Thứ Tư, 29 tháng 7, 2009

A dream

A Dream by Jorge Luis Borges
(Translated, from the Spanish, by Suzanne Jill Levine.)

In a deserted place in Iran there is a not very tall stone tower that has neither door nor window. In the only room (with a dirt floor and shaped like a circle) there is a wooden table and a bench. In that circular cell, a man who looks like me is writing in letters I cannot understand a long poem about a man who in another circular cell is writing a poem about a man who in another circular cell . . . The process never ends and no one will be able to read what the prisoners write.




- Bản dịch và lời bình của Đông A:



Hôm nay đọc The New Yorker thấy bài thơ A dream của Jorge Luis Borges, qua bản dịch của Suzanne Jill Levine. Tôi thấy thích bài thơ này và thử dịch ra tiếng Việt. Công nhận, The New Yorker đưa bài thơ này rất hợp thời. Không rõ Borges sáng tác bài thơ này vào năm nào. Thẩm mỹ về chuỗi vô tận, A trong A trong A ... rất hợp với tư duy phương Đông, không có khởi đầu và không có kết thúc, và con người chỉ còn có thể bất lực mà thôi. Nhưng thực ra các chuỗi vô tận không hẳn đã là vô tận. Chúng có một giới hạn, giống như nghịch lý Achilles đuổi rùa của Hy Lạp cổ đại. Cái giới hạn đấy là lúc con người có thể đọc được những gì mà những người tù đã viết ra.


Một giấc mơ
Jorge Luis Borges

Ở một nơi hoang vắng ở Iran có một tháp đá không cao lắm, không có cửa cũng như cửa sổ. Trong căn phòng duy nhất (với nền đất và có dạng hình tròn) có một chiếc bàn gỗ và một chiếc ghế băng. Trong ngục tròn đó có một người nom giống như tôi đang viết chữ mà tôi không thể hiểu, một bài thơ dài về một người trong một ngục tròn khác đang viết một bài thơ về một người trong một ngục tròn khác... Diễn tiến này chẳng bao giờ kết thúc và chẳng một ai có khả năng được đọc những gì mà những người tù đã viết ra.


Source: http://donga01.blogspot.com/2009/07/mot-giac-mo.html


- Lời bình của Leopard (về lời bình của Đông A (về bài thơ của Borges (về... ))):

Bác ĐA bẩu: Cái giới hạn đấy là lúc con người có thể đọc được những gì mà những người tù đã viết ra.

Giới hạn đấy là thế nào?

Hình như để có thể hiểu được mình phải xem lại kiến thức toán học về chuỗi số. Nhớ lại chút, thì như là chuỗi số thì kéo dài vô hạn, nhưng tổng của chuỗi thì hữu hạn. Giống như một tảng thịt nặng 60 kí lô là hữu hạn, nhưng ta có thể cắt nó ra thành vô số các tảng nhỏ, số các tảng nhỏ có thể là vô hạn.

Vậy, vấn đề thứ nhứt là ta đang có tảng thịt nặng 60 kí lô hay chỉ là các tảng nhỏ của nó.

Vấn đề thứ hai là nếu ta chỉ có các tảng nhỏ, thì làm sao biết được cái tảng lớn. Tức là cách đọc. Ví dụ như với một bản nhạc, anh đọc những nốt nhạc và có thể đọc cả khoảng trống giữa những nốt nhạc ấy. Khoảng trống giữa những nốt nhạc hay quy luật giữa những con số... Đại khái thế!

Vấn đề thứ ba, mí là vấn đề quan tọng, là ta có muốn đọc hay không. Hông mún, thì thôi, cũng hông ai ép.
Đọc tiếp →

A hoax

I have learned that when a newborn baby holds, with its little hand,
his father's finger, it has trapped him for the rest of his life.

I have learned that a man has the right and obligation to look down
at another man, only when that man needs help to get up from the
ground.

...


Farewell letter (below, maybe you should read it first) has a very strong and inspiring message.This video (they say the message was a hoax which travelled the world as belonging to Gabo) is dedicated to the people in my life that I love, my husband, my son and my friends, and to those that I love and only live in my heart now.

A youtube friend told me that it was written by Johnny Welch
http://webalia.com/EP/pensar/reconoci...


