Thứ Sáu, 22 tháng 5, 2009

Let me not pray to be sheltered from dangers

Let me not pray to be sheltered from dangers
but to be fearless in facing them.

Let me not beg for the stilling of my pain
but for the heart to conquer it.

Let me not look for allies in life's battlefield
but to my own strength.

Let me not crave in anxious fear to be saved
but hope for the patience to win my freedom.

Grant me that I may not be a coward,
feeling your mercy in my success alone;
but let me find the grasp of your hand in my failure.

Fruit-gathering (Mùa hái quả 1916), Rabindranath Tagore

--------------------
Updated 7/08/10


Hãy để tôi không cầu nguyện được che chở khỏi hiểm nguy
Mà là không e sợ để đối đầu với chúng.

Hãy để tôi không cầu xin sự ngừng lại của khổ đau
Mà là lòng quả cảm để chinh phục nó.

Hãy để tôi không tìm kiếm đồng minh nơi chiến trận của đời
Ngoại trừ sức mạnh tự thân.

Hãy để tôi không cầu mong được cứu vớt trong lo sợ
Ngoại trừ hi vọng vào sự kiên nhẫn để giành lấy tự do.

Mong rằng tôi không là một kẻ hèn nhát,
Và tự tôi cảm thấy ân huệ của bạn trong thành công;
Nhưng hãy để tôi tìm thấy nắm tay của bạn trong thất bại.

http://www.ibiblio.org/eldritch/rt/fg.htm

http://peacefulrivers.homestead.com/Tagore.html
Đọc tiếp →

Tiểu nhân & quân tử

Blog của Đông A có ghi:



Người quân tử ở trong thiên hạ không tranh với ai, hợp quần (1) với mọi người mà không bè đảng (2). Người quân tử nếu có tranh luận thì tranh luận vào vấn đề, luận điểm. Kẻ tiểu nhân khi tranh luận thì tranh luận ở ngoài vấn đề, luận điểm. Người quân tử đối với việc thiên hạ không chủ trương phải thế này hay phải thế khác, chỉ hợp nghĩa thì làm. Người quân tử không sợ người ta hiểu lầm mình, chỉ lo đạo của mình, chí của mình chưa đạt mà thôi. Người quân tử không sợ người ta chụp mũ, luôn luôn thận độc (3) và răn mình. Kẻ tiểu nhân chỉ biết chụp mũ cho người khác và trách người.

Xem như thế để biết đâu là tiểu nhân, đâu là quân tử. Cái loại hương nguyện (4) đúng là "đức chi tặc dã".


(1) Vũ Cán, nhà nho thế kỷ 16 có thơ:

Thận độc

Kỷ sở độc tri nhân bất tri,
Khổng môn thuỳ giáo thận ư ty.
Tuy cư u ám ẩn vi xứ,
Thường tại thao tồn tỉnh sát thì.
Thành chính công phu tòng thử đắc,
Trị bình hiệu nghiệm tựu trung suy,
Dục cầu quân tử tu thân yếu.
Đương tại ngô tâm vô tự khi.
Thận độc

(Điều chỉ mình mình biết người khác không hay biết,
Cửa Khổng truyền dạy rằng phải cẩn thận với điều đó.
Dẫu ở nơi u ám khuất nẻo,
Vẫn luôn phải luôn rèn rũa suy xét.
Công phu của đạo thành ý chính tâm từ đó mà được,
Hiệu nghiệm của đạo trị quốc bình thiên hạ theo đó mà thành.
Muốn tìm điều cốt yếu của điều người quân tử dùng tu thân,
Nên tìm ở chỗ tâm ta không tự lừa dối.)

(2): Theo cuốn Chiết Văn Giải Tự, thì chữ 'đảng' có nghĩa đen là bè đảng, và theo mẫu tự truyền thống là ghép chữ 'thượng' ở trên với chữ 'hắc' ở dưới, tức là 'thượng hắc', ngụ ý là một bè đảng chủ trương toàn những điều hắc ám. Trong tiếng Hán, từ Đảng hay đảng nhân mang nghĩa chỉ trích. Đức Khổng Tử nói: 'Kẻ quân tử dẫu kiêu hãnh cũng không tranh chấp, dẫu quần tụ cũng ko kéo bè kết đảng' , và có giải thích trong Luận ngữ của mình rằng những kẻ kéo bè kết đảng như thế là để bao che nhau làm điều xấu.Trong lịch sử TQ những nhóm chính trị qui mô nhỏ thường bị gọi là băng đảng...Trong văn hóa TQ, những từ như cẩu đảng, băng đảng,kết đảng...đều mang nghĩa xấu


(3) Hợp quần là tư tưởng xã hội của Tuân Tử với câu: "Lực bất nhược ngưu, tẩu bất nhược mã, nhi ngưu mã vi dụng hà giã? Viết: Nhân năng quần, bỉ bất năng quần... Cố nhân sinh bất năng vô quần, quần nhi vô phấn tắc tranh, tranh tắc loạn, loạn tắc ly, ly tắc nhược, nhược tắc bất năng thắng vật... Năng dĩ sư thân vị chi hiếu, năng dĩ sư huynh vị chi dễ, năng dĩ sư thượng vị chi thuận, năng dĩ sư hạ vị chi quân. Quân giả, thiện quần giã, quần đạo đương, tắc vạn vật giai đắc kỳ nghi". (Sức chẳng mạnh bằng trâu, chạy chẳng nhanh bằng ngựa, sao trâu ngựa lại để cho ta khiển dụng? Câu trả lời là: Người ta biết hợp quần, trâu ngựa không biết hợp quần... Cho nên người ta sinh ra chẳng thể không hợp quần, nhưng đã hợp quần mà không định phận là tranh giành nhau, hễ tranh là loạn, loạn thì chia rẽ nhau, chia rẽ nhau thì yếu, đã yếu thì chẳng thành tựu được việc gì cả... Biết lấy đạo hợp quần mà thờ song thân gọi là hiếu, biết lấy đạo hợp quần mà trọng đàn anh, gọi là đễ, biết lấy đạo hợp quần mà kính bề trên, gọi là thuận, biết lấy đạo hợp quần mà xử kẻ dưới, gọi là chúa. Người làm chúa phải giỏi đạo hợp quần, đạo hợp quần tốt, là tất cả mọi sự vật đều được giải quyết một cách thỏa đáng).

Đoạn văn này của Tuân Tử gồm có 4 điểm chánh sau đây:

- Hợp quần là một trong những đặc tính của loài người. Nói khác đi, con người là loài động vật có đặc tính xã hội, nhờ vậy mới ưu việt hơn các loài động vật khác.

- Hợp quần tốt, là một phương thức giải quyết được các vấn đề phân tranh trong xã hội.

- Hợp quần cũng là một phương cách, tiến hành sự việc chung trong xã hội, và mọi người đều có vị trí cùng quyền lợi tương xứng.

- Tuân Tử muốn lấy đạo hợp quần thay thế cho giá trị cũ của đạo hiếu đễ. Nghĩa là, một khi con người ta đã góp phần cống hiến thích đáng cho xã hội, thì kể như đã làm tròn bổn phận trong đạo Hiếu và Để rồi.


(4) Trích từ blog của Đông A:

Tôi đoan chắc rằng nhiều người không hiểu hương nguyện là gì. Cũng chẳng phải bởi thời gian trôi qua, ký ức ngôn ngữ không còn nên ngày nay không hiểu. Người xưa cũng vậy thôi. Hương nguyện là từ rất cắc cớ. Nó vốn ban đầu là hương nguyên. Hương là làng xã, nguyên là gốc, là trước, là trọn vẹn. Không biết từ này nguyên gốc từ đâu chui ra, mọi người đều chỉ truy nguyên về Luận ngữ, coi đây là nguồn gốc.

Trong Luận ngữ, Khổng tử phán một câu: Hương nguyên, đức chi tặc dã, có nghĩa là hương nguyên là kẻ làm hại đức. Khổng tử chỉ nói thế, không giải thích gì vì vậy mà các học trò theo học đạo của ông có người không hiểu. Đến tận Mạnh tử, khi có một học trò hỏi ông, người như thế nào gọi là hương nguyên, Mạnh tử mới giải thích rằng:

"...Ấy là những kẻ hay chê cười...

Ðối với cuồng sĩ họ trách rằng: "Mấy ông ấy có chí cao nguyện lớn để làm gì?...".

Ðối với quyến sĩ, họ trách rằng: "Mấy ông ấy làm gì mà ăn ở khác đời? Làm gì mà lãnh đạm với đời? Ðã sinh ra và sống ở đời này, thì cứ làm việc đời nầy đi. Miễn được khen là tốt rồi".

Họ nịnh đời bằng cách che giấu điều tốt đẹp của người và khoe khoang việc xứng đáng của mình.

Phường như thế là hương nguyên vậy".

Cậu học trò của Mạnh tử cắc cớ hỏi tiếp:

"Cả làng đều khen họ là người thật thà đứng đắn; đi đâu họ cũng làm như người
thật thà đứng đắn. Tại sao đức Khổng tử nói rằng họ làm bại hoại nền đạo đức?"

Mạnh tử trả lời rằng:

"Muốn chê họ, thì chẳng có chỗ gì chê; muốn trách họ, thì
chẳng có chỗ gì trách. Họ đồng hoá theo thói tục thông thường, họ dung hiệp với cõi đời ô trược. Lòng dạ họ dường như trung, tín; hành vi họ dường như liêm, khiết. Dân chúng lấy làm ưa thích họ, mà họ cũng tự nhận mình là trung, tín, liêm, khiết. Thế mà họ không thể cùng đi với mình vào Ðạo vua Nghiêu, vua Thuấn. Bởi thế, đức Khổng nói rằng họ làm bại hoại nền đạo đức vậy".
Ở đây cần phải chú ý rằng Mạnh tử cho rằng cõi đời này là ô trọc, thói tục ở đời không hợp với đạo, do đó những người hòa vào cõi đời, những người được dân ưa thích không thể đạt đạo, là đáng khinh bỉ. Đến Mạnh tử, hương nguyên vẫn là hương nguyên. Đến Tuân tử, hương nguyên biến thành hương nguyện. Tuân tử giải thích rằng nguyên và nguyện đồng nghĩa, bởi vì theo ông "nguyên khác" ("khác" là thành thực) còn đọc là nguyện, và do đó hương nguyên là người cẩn nguyện, tức là người mong cầu kỹ lưỡng.

Từ đây có từ hương nguyện. Từ nguyên thành nguyện cũng mất mấy trăm năm. Nhưng không không đổi nguyên thành nguyện thì hương nguyên còn tù mù tăm tối. Nếu đối chiếu với ngày nay thì hương nguyện là những người được lòng dân chúng, làm việc ở đời, không tránh đời, không tự cao, tự đại. Họ là những người đắc cử.

Rất khác với Khổng tử, là người phải tự tiến cử mình. Từ hương nguyện đến Việt Nam cũng thiên biến vạn hóa. Vì đạo trung dung khó, không mấy ai có thể đoan chắc là mình theo được, nên Phan Khôi có nói rằng bây giờ mà còn nói chuyện trung dung thì đấy là phường hương nguyện. Trần Trọng Kim bèn đáp lại rằng: "Hương nguyện là bọn giả dối không có liêm sỉ, mượn tiếng đạo đức mà che đậy bề ngoài. Bọn ấy ở với quân tử có thể làm quân tử được, mà ở với tiểu nhân thì làm tiểu nhân.

Nếu người ta mà thành thực theo đạo đến chết, thì sao lại là hương nguyện." Ngô Đức Kế phê bình Phạm Quỳnh tán dương truyện Kiều, gọi Phạm Quỳnh là học phiệt. Phạm Quỳnh đáp trả gọi Ngô Đức Kế là đạo đức hương nguyện. Đến lượt Huỳnh Thúc Kháng đáp lại Phạm Quỳnh rằng: "Đạo đức hương nguyện” là đạo đức thế nào? Cứ như lời ông Mạnh Tử đã giải thích thì hương nguyện là chiều đời dua tục, không nói trái với ai, chính là chỉ bọn nhu mỵ. Như con đĩ Kiều kia và cả chuyện Kiều nữa mới gọi là nhu mỵ. Thế mà cho kẻ bác [lại] học Kiều là đạo đức hương nguyện thì cái chuyện phong tình ấy là đạo đức gì?"

Ở đây lưu ý Huỳnh Thúc Kháng dùng đến 3 từ: hương nguyện, nhu mỵ và con đĩ. Nhưng theo Huỳnh Thúc Kháng, hương nguyện là chiều đời tua tục, không nói trái với ai. Nhu mỵ mói là hương nguyện, và ám chỉ Phạm Quỳnh mới đích thị là phường hương nguyện. Đến ông Hoàng Ngọc Hiến, hương nguyện trở thành philistine. Đấy hương nguyện nó lằng nhằng như vậy, thành ra xem ai nói hương nguyện cũng chưa chắc đã biết người ta muốn nói gì.


Đọc tiếp →

Thứ Bảy, 20 tháng 9, 2008

Lương Phủ ngâm

Bộ xuất Tề thành môn,
Dao vọng đãng âm lý.
Lý trung hữu tam phần,
Luỹ luỹ chính tương tự.
Vấn thị thuỳ gia trủng,
Điền Cương, Cổ Dã Tử.
Lực năng bài Nam sơn,
Văn năng tuyệt địa lý.
Nhất triêu bị sàm ngôn,
Nhị đào sát tam sĩ.
Thuỳ năng vi thử mưu,
Quốc tướng Tề Án Tử.


Bài hát Lương Phủ

Người dịch: Nham Doanh Doanh

Ra khỏi cửa thành Tề đi bộ
Dõi nhìn làng lấp ló xa mờ
Giữa làng trơ trọi ba mồ
Giống nhau tưởng đã đắp gò chồng lên
Hỏi: nằm đó tuổi tên ai nhỉ ?
Điền, Cổ, Cương, đích thị ba ngài
Núi Nam lật đổ, hùng tài
Văn chương âu cũng chuyển xoay đất trời
Một khoảnh khắc nghe lời nói dại
Hai trái đào giết hại cả ba
Mưu thâm kế hiểm ai mà ?
Án Tề tướng quốc thì ra là người


Lương Phủ ngâm 梁父吟, còn viết là 梁甫吟. Lương Phủ là một ngọn núi nhỏ ở chân núi Thái Sơn. Bài thơ này thực là của Gia Cát Lượng hay là một bài ca dao đời Hán, đến nay khó còn điều kiện khảo chứng.

Thời Xuân Thu, Án Bình Trọng 晏平仲 phò Tề Cảnh Công, làm đến chức tướng quốc, là một người tài nhưng hơi hẹp lượng. Nước Tề thời đó có ba dũng sĩ là Điền Khai Cương 田開疆, Cổ Dã Tử 古冶子 và Công Tôn Tiếp 公孫接. Án Tử đưa ra hai trái đào và nói với ba người là ai có công thì hãy lấy mà ăn. Công Tôn Tiếp nói: "Ta là người chỉ một quyền đánh chết lợn rừng, hổ, xứng đáng ăn đào". Điền Khai Cương nói: "Ta đã từng dùng phục binh đuổi địch, công lao đó cũng xứng đáng ăn đào". Cổ Dã Tử nói: "Ta theo vua đến sông Hoàng Hà, có con rùa lớn xuất hiện bắt mất ngựa của vua, ta giết rùa, một tay kéo đuôi ngựa mang về cho vua, con rùa đó chính là Hà Bá thần sông Hoàng Hà". Hai người Công Tôn Tiếp, Điền Khai Cương thấy công mình không bằng Cổ Dã Tử mà lại đòi ăn đào nên tự thẹn với lòng tự vẫn mà chết. Cổ Dã Tử thấy hai người kia đã chết mà mình vẫn sống thì là bất nhân, sỉ nhục người ta đề lấy danh tiếng là bất nghĩa, nên cũng tự vẫn chết theo.
Đọc tiếp →

Im lặng

Nguyễn Hữu Quý

Sinh ra kề mắt bão
mẹ bọc tôi trong vạt phù sa
cái cuống rốn người vùi nơi gốc rạ
im lặng rễ đồng nhập vía hồn tôi

Tôi lớn lên với cây lúa ít lời
sau giông gió chỉ nói bằng hạt chín
hạt lép tập bay, hạt đầy học nhịn
lúa dạy tôi ngôn ngữ chiêm mùa

Tôi học ướt từ mưa
học khô từ nắng
học lội từ bùn
học hát từ trăng
học chắt chiu từ chua mặn đồng làng
và, sau nữa tôi học về im lặng

Im lặng rễ, im lặng cành, im lặng...
ừ nhỉ, thảo thơm đâu cần phải nhiều lời
sau vỏ trấu là trắng ngà hạt ngọc
chứa những điều ân nghĩa chẳng xa xôi

Biết im lặng khó hơn mười lần nói
lặng lẽ đi cũng chẳng phải dễ dàng
tôi nín lại tiếng reo mùa ló rạng
để ra đồng cúi mặt cấy mạ non!


Source: http://nguyenhuuquy.vnweblogs.com/
Đọc tiếp →

Thứ Năm, 7 tháng 2, 2008

Mẹ

Đỗ Trung Lai


Lưng mẹ còng rồi
Cau thì vẫn thẳng
Cau-ngọn xanh rờn
Mẹ-đầu bạc trắng

Cau ngày càng cao
Mẹ ngày một thấp
Cau gần với giời
Mẹ thì gần đất!

Ngày con còn bé
Cau mẹ bổ tư
Giờ cau bổ tám
Mẹ còn ngại to!

Một miếng cau khô
Khô gầy như mẹ
Con nâng trên tay
Không cầm được lệ

Ngẩng hỏi giời vậy
-Sao mẹ ta già?
Không một lời đáp
Mây bay về xa.
Đọc tiếp →

Chủ Nhật, 3 tháng 2, 2008

Hiệp khách hành

Hiệp khách hành

Dục xuất Hồng đô môn
Âm vân tế thành khuyết
Bảo kiếm ảm như thuỷ
Vi hồng thấp dư huyết
Bạch mã dạ tần kinh
Tam canh Bá Lăng tuyết

Ôn Đình Quân

Bài hành về hiệp khách

Muốn vượt cửa Hồng đô
Mây đùn lấp thành khuyết
Kiếm báu sẫm như nước
Tia hồng loáng dư huyết
Ngựa bạch hí luôn đêm
Canh ba cầu Bá tuyết

Đông A dịch.


* Link gốc: http://blog.360.yahoo.com/blog-Uj79afQ1dKgK_DqY5hL3Of8-?cq=1&p=17


俠客行

欲出鴻都門
陰雲蔽城闕
寶劍黯如水
微紅溼餘血
白馬夜頻驚
三更霸陵雪

溫庭筠

闕: Thời xưa, ở ngoài cửa cung, hai bên có lầu đài để nhìn ra xa, giữa có lối đi gọi là khuyết.
Bạch Cư Dị 白居易: Cửu trùng thành khuyết yên trần sinh, Thiên thặng vạn kị tây nam hành 九重城闕煙塵生, 千乘萬騎西南行 (Trường hận ca 長恨歌) Khói bụi sinh ra trên lối đi vào cung thành (của nhà vua), Nghìn cỗ xe, muôn con ngựa đi sang miền tây nam. - TĐTC.
Đọc tiếp