sở Cứ)




II. Viện Dẫn tới Động Cơ thay vì Sở Cứ (Appeals to Motive (1) in Place of Support)

Ngụy biện trong mục này thông thường được vận dụng để viện dẫn tới cảm xúc hay những yếu tố tâm lý khác. Theo cách này, chúng không đưa ra những lý lẽ cho niềm tin.

Những ngụy biện sau đây là sự viện dẫn tới động cơ thay vì sở cứ:

Viện dẫn tới Quyền lực (Appeal to Force)
Viện dẫn tới Tình thương (Appeal to Pity)
Viện dẫn tới Hệ quả (Appeal to Consequences)
Ngôn ngữ định kiến (Prejudicial Language)
Viện dẫn tới Tính quần chúng (Appeal to Popularity)


* Nguồn: http://www.onegoodmove.org/fallacy/motive.htm

01. Viện dẫn tới Quyền lực (argumentum ad baculum)

Định nghĩa:
Người đọc được nói rằng những hệ quả khó chịu sẽ kéo tới nếu họ không đồng ý với tác giả.

Ví dụ:
i. Bạn tốt hơn nên đồng ý rằng chính sách mới của công ty là sự đầu tư tốt nhất nếu bạn muốn giữ công việc của mình.
ii. NAFTA là sai, và nếu bạn không bỏ phiếu chống lại NAFTA thì chúng tôi sẽ biểu quyết cho bạn rời khỏi văn phòng.

Chứng minh:
Nhận dạng sự cảnh báo và mệnh đề, rồi phản biện rằng sự cảnh báo là không liên hệ với tính đúng hay sai của mệnh đề.

02. Viện dẫn tới Tình thương (argumentum ad misercordiam)

ĐN:
Người đọc được nói rằng phải đồng ý với mệnh đề, bởi vì tình trạng đáng thương của tác giả.

VD:
Chúng tôi hi vọng ngài sẽ chấp nhận những đề xuất của chúng tôi. Chúng tôi đã dùng ba tháng cuối để làm việc ngoài giờ với chúng.

CM:
Nhận dạng mệnh đề và sự viện dẫn tới tình thương, rồi phản biện rằng tình trạng đáng thương của người tranh luận không có gì liên đới tới tính đúng của mệnh đề.

03. Viện dẫn tới Hệ quả

ĐN:
Tác giả chỉ ra những hệ quả khó chấp nhận từ việc nắm giữ một niềm tin cụ thể, ngõ hầu chỉ ra niềm tin này là sai.

VD:
i. Bạn không thể tán thành sự tiến hóa là đúng, bởi nếu thế ta sẽ không tốt đẹp gì hơn loài khỉ vượn. ii. Bạn phải tin có Chúa, nếu không cuộc đời sẽ chẳng có ý nghĩa nào. (Có thể, nhưng cũng có khả năng ngang bằng là bởi vì cuộc đời không có ý nghĩa mà Chúa không tồn tại.)

CM:
Nhận dạng những hệ quả, rồi phản biện rằng những gì ta muốn là một case không ảnh hưởng tới những gì thực sự là một case.

04. Ngôn ngữ định kiến

ĐN:
Những thuật ngữ nặng nề hay gây cảm xúc được dùng để gắn giá trị hay phẩm tính đạo đức với sự tin tưởng vào một mệnh đề.

VD:
i. Những người Canada suy nghĩ đúng đắn sẽ đồng ý với tôi là chúng ta nên có một cuộc biểu quyết tự do khác về án tử hình.
ii. Một người biết điều có thể sẽ đồng ý rằng bản kê khai thu nhập của chúng ta quá thấp.
iii. Nghị sĩ Turner cho là mức thuế mới sẽ giảm thiểu sự thâm hụt. (Ở đây, cách dùng "cho là" (claim) (1) ngụ ý rằng những gì Turner nói là sai.)
iv. Bản kiến nghị hầu như bị những quan chức của Nghị viện phản đối. (So sánh câu này với: Bản kiến nghị hầu như bị các viên chức của Nghị viện loại bỏ.)

CM:
Nhận dạng những thuật ngữ định kiến được dùng (ví dụ như "Những người Canada suy nghĩ đúng đắn" hay "Một người biết điều"). Chỉ ra là sự bất đồng với kết luận không làm một người thành "suy nghĩ sai trái" hay "không biết điều."

05. Viện dẫn tới Tính quần chúng

ĐN:
Một mệnh đề được xem là đúng bởi vì nó được đa số xem là đúng hay được phần nào đó dân chúng (thường là tầng lớp trên) xem là đúng. Ngụy biện này đôi khi cũng được gọi là "Viện dẫn tới Cảm xúc" bởi vì toàn thể những viện dẫn cảm xúc thường gây ảnh hưởng tới dân chúng.

VD:
i. Nếu cô xinh đẹp, cô có thể sống như thế, vậy hãy mua Buty-EZ và trở nên xinh đẹp. (Ở đây, sự viện dẫn là tới "những người xinh đẹp".)
ii. Những cuộc điều tra dư luận đề xuất là những người thuộc đảng Tự Do sẽ thành lập một chính phủ dành cho số đông, do đó bạn có thể bỏ phiếu cho họ cũng chẳng sao.
iii. Mọi người đều biết quả đất là phẳng, vậy sao anh cứ khăng khăng giữ cái phát biểu lạ lùng của mình?

CM:
none.

------------------------
* (1): Motive
Def:
"implies an emotion or desire operating on the will and causing it to act" - Meriam-webster.
"the reason that makes someone do something, especially when this reason is kept hidden" - Longman.

Syn:
motive, impulse (bốc đồng, phấn khích), incentive (khích lệ), inducement (dẫn dụ), spur (thúc đẩy, thúc giục), goad.

Puzz:
Motive vs purpose? (dif. positions in a process)
Motive vs reason/ground/support? (dif. functions: explaining and reasoning)

* (2): Claim
Syn: claim (demand), state, declare, held, announce, proclaim, assert, etc.
Đọc tiếp →

Thứ Năm, 27 tháng 5, 2010

Trống cơm



260.
Trống cơm khéo vỗ nên vông,
Một bầy con sít lội sông đi tìm.
Thương ai con mắt lim dim,
Một bầy con nhện đi tìm giăng tơ,
Thương ai duyên nợ tang bồng.


http://www.quangduc.com/tho/252cadao1t.html

Q:Xin cho tôi biết ý nghĩa của bài hát: Trống cơm?

A: Ô hay, cũng có người để ý đến cái ẩn ý nửa cười nửa khóc của làn điệu dân ca này nhỉ. Câu hỏi thú vị quá!

"Tình bằng có cái trống cơm khen ai khéo vỗ ấy mấy bông nên bông, ấy mấy bông nên bông"

Đó tưởng như là mô tả cảnh đánh trống ở một làng quê Việt nam nào, nhưng ta hãy nhắm mắt lại đừng nhìn mà nghe và nghĩ kỹ thêm:
- Cái trống gì nho nhỏ mà người vỗ vào thì "bông nên bông"?
- Cái thú chơi gì lạ kỳ... cái kiểu khen gì lạ kỳ (khen hay giễu khó biết!)... gọi là chơi trống có được không nhỉ. Có cô bé nào mới lớn đừng có ngây thơ mà ra đình làng xem mấy anh chơi trống mà có ngày "bông nên bông" đấy!

Thế rồi đang từ chơi trống, vác trống... mấy con Sít kia mò mẫm đi đâu? lội sông đi đâu? tìm ai mà phải vất vả thế, mò mẫm thế? Hay là đi tìm cái kẻ ham chơi trống, nhưng giỏi quất ngựa truy phong? Thôi thì cứ tìm đi, tìm đi cho thỏa nỗi "nhớ thương ai", em đáng thương ạ!

"Tình bằng ấy là con nhện, ố ô,... ố mấy chăng tơ... chăng tơ ấy mấy đi tìm em nhớ thương ai"
Cái hình tượng con nhện chăng tơ thật quá đắt, các cụ quá giỏi, quá tinh tế. Cái chữ tình đúng là như cái lưới nhện, vừa dính, vừa rắc rối. Cái tơ nhện giăng ra trói bắt con ruồi, nhưng có ai đã từng lặng ngắm cái tơ nhện mong manh trơ trọi trong không trung trước gió, chắc không khỏi cảm thấy có chút cám cảnh...

Cả làn điệu dân ca chốt lại có mấy câu thôi "duyên nợ khách tang bồng". Đó là cái duyên nợ gì mà đọc lên như thấy phù vân, ảo huyễn của cuộc đời. Dân ca Việt bay bướm, làn điệu ngọt lịm mà ý tứ thẳm sâu. Vừa là hát đùa cho vui, vừa là lời nhắc khéo nhẹ nhàng, nhưng để lại sau một câu ca bay đi là cả nỗi suy tư.

Thân mến.





Chạm vào một nhánh tầm xuân...




Lích cha lích chích vành khuyên...




Giăng tơ... cứ tưởng thời gian mắc vào...




...

Đọc tiếp →

Thứ Tư, 19 tháng 5, 2010

Sao trời



Anh cách em như đất liền xa cách bể
Nửa đêm sâu nằm lắng sóng phương em
Em thân thuộc sao thành xa lạ thế
Sắp gặp em rồi sóng lại đẩy xa thêm

Anh không ngủ. Phải vì em đang nhớ
Một trời sao rực cháy giữa đôi ta
Em nhắm mắt cho lòng anh lặng gió
Cho trời sao yên rụng một đêm hoa.

Chùm nhỏ thơ yêu - Chế Lan Viên

...
Tiếng ốc trên chòi rúc thiết tha
Gió lay cót két rặng tre già
Sao trời từng chiếc rơi thành lệ
Sương khói bên đồng ủ bóng mơ.

Trăng hè - Đoàn Văn Cừ
Đọc tiếp →

Thứ Ba, 18 tháng 5, 2010

Con cuốc cùng con chẫu chuộc


Bờ ao trên bụi có con cuốc
Ở dưới lại có con chẫu chuộc
Hai con cùng ở cùng hay kêu
Một con kêu thảm con kêu nhuốc
Chuộc kêu đắc ý gặp tuần mưa
Cuốc kêu đau lòng thương xuân qua
Cùng một bờ ao, một bụi rậm
Phong cảnh không khác, tình thì xa!

Tản Đà
Đọc tiếp →

Chiều dông mùa hạ ai ôm ai nhớ

Ai ơi còn nhớ ai không
Chiều dông mùa hạ thân không che người
Gió lay mưa đổ trắng trời
Bên tường phố cũ ôm ghì không ngơi

Thể nào chả có giọt rơi
Luồn vào da thịt cho người mặn môi.

Leopard
Đọc tiếp →

Mộ xuân tức sự



Nhàn trung tận nhật bế thư trai
Môn ngoại toàn vô tục khách lai
Ðỗ Vũ thanh trung xuân hướng lão
Nhất đình sơn vũ luyện hoa khai

Nguyễn Trãi

Tức cảnh cuối xuân

Cả ngày nhàn phòng văn khép chặt
Cửa bên ngoài không khách ghé sang
Quyên kêu xuân đã muộn màng
Một sân mưa bụi hoa xoan nở dầy

Leopard dịch.

----------------------

暮春即事

閑中盡日閉書齋,
門外全無俗客來。
杜宇聲中春向老,
一庭疏雨楝花開。

阮廌

Nguyễn Trãi 阮廌 (1380-1442), hiệu là Ức Trai 抑齋, quê ở Chi Ngại (Chí Linh, Hải Dương) sau dời về Nhị Khê (Thường Tín, Hà Tây). Cha là Nguyễn Phi Khanh, một học trò nghèo, học giỏi, đỗ thái học sinh (tiến sĩ). Mẹ là Trần Thị Thái, con Trần Nguyên Đán, một qúy tộc đời Trần.

Lên sáu tuổi, mất mẹ, lên mười tuổi, ông ngoại qua đời, ông về ở Nhị Khê, nơi cha dạy học. Năm hai mươi tuổi, năm 1400, ông đỗ thái học sinh và hai cha con cùng ra làm quan với nhà Hồ. Năm 1407, giặc Minh cướp nước tạ Nguyễn Phi Khanh bị chúng đưa sang Trung Quốc. Nguyễn Trãi và một người em đi theo chăm sóc. Nghe lời cha khuyên, ông trở về, nhưng bị quân Minh bắt giữ. Sau đó, ông tìm theo Lê Lợi. Suốt mười năm chiến đấu, ông đã góp công lớn vào chiến thắng vẻ vang của dân tộc.

Đầu năm 1428, quét sạch quân thù, ông hăm hở bắt tay vào xây dựng lại nước nhà thì bỗng dưng bị nghi oan và bắt giam. Sau đó ông được tha, nhưng không còn được tin cậy như trước. Ông buồn, xin về Côn Sơn. Đó là vào những năm 1438-1440. Năm 1440, Lê Thái Tông mời ông trở lại làm việc và giao cho nhiều công việc quan trọng. Ông đang hăng hái giúp vua thì xảy ra vụ nhà vua chết đột ngột ở Trại Vải (Lệ Chi Viên, Bắc Ninh). Vốn chứa thù từ lâu đối với Nguyễn Trãi, bọn gian tà ở triều đình vu cho ông âm mưu giết vua, khép vào tội phải giết cả ba họ năm 1442.

Nỗi oan tày trời ấy, hơn hai mươi năm sau, 1464, Lê Thánh Tông mới giải toả, rồi cho sưu tầm lại thơ văn ông và tìm người con trai sống sót cho làm quan.

Nguyễn Trãi là bậc đại anh hùng dân tộc và là một nhân vật toàn tài hiếm có của lịch sử Việt Nam trong thời đại phong kiến. Ở Nguyễn Trãi có một nhà chính trị, một nhà quân sự, một nhà ngoại giao, một nhà văn hoá, một nhà văn, một nhà thơ tầm cỡ kiệt xuất.

Nhưng Nguyễn Trãi cũng là một người đã phải chịu những oan khiên thảm khốc, do xã hội cũ gây nên cũng tới mức hiếm có trong lịch sử.

Nguồn dẫn: http://www.thivien.net/viewauthor.php?ID=43
Đọc tiếp →

Học cuộc cờ



Học dịch kỳ (kì nhị)

Nhãn quang ưng đại tâm ưng tế
Kiên quyết thời thời yếu tấn công
Thác lộ song xa dã một dụng
Phùng thời nhất tốt khả thành công.

Hồ Chí Minh

Dịch nghĩa:

Cái nhìn cần rộng, mưu tính cần kỹ càng,
Kiên quyết không ngơi lấy tấn công làm trọng.
Lạc nước, đôi xe cũng vô dụng,
Gặp thời, một tốt có thể thành công.
----------------------

學奕棋

眼光應大心應細
堅決時時要進攻
錯路雙車也沒用
逢時一卒可成功

胡志明 (1890–1969)
Đọc tiếp →

Thứ Bảy, 15 tháng 5, 2010

Ngày đông chí ngồi uống bia và nghe ông NVĐ đọc thơ

Bị rách nát trên đường dài hành khất
Thóc vãi đầy như những mảnh sao sa
Nhưng ta biết ta không thể chết
Tim vẫn băng qua hàng vạn nấm mồ.

Victor Hugo

(Chép lại theo trí nhớ)
Đọc tiếp →

Vô tri và linh tinh





01. ĐA vs NL:

* ĐA: "Những từ này, lặp lại, tạo ra một sức hút tận cõi lòng sâu thẳm của Irena, cô thấy chúng được viết hoa: Sự Trở Về Lớn Lao. Cô bỏ đi những do dự của mình: cô say đắm với những hình ảnh chợt khuấy lên từ những quyển sách cô đã đọc từ lâu, từ những bộ phim, từ ký ức của chính cô, và có thể cả từ ký ức của tổ tiên cô: đứa con lưu lạc trở về nhà với mẹ già của mình; trở về mảnh đất thân thương mà số mệnh ác nghiệt đã đẩy nó ra khỏi đó; nhà cửa ruộng nương mà chúng ta mang mãi trong lòng; con đường mòn được phát hiện lại vẫn đánh dấu bằng những dấu chân quên lãng của tuổi thơ; Odysseus trông thấy hòn đảo của mình sau những năm tháng lang thang; sự trở về, sự trở về, điều kỳ diệu tuyệt vời của sự trở về."

[Repeated, the words took on such power that, deep inside her, Irena saw them written out with capital initials: Great Return. She dropped her resistance: she was captivated by images suddenly welling up from books read long ago, from films, from her own memory, and maybe from her ancestral memory: the lost son home again with his aged mother; the man returning to his beloved from whom cruel destiny had torn him away; the family homestead we all carry about within us; the rediscovered trail still marked by the forgotten footprints of childhood; Odysseus sighting his island after years of wandering; the return, the return, the great magic of the return.]

"Không đánh thức chàng dậy, những thuỷ thủ Phaeacian đặt Odysseus vẫn quấn trong chăn nằm xuống cạnh cây ô liu trên bờ biển Ithaca, và sau đó họ ra đi. Kết thúc cuộc hành trình của chàng như thế. Chàng ngủ vùi, mê mệt. Khi tỉnh dậy, chàng không thể nói rằng chàng đang ở đâu. Lúc đấy Athena xoá sạch lớp sương mù khỏi mắt chàng và đó là nỗi sung sướng vô ngần; nỗi sung sướng của Sự Trở Về Lớn Lao; niềm đê mê của sự thân thuộc; âm nhạc ngân lên những rung động không trung giữa đất và trời: chàng thấy bến tàu mà chàng quen biết từ thủa ấu thơ, và dãy núi cao soi mình trên đó, và chàng vuốt ve cây ô liu già để tin chắc rằng đấy cũng chính là cái cây của hai mươi năm trước."

* Nhị Linh: "Được nhắc lại, những từ ấy mang một sức mạnh lớn đến mức, trong thâm tâm, Irena nhìn thấy chúng được viết ra bằng chữ in hoa: Cuộc Trở Về Vĩ Đại. Cô không cố cưỡng lại nữa: cô bị mê hoặc bởi các hình ảnh đột nhiên hiện lên từ những cuốn sách đọc từ xưa, những bộ phim, từ ký ức của chính cô và có lẽ cả ký ức của tổ tiên cô nữa: đứa con trai lưu lạc trở về nhà với bà mẹ già; người đàn ông trở về với người vợ thân yêu, mà số phận tàn đọc ngày xưa từng buộc anh rời bỏ; ngôi nhà tuổi thơ mà ai cũng mang trong lòng; lối đi nhỏ tìm thấy lại, nơi còn in dấu những bước chân thưở nhỏ; Ulysee nhìn thấy lại hòn đảo của mình sau những năm lang thang; cuộc trở về, cuộc trở về, sự màu nhiệm của cuộc trở về.'

"Vẫn để yên cho chàng ngủ, các thuỷ thủ Phéacie đặt Ulysee quấn người trong chăn lên bờ biển Ithaque, dưới gốc một cây ô liu, rồi bỏ đi. Đó là kết cục của chuyến đi. Chàng kiệt sức nằm đó ngủ. Khi tỉnh dậy, chàng không biết là mình đang ở đâu. Rồi Athéna vén sương mù khỏi mắt chàng và tiếp đó là cơn say; cơn say của Cuộc Trở Về Vĩ Đại; nỗi phấn khích của cái đã biết; thứ nhạc làm run rẩy làn không khí giữa đất và trời; chàng nhìn thấy cái vũng biển mà chàng biết rõ từ tấm bé, ngọn núi nằm kề bên, và chàng vuốt ve thân cây ô liu để chắc chắn rằng nó vẫn giống y như hai mươi năm trước."


02. VHL bi bô:

Kundera có viết một tiểu thuyết ngắn mang chủ đề “nostalgia” có tên tiếng Anh “Ignorance” (Sự không biết) về “hoài niệm” của những người xa quê. Ông so sánh nỗi nhớ quê với sự ghi nhớ của ký ức:

"During the twenty years of Odysseus' absence, the people of Ithaca retained many recollections of him but never felt nostalgia for him. Whereas Odysseus did suffer nostalgia, and remembered almost nothing.

We can comprehend this curious contradiction if we realize that for memory to function well, it needs constant practice: if recollections are not evoked again and again, in conversations with friends, they go. Émigrés gathered together in compatriot colonies keep retelling to the point of nausea the same stories, which thereby become unforgettable. But people who do not spend time with their compatriots, Iike Irena or Odysseus, are inevitably stricken with amnesia. The stronger their nostalgia, the emptier of recollections it becomes. The more Odysseus languished, the more he forgot. For nostalgia does not heighten memory's activity, it does not awaken recollec tions; it suffices unto itself, unto its own feelings, so fully absorbed is it by its suffering and nothing else."

[NL: "Trong hai mươi năm vắng mặt Odysseus, người Ithaca vẫn lưu giữ nhiều ký ức về chàng, nhưng chưa bao giờ họ cảm thấy hoài niệm về chàng. Trong khi Odysseus thì hoài niệm, nhưng gần như không nhớ được ký ức gì.


Chúng ta có thể hiểu được sự mâu thuẫn này nếu chúng ta biết rằng để cho trí nhớ hoạt động tốt, nó cần thường xuyên luyện tập: nếu các ký ức không được nhắc lại thỉnh thoảng, trong đối thoại với bạn bè, chúng sẽ ra đi. Những người lưu vong thường tụ họp trong những cộng đồng đồng bào để kể cho nhau, nhiều tới mức buồn nôn, những câu chuyện giống nhau , và vì thế những câu chuyện đó trở nên khó quên. Nhưng với những người không dành thời gian của mình ở bên những người đồng bào như Irena hay Odysseus thì sẽ không thể nào tránh khỏi việc mất trí nhớ. Lòng hoài niệm của họ càng mạnh mẽ, các ký ức càng trở nên trống rỗng. Odysseus càng buồn khổ, chàng lại càng quên nhiều. Bởi hoài niệm không làm tăng hoạt động của trí nhớ, nó không đánh thức các ký ức; nó tự hài lòng với mình, tự hòa vào cảm giác của nó, tự vùi lấp trong nỗi đau của nó và không gì khác nữa.”]


Trong câu thơ của Thanh Tâm Tuyền “Ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới”, thì nỗi nhớ ở đây không phải nỗi nhớ của hai người yêu nhau, mà là một nỗi nhớ hoài niệm. Thời gian đã là một cái trục ngược chiều, khi người ta hoài niệm không chỉ quá khứ mà cả tương lai. Cảm giác đó chỉ có khi người ta biết rằng đó là hoài niệm, rằng không phải tôi sẽ nhớ tới em trong vòng tay tôi ngày hôm nay, mà tôi sẽ nhớ cái cảm giác của tôi ngày hôm nay, nhớ đôi mắt sáng long lanh của em (chẳng hạn) và những gì nó gợi trong tôi lúc này. Hay đúng hơn nữa, những thứ đó sẽ không trở thành một ký ức cụ thể với tôi, mà sẽ trôi vào trong cảm giác của tôi một ngày nào đó trong tương lai. Và tôi cảm được cái ngày đó ngay từ bây giờ, vào lúc này.

“Anh sợ những cột đèn đổ xuống
Rồi dây điện cuốn lấy chúng ta
Bóp chết mọi hy vọng
Nên anh dìu em đi xa

Đi đi chúng ta đến công viên
Nơi anh sẽ hôn em đắm đuối

Ôi môi em như mật đắng
Như móng sắc thương đau
….Ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới
Chiếc kèn hát mãi than van
Điệu nhạc gầy níu nhau tuyệt vọng
…”
[Dạ khúc- Thanh Tâm Tuyền]

Hoài niệm và Odysseus. Kundera viết về Odysseus và nỗi nhớ quê của chàng. James Joyce cũng từ câu chuyện chàng Odysseus để viết nên tác phẩm văn học lớn nhất thế kỷ 20. Cả Kundera và Joyce đều là những kẻ lưu vong, một bị bắt buộc, một tự nguyện. Hẳn vì thế mà cả hai đều cảm thấy gần gũi với Odysseus.

Một nhà văn lớn khác, Jorge Luis Borges, cũng viết về Odysseus:

“Người ta nói Ulysses, mệt mỏi vì các kỳ quan chàng thấy,
Khóc với yêu thương khi thấy lại Ithaca, xanh mướt, khiêm nhường.
Nghệ thuật chính là Ithaca,
Một màu xanh vĩnh cửu, nào phải kỳ quan. ”

Borges cũng là một kẻ lưu vong-lưu vong trên chính quê hương mình, trong những bức tường thư viện u tối, với đôi mắt dần mù lòa. Nostalgia của ông không còn là nostalgia về một miền đất, một khoảng thời gian, một nền văn hóa hay một lối sống cụ thể, mà đã trở thành sự tìm kiếm một trạng thái tồn tại khác. Thời gian và ký ức (thực - hư) luôn là những thứ ám ảnh Borges.

“Hãy nhìn dòng sông được tạo bởi thời gian và nước
Và nhớ rằng Thời Gian là một dòng sông khác
Để biết chúng ta lưu lạc như sông
Và khuôn mặt ta biến mất đi như nước.”
[Nghệ thuật thi ca- Borges]

“Ở phía bên kia, nơi chúng ta từng trẻ
Có một thế giới quyến rũ diệu kỳ
Những ý nghĩ của chúng ta lang thang
Không dừng lại, không biên giới
Khi tiếng chuông đổ vang...

Cỏ thêm xanh tươi
Ngày thêm rạng rỡ
Vị thêm ngọt ngào
Những đêm kỳ diệu
Bên cạnh bè bạn
Sương mai lóng lánh
Nước chảy trong lành
Dòng sông vô tận”

(High Hopes- Pink Floyd)

Ngày gặp lại, nếu Ithaca không còn xanh mướt, khiêm nhường, chắc gì Odysseus đã khóc?


03. Nostalgia = nostos (return) + algos (suffering)

"The Greek word for "return" is nostos. Algos means "suffering." So nostalgia is the suffering caused by an unappeased yearning to return. To express that fundamental notion most Europeans can utilize a word derived from the Greek (nostalgia, nostalgie) as well as other words with roots in their national languages: añoranza, say the Spaniards; saudade, say the Portuguese. In each language these words have a different semantic nuance. Often they mean only the sadness caused by the impossibility of returning to one's country: a longing for country, for home. What in English is called "homesickness." Or in German: Heimweh. In Dutch: heimwee. But this reduces that great notion to just its spatial element. One of the oldest European languages, Icelandic (like English) makes a distinction between two terms: söknuour: nostalgia in its general sense; and heimprá: longing for the homeland. Czechs have the Greek-derived nostalgie as well as their own noun, stesk, and their own verb; the most moving, Czech expression of love: styska se mi po tobe ("I yearn for you," "I'm nostalgic for you"; "I cannot bear the pain of your absence"). In Spanish añoranza comes from the verb añorar (to feel nostalgia), which comes from the Catalan enyorar, itself derived from the Latin word ignorare (to be unaware of, not know, not experience; to lack or miss), In that etymological light nostalgia seems something like the pain of ignorance, of not knowing. You are far away, and I don't know what has become of you. My country is far away, and I don't know what is happening there. Certain languages have problems with nostalgia: the French can only express it by the noun from the Greek root, and have no verb for it; they can say Je m'ennuie de toi (I miss you), but the word s'ennuyer is weak, cold -- anyhow too light for so grave a feeling. The Germans rarely use the Greek-derived term Nostalgie, and tend to say Sehnsucht in speaking of the desire for an absent thing. But Sehnsucht can refer both to something that has existed and to something that has never existed (a new adventure), and therefore it does not necessarily imply the nostos idea; to include in Sehnsucht the obsession with returning would require adding a complementary phrase: Sehnsucht nach der Vergangenheit, nach der verlorenen Kindheit, nach der ersten Liebe (longing for the past, for lost childhood, for a first love)."

[NL: chờ update...]


Đọc tiếp →