Source: http://www.youtube.com/watch?v=YaIiTp2lDlk
Đọc tiếp →

Thứ Ba, 14 tháng 7, 2009

infer judge argue

01. argument n


...
3 a: the act or process of arguing :
argumentation b: a coherent series of statements leading from a premise to a conclusion
argue v

Etymology: Middle English, from Anglo-French arguer to reprove, argue & Latin arguere to demonstrate, prove; Anglo-French arguer, from Latin argutare to prate, frequentative of arguere; akin to Hittite arkuwai- to plead, respond


synonyms discuss, argue, debate mean to discourse about in order to reach conclusions or to convince.

discuss implies a sifting of possibilities especially by presenting considerations pro and con <discussed the need for a new highway>.

argue implies the offering of reasons or evidence in support of convictions already
held <argued that the project would be too costly>.

debate suggests formal or public argument between opposing parties <debated the merits of the amendment>; it may also apply to deliberation with oneself debating whether I should go>.


02. inference n


...
1: the act or process of inferring: as a: the act of passing from one proposition, statement, or judgment considered as true to another whose truth is believed to follow from that of the former b: the act of passing from statistical sample data to generalizations (as of the value of population parameters) usually with calculated degrees of certainty.

infer v


Etymology: Middle French or Latin; Middle French inferer, from Latin inferre, literally, to carry or bring into, from in- + ferre to carry — more at bear

transitive verb 1: to derive as a conclusion from facts or premises — compare
imply

synonyms
infer, deduce, conclude, judge, gather mean to arrive at a mental conclusion.

infer implies arriving at a conclusion by reasoning from evidence; if the evidence is slight, the term comes close to surmise .

deduce often adds to infer the special implication of drawing a particular inference from a generalization .

conclude implies arriving at a necessary inference at the end of a chain of reasoning .

judge stresses a weighing of the evidence on which a conclusion is based
.

gather suggests an intuitive forming of a conclusion from implications .



03. judgement n

...
4 a: the process of forming an opinion or evaluation by discerning and comparing


judge v
Etymology: Middle English juggen, from Anglo-French juger, from Latin judicare, from judic-, judex judge, from jus right, law + dicere to decide, say — more at just, diction

1: to form an opinion about through careful weighing of evidence and testing of premises



* Source: http://www.merriam-webster.com/dictionary/
Đọc tiếp →

Thứ Năm, 25 tháng 6, 2009

Kitsch

Kitsch chính là kiểu cách mỹ học độc đáo, nhưng cũng là cái kết quả của những thay đổi đặc trưng trong môi trường lịch sử và xã hội.

Khi là kết quả của những thay đổi lịch sử: Kitsch được tạo ra bởi qúa trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, và sự nổi lên của tầng lớp trung lưu.

Khi là một phẩm chất thẩm mỹ: Kitsch liên gộp mọi tính chất ganh đua là của các hình thái cũng như kiểu thức của dạng nghệ thuật cao cấp, cùng sự ỷ lại nhàn nhã và những cách bộc lộ sống sượng ra những cảm giác phè phỡn về thẩm mỹ.
...

Nơi nghệ thuật chân chính đòi hỏi những nỗ lực diễn giải, sự tri nhận thông qua kiến thức, và dâng tặng cho người xem những thách thức hợp đạo lý và riêng tư; nơi ấy cái Kitsch của dạng nghệ thuật được sản tạo hướng về đại chúng lại tìm cách sao cho có thể đến được dễ nhất với số lượng người đông nhất. Nó tìm ra con đường ngắn nhất, giản tiện và trực tiếp nhất. Nó thích thú với những phương cách bộc lộ thiên về quá trớn bằng cách thêm mắm thêm muối các chi tiết và thổi phồng các hiệu ứng. Về nguyên tắc tạo nên cái đẹp, các nhà cung ứng Kitsch suy luận theo quy tắc "càng nhiều càng ít" (more is better).
...

Kitsch thích trưng khoe ra với chúng ta những gì chúng ta quen thuộc nhằm bảo vệ chúng ta khỏi nỗi bất an khi phải đối mặt với một điều gì đó mới lạ.
...

Nhà văn Áo Hermann Broch đã từng tranh biện về sự phát triển của cái Kitsch trong thế kỷ 19, và mối liên nối của nó với chủ nghĩa lãng mạn: cả cái Kitsch lẫn chủ nghĩa lãng mạn đều hứa hẹn một chuyến bay hiện đại lạ đời từ hiện thực tới cái thế giới được bảo vệ tách biệt khỏi mọi trạng thái căng thẳng và lưỡng lự của đời sống hiện đại. Bài viết của ông "Notes on Problem Kitsch" (Những ghi chú về vấn đề Kitsch) đã chỉ ra việc cái Kitsch đã ngỏ lời đường mật ra sao nhằm thuyết phục rằng việc trốn thoát khỏi hiện thực chính là một trải nghiệm có tính chất mộng mơ hạnh phúc nhất, yên tĩnh nhất, hài hòa ngọt ngào nhất, cũng như là một chuyến không du êm ái tới quê hương của sự nhàn nhã.

Bài viết của Broch đã dò tới gọn nguồn của sự nhàn nhã, chính là một sản phẩm do những đổi dời lịch sử gây ra: Tính chất nhàn nhã của cái Kitsch có nguồn gốc từ sự nổi lên của chính tầng lớp trung lưu đã sản sinh ra Kitsch. "Cái khiếu thẩm mỹ dành cho sự nhàn nhã kiểu sinh hoạt gia đình này", Broch viết, "đã trở nên gia huy cho giai cấp trung lưu, chứng nhận sự hợp pháp của giai cấp ấy, cạnh tranh với những khát vọng dạng chuyên tinh của nghệ thuật quý tộc". Theo hướng này, cái giá trị mang tính trung lưu giai cấp của sự nhàn nhã đã được thổi phồng lên đến tầm mức kiêu mạn, thách thức vị thế của nghệ thuật cao cấp, vào lúc nó học được cách giả trang thành nghệ thuật.
...


- Định nghĩa về cái Kitsch (Cái rởm), Sam Binkey


Milan Kundera, Nhà văn Pháp gốc Séc khi viết tiểu thuyết Nhẹ bồng cái kiếp nhân sinh - như chính nhà văn bộc bạch - đã dùng từ Kitsch làm một trong các từ - trụ cột của cuốn tiểu thuyết ấy.

Vậy Kitsch là gì? Milan Kundera viết: Trong bản dịch ra tiếng Pháp của thiên tiểu luận nổi tiếng của Herman Broch, từ "Kitsch" được dịch là nghệ thuật tầm tầm. Một phản nghĩa, bởi vì Broch chứng minh rằng Kitsch là cái khác với một tác phẩm chỉ đơn giản là thị hiếu tồi. Có thái độ Kitsch. Cách ứng xử Kitsch. Nhu cầu Kitsch của con người - Kitsch (Kitschmensch): đấy là cái nhu cầu tự nhìn mình trong tấm gương dối trá làm đẹp người lên và tự nhận ra mình trong đó với một sự thoả mãn đầy xúc động. (...) Cái Kitsch gắn chặt một cách lịch sử với chủ nghĩa lãng mạn tình cảm.


- Trang 139, Tiểu luận, Milan Kundera, người dịch: Nguyên Ngọc, NXB VH-TT, Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây 2001.
Đọc tiếp →

Thứ Sáu, 22 tháng 5, 2009

Let me not pray to be sheltered from dangers

Let me not pray to be sheltered from dangers
but to be fearless in facing them.

Let me not beg for the stilling of my pain
but for the heart to conquer it.

Let me not look for allies in life's battlefield
but to my own strength.

Let me not crave in anxious fear to be saved
but hope for the patience to win my freedom.

Grant me that I may not be a coward,
feeling your mercy in my success alone;
but let me find the grasp of your hand in my failure.

Fruit-gathering (Mùa hái quả 1916), Rabindranath Tagore

--------------------
Updated 7/08/10


Hãy để tôi không cầu nguyện được che chở khỏi hiểm nguy
Mà là không e sợ để đối đầu với chúng.

Hãy để tôi không cầu xin sự ngừng lại của khổ đau
Mà là lòng quả cảm để chinh phục nó.

Hãy để tôi không tìm kiếm đồng minh nơi chiến trận của đời
Ngoại trừ sức mạnh tự thân.

Hãy để tôi không cầu mong được cứu vớt trong lo sợ
Ngoại trừ hi vọng vào sự kiên nhẫn để giành lấy tự do.

Mong rằng tôi không là một kẻ hèn nhát,
Và tự tôi cảm thấy ân huệ của bạn trong thành công;
Nhưng hãy để tôi tìm thấy nắm tay của bạn trong thất bại.

http://www.ibiblio.org/eldritch/rt/fg.htm

http://peacefulrivers.homestead.com/Tagore.html
Đọc tiếp →

Tiểu nhân & quân tử

Blog của Đông A có ghi:



Người quân tử ở trong thiên hạ không tranh với ai, hợp quần (1) với mọi người mà không bè đảng (2). Người quân tử nếu có tranh luận thì tranh luận vào vấn đề, luận điểm. Kẻ tiểu nhân khi tranh luận thì tranh luận ở ngoài vấn đề, luận điểm. Người quân tử đối với việc thiên hạ không chủ trương phải thế này hay phải thế khác, chỉ hợp nghĩa thì làm. Người quân tử không sợ người ta hiểu lầm mình, chỉ lo đạo của mình, chí của mình chưa đạt mà thôi. Người quân tử không sợ người ta chụp mũ, luôn luôn thận độc (3) và răn mình. Kẻ tiểu nhân chỉ biết chụp mũ cho người khác và trách người.

Xem như thế để biết đâu là tiểu nhân, đâu là quân tử. Cái loại hương nguyện (4) đúng là "đức chi tặc dã".


(1) Vũ Cán, nhà nho thế kỷ 16 có thơ:

Thận độc

Kỷ sở độc tri nhân bất tri,
Khổng môn thuỳ giáo thận ư ty.
Tuy cư u ám ẩn vi xứ,
Thường tại thao tồn tỉnh sát thì.
Thành chính công phu tòng thử đắc,
Trị bình hiệu nghiệm tựu trung suy,
Dục cầu quân tử tu thân yếu.
Đương tại ngô tâm vô tự khi.
Thận độc

(Điều chỉ mình mình biết người khác không hay biết,
Cửa Khổng truyền dạy rằng phải cẩn thận với điều đó.
Dẫu ở nơi u ám khuất nẻo,
Vẫn luôn phải luôn rèn rũa suy xét.
Công phu của đạo thành ý chính tâm từ đó mà được,
Hiệu nghiệm của đạo trị quốc bình thiên hạ theo đó mà thành.
Muốn tìm điều cốt yếu của điều người quân tử dùng tu thân,
Nên tìm ở chỗ tâm ta không tự lừa dối.)

(2): Theo cuốn Chiết Văn Giải Tự, thì chữ 'đảng' có nghĩa đen là bè đảng, và theo mẫu tự truyền thống là ghép chữ 'thượng' ở trên với chữ 'hắc' ở dưới, tức là 'thượng hắc', ngụ ý là một bè đảng chủ trương toàn những điều hắc ám. Trong tiếng Hán, từ Đảng hay đảng nhân mang nghĩa chỉ trích. Đức Khổng Tử nói: 'Kẻ quân tử dẫu kiêu hãnh cũng không tranh chấp, dẫu quần tụ cũng ko kéo bè kết đảng' , và có giải thích trong Luận ngữ của mình rằng những kẻ kéo bè kết đảng như thế là để bao che nhau làm điều xấu.Trong lịch sử TQ những nhóm chính trị qui mô nhỏ thường bị gọi là băng đảng...Trong văn hóa TQ, những từ như cẩu đảng, băng đảng,kết đảng...đều mang nghĩa xấu


(3) Hợp quần là tư tưởng xã hội của Tuân Tử với câu: "Lực bất nhược ngưu, tẩu bất nhược mã, nhi ngưu mã vi dụng hà giã? Viết: Nhân năng quần, bỉ bất năng quần... Cố nhân sinh bất năng vô quần, quần nhi vô phấn tắc tranh, tranh tắc loạn, loạn tắc ly, ly tắc nhược, nhược tắc bất năng thắng vật... Năng dĩ sư thân vị chi hiếu, năng dĩ sư huynh vị chi dễ, năng dĩ sư thượng vị chi thuận, năng dĩ sư hạ vị chi quân. Quân giả, thiện quần giã, quần đạo đương, tắc vạn vật giai đắc kỳ nghi". (Sức chẳng mạnh bằng trâu, chạy chẳng nhanh bằng ngựa, sao trâu ngựa lại để cho ta khiển dụng? Câu trả lời là: Người ta biết hợp quần, trâu ngựa không biết hợp quần... Cho nên người ta sinh ra chẳng thể không hợp quần, nhưng đã hợp quần mà không định phận là tranh giành nhau, hễ tranh là loạn, loạn thì chia rẽ nhau, chia rẽ nhau thì yếu, đã yếu thì chẳng thành tựu được việc gì cả... Biết lấy đạo hợp quần mà thờ song thân gọi là hiếu, biết lấy đạo hợp quần mà trọng đàn anh, gọi là đễ, biết lấy đạo hợp quần mà kính bề trên, gọi là thuận, biết lấy đạo hợp quần mà xử kẻ dưới, gọi là chúa. Người làm chúa phải giỏi đạo hợp quần, đạo hợp quần tốt, là tất cả mọi sự vật đều được giải quyết một cách thỏa đáng).

Đoạn văn này của Tuân Tử gồm có 4 điểm chánh sau đây:

- Hợp quần là một trong những đặc tính của loài người. Nói khác đi, con người là loài động vật có đặc tính xã hội, nhờ vậy mới ưu việt hơn các loài động vật khác.

- Hợp quần tốt, là một phương thức giải quyết được các vấn đề phân tranh trong xã hội.

- Hợp quần cũng là một phương cách, tiến hành sự việc chung trong xã hội, và mọi người đều có vị trí cùng quyền lợi tương xứng.

- Tuân Tử muốn lấy đạo hợp quần thay thế cho giá trị cũ của đạo hiếu đễ. Nghĩa là, một khi con người ta đã góp phần cống hiến thích đáng cho xã hội, thì kể như đã làm tròn bổn phận trong đạo Hiếu và Để rồi.


(4) Trích từ blog của Đông A:

Tôi đoan chắc rằng nhiều người không hiểu hương nguyện là gì. Cũng chẳng phải bởi thời gian trôi qua, ký ức ngôn ngữ không còn nên ngày nay không hiểu. Người xưa cũng vậy thôi. Hương nguyện là từ rất cắc cớ. Nó vốn ban đầu là hương nguyên. Hương là làng xã, nguyên là gốc, là trước, là trọn vẹn. Không biết từ này nguyên gốc từ đâu chui ra, mọi người đều chỉ truy nguyên về Luận ngữ, coi đây là nguồn gốc.

Trong Luận ngữ, Khổng tử phán một câu: Hương nguyên, đức chi tặc dã, có nghĩa là hương nguyên là kẻ làm hại đức. Khổng tử chỉ nói thế, không giải thích gì vì vậy mà các học trò theo học đạo của ông có người không hiểu. Đến tận Mạnh tử, khi có một học trò hỏi ông, người như thế nào gọi là hương nguyên, Mạnh tử mới giải thích rằng:

"...Ấy là những kẻ hay chê cười...

Ðối với cuồng sĩ họ trách rằng: "Mấy ông ấy có chí cao nguyện lớn để làm gì?...".

Ðối với quyến sĩ, họ trách rằng: "Mấy ông ấy làm gì mà ăn ở khác đời? Làm gì mà lãnh đạm với đời? Ðã sinh ra và sống ở đời này, thì cứ làm việc đời nầy đi. Miễn được khen là tốt rồi".

Họ nịnh đời bằng cách che giấu điều tốt đẹp của người và khoe khoang việc xứng đáng của mình.

Phường như thế là hương nguyên vậy".

Cậu học trò của Mạnh tử cắc cớ hỏi tiếp:

"Cả làng đều khen họ là người thật thà đứng đắn; đi đâu họ cũng làm như người
thật thà đứng đắn. Tại sao đức Khổng tử nói rằng họ làm bại hoại nền đạo đức?"

Mạnh tử trả lời rằng:

"Muốn chê họ, thì chẳng có chỗ gì chê; muốn trách họ, thì
chẳng có chỗ gì trách. Họ đồng hoá theo thói tục thông thường, họ dung hiệp với cõi đời ô trược. Lòng dạ họ dường như trung, tín; hành vi họ dường như liêm, khiết. Dân chúng lấy làm ưa thích họ, mà họ cũng tự nhận mình là trung, tín, liêm, khiết. Thế mà họ không thể cùng đi với mình vào Ðạo vua Nghiêu, vua Thuấn. Bởi thế, đức Khổng nói rằng họ làm bại hoại nền đạo đức vậy".
Ở đây cần phải chú ý rằng Mạnh tử cho rằng cõi đời này là ô trọc, thói tục ở đời không hợp với đạo, do đó những người hòa vào cõi đời, những người được dân ưa thích không thể đạt đạo, là đáng khinh bỉ. Đến Mạnh tử, hương nguyên vẫn là hương nguyên. Đến Tuân tử, hương nguyên biến thành hương nguyện. Tuân tử giải thích rằng nguyên và nguyện đồng nghĩa, bởi vì theo ông "nguyên khác" ("khác" là thành thực) còn đọc là nguyện, và do đó hương nguyên là người cẩn nguyện, tức là người mong cầu kỹ lưỡng.

Từ đây có từ hương nguyện. Từ nguyên thành nguyện cũng mất mấy trăm năm. Nhưng không không đổi nguyên thành nguyện thì hương nguyên còn tù mù tăm tối. Nếu đối chiếu với ngày nay thì hương nguyện là những người được lòng dân chúng, làm việc ở đời, không tránh đời, không tự cao, tự đại. Họ là những người đắc cử.

Rất khác với Khổng tử, là người phải tự tiến cử mình. Từ hương nguyện đến Việt Nam cũng thiên biến vạn hóa. Vì đạo trung dung khó, không mấy ai có thể đoan chắc là mình theo được, nên Phan Khôi có nói rằng bây giờ mà còn nói chuyện trung dung thì đấy là phường hương nguyện. Trần Trọng Kim bèn đáp lại rằng: "Hương nguyện là bọn giả dối không có liêm sỉ, mượn tiếng đạo đức mà che đậy bề ngoài. Bọn ấy ở với quân tử có thể làm quân tử được, mà ở với tiểu nhân thì làm tiểu nhân.

Nếu người ta mà thành thực theo đạo đến chết, thì sao lại là hương nguyện." Ngô Đức Kế phê bình Phạm Quỳnh tán dương truyện Kiều, gọi Phạm Quỳnh là học phiệt. Phạm Quỳnh đáp trả gọi Ngô Đức Kế là đạo đức hương nguyện. Đến lượt Huỳnh Thúc Kháng đáp lại Phạm Quỳnh rằng: "Đạo đức hương nguyện” là đạo đức thế nào? Cứ như lời ông Mạnh Tử đã giải thích thì hương nguyện là chiều đời dua tục, không nói trái với ai, chính là chỉ bọn nhu mỵ. Như con đĩ Kiều kia và cả chuyện Kiều nữa mới gọi là nhu mỵ. Thế mà cho kẻ bác [lại] học Kiều là đạo đức hương nguyện thì cái chuyện phong tình ấy là đạo đức gì?"

Ở đây lưu ý Huỳnh Thúc Kháng dùng đến 3 từ: hương nguyện, nhu mỵ và con đĩ. Nhưng theo Huỳnh Thúc Kháng, hương nguyện là chiều đời tua tục, không nói trái với ai. Nhu mỵ mói là hương nguyện, và ám chỉ Phạm Quỳnh mới đích thị là phường hương nguyện. Đến ông Hoàng Ngọc Hiến, hương nguyện trở thành philistine. Đấy hương nguyện nó lằng nhằng như vậy, thành ra xem ai nói hương nguyện cũng chưa chắc đã biết người ta muốn nói gì.


Đọc tiếp →

Thứ Bảy, 20 tháng 9, 2008

Lương Phủ ngâm

Bộ xuất Tề thành môn,
Dao vọng đãng âm lý.
Lý trung hữu tam phần,
Luỹ luỹ chính tương tự.
Vấn thị thuỳ gia trủng,
Điền Cương, Cổ Dã Tử.
Lực năng bài Nam sơn,
Văn năng tuyệt địa lý.
Nhất triêu bị sàm ngôn,
Nhị đào sát tam sĩ.
Thuỳ năng vi thử mưu,
Quốc tướng Tề Án Tử.


Bài hát Lương Phủ

Người dịch: Nham Doanh Doanh

Ra khỏi cửa thành Tề đi bộ
Dõi nhìn làng lấp ló xa mờ
Giữa làng trơ trọi ba mồ
Giống nhau tưởng đã đắp gò chồng lên
Hỏi: nằm đó tuổi tên ai nhỉ ?
Điền, Cổ, Cương, đích thị ba ngài
Núi Nam lật đổ, hùng tài
Văn chương âu cũng chuyển xoay đất trời
Một khoảnh khắc nghe lời nói dại
Hai trái đào giết hại cả ba
Mưu thâm kế hiểm ai mà ?
Án Tề tướng quốc thì ra là người


Lương Phủ ngâm 梁父吟, còn viết là 梁甫吟. Lương Phủ là một ngọn núi nhỏ ở chân núi Thái Sơn. Bài thơ này thực là của Gia Cát Lượng hay là một bài ca dao đời Hán, đến nay khó còn điều kiện khảo chứng.

Thời Xuân Thu, Án Bình Trọng 晏平仲 phò Tề Cảnh Công, làm đến chức tướng quốc, là một người tài nhưng hơi hẹp lượng. Nước Tề thời đó có ba dũng sĩ là Điền Khai Cương 田開疆, Cổ Dã Tử 古冶子 và Công Tôn Tiếp 公孫接. Án Tử đưa ra hai trái đào và nói với ba người là ai có công thì hãy lấy mà ăn. Công Tôn Tiếp nói: "Ta là người chỉ một quyền đánh chết lợn rừng, hổ, xứng đáng ăn đào". Điền Khai Cương nói: "Ta đã từng dùng phục binh đuổi địch, công lao đó cũng xứng đáng ăn đào". Cổ Dã Tử nói: "Ta theo vua đến sông Hoàng Hà, có con rùa lớn xuất hiện bắt mất ngựa của vua, ta giết rùa, một tay kéo đuôi ngựa mang về cho vua, con rùa đó chính là Hà Bá thần sông Hoàng Hà". Hai người Công Tôn Tiếp, Điền Khai Cương thấy công mình không bằng Cổ Dã Tử mà lại đòi ăn đào nên tự thẹn với lòng tự vẫn mà chết. Cổ Dã Tử thấy hai người kia đã chết mà mình vẫn sống thì là bất nhân, sỉ nhục người ta đề lấy danh tiếng là bất nghĩa, nên cũng tự vẫn chết theo.
Đọc tiếp →

Im lặng

Nguyễn Hữu Quý

Sinh ra kề mắt bão
mẹ bọc tôi trong vạt phù sa
cái cuống rốn người vùi nơi gốc rạ
im lặng rễ đồng nhập vía hồn tôi

Tôi lớn lên với cây lúa ít lời
sau giông gió chỉ nói bằng hạt chín
hạt lép tập bay, hạt đầy học nhịn
lúa dạy tôi ngôn ngữ chiêm mùa

Tôi học ướt từ mưa
học khô từ nắng
học lội từ bùn
học hát từ trăng
học chắt chiu từ chua mặn đồng làng
và, sau nữa tôi học về im lặng

Im lặng rễ, im lặng cành, im lặng...
ừ nhỉ, thảo thơm đâu cần phải nhiều lời
sau vỏ trấu là trắng ngà hạt ngọc
chứa những điều ân nghĩa chẳng xa xôi

Biết im lặng khó hơn mười lần nói
lặng lẽ đi cũng chẳng phải dễ dàng
tôi nín lại tiếng reo mùa ló rạng
để ra đồng cúi mặt cấy mạ non!


Source: http://nguyenhuuquy.vnweblogs.com/
Đọc tiếp →

Thứ Năm, 7 tháng 2, 2008

Mẹ

Đỗ Trung Lai


Lưng mẹ còng rồi
Cau thì vẫn thẳng
Cau-ngọn xanh rờn
Mẹ-đầu bạc trắng

Cau ngày càng cao
Mẹ ngày một thấp
Cau gần với giời
Mẹ thì gần đất!

Ngày con còn bé
Cau mẹ bổ tư
Giờ cau bổ tám
Mẹ còn ngại to!

Một miếng cau khô
Khô gầy như mẹ
Con nâng trên tay
Không cầm được lệ

Ngẩng hỏi giời vậy
-Sao mẹ ta già?
Không một lời đáp
Mây bay về xa.
Đọc tiếp →

Chủ Nhật, 3 tháng 2, 2008

Hiệp khách hành

Hiệp khách hành

Dục xuất Hồng đô môn
Âm vân tế thành khuyết
Bảo kiếm ảm như thuỷ
Vi hồng thấp dư huyết
Bạch mã dạ tần kinh
Tam canh Bá Lăng tuyết

Ôn Đình Quân

Bài hành về hiệp khách

Muốn vượt cửa Hồng đô
Mây đùn lấp thành khuyết
Kiếm báu sẫm như nước
Tia hồng loáng dư huyết
Ngựa bạch hí luôn đêm
Canh ba cầu Bá tuyết

Đông A dịch.


* Link gốc: http://blog.360.yahoo.com/blog-Uj79afQ1dKgK_DqY5hL3Of8-?cq=1&p=17


俠客行

欲出鴻都門
陰雲蔽城闕
寶劍黯如水
微紅溼餘血
白馬夜頻驚
三更霸陵雪

溫庭筠

闕: Thời xưa, ở ngoài cửa cung, hai bên có lầu đài để nhìn ra xa, giữa có lối đi gọi là khuyết.
Bạch Cư Dị 白居易: Cửu trùng thành khuyết yên trần sinh, Thiên thặng vạn kị tây nam hành 九重城闕煙塵生, 千乘萬騎西南行 (Trường hận ca 長恨歌) Khói bụi sinh ra trên lối đi vào cung thành (của nhà vua), Nghìn cỗ xe, muôn con ngựa đi sang miền tây nam. - TĐTC.
Đọc tiếp →

Chủ Nhật, 27 tháng 1, 2008

Đêm Tháng Tư Ướt Át

Chim hót trong những vòm cây đẫm sương
Và từ trăm năm nay tôi đã nghe thấy
Và tôi đã chết, có ai khác còn lắng nghe
Tôi hạnh phúc vì đã ghi giúp anh nỗi u sầu.

Bagpiper dịch.


The birds sang in the wet trees
And I listened to them it was a hundred years from now
And I was dead and someone else was listening to them.
But I was glad I had recorded for him
The melancholy.

Wet Evening in April, Patrick Kavanagh.
Đọc tiếp →

Thứ Sáu, 18 tháng 1, 2008

Sonnet 73

W.Shakespeare
Sonnet 73

Trong tim anh chỉ mùa đông em thấy,
Khi lá vàng theo gió lạnh lắt lay,
Phất phơ treo trên cành khô run rẩy,
Vườn chim xưa nay tuyết trắng phủ dày.

Em chỉ thấy trong anh ngày sắp hết,
Khi hoàng hôn le lói phía chân trời
Và bóng tối bằng màn đen cái chết
Khẽ buông dần, đang phủ kín khắp nơi.

Em chỉ thấy dưới tro tàn tuổi trẻ
Ngọn lửa hắt hiu thiêu cháy bao tình
Và những gì xưa làm đời đẹp thế,
Nay thành mồ chôn hết cả đời anh.

Em thấy hết, nhưng cũng từ buổi đó
Càng yêu thêm người từ lâu đáng bỏ.

Thái Bá Tân dịch.

* Bản tiếng Anh:

That time of year thou mayst in me behold,
When yellow leaves, or none, or few do hang
Upon those boughs which shake against the cold,
Bare ruined choirs, where late the sweet birds sang.

In me thou seest the twilight of such day,
As after sunset fadeth in the west,
Which by and by black night doth take away,
Death's second self that seals up all in rest.

In me thou seest the glowing of such fire,
That on the ashes of his youth doth lie,
As the death-bed, whereon it must expire,
Consumed with that which it was nourished by.

This thou perceiv'st, which makes thy love more strong,
To love that well, which thou must leave ere long.
Đọc tiếp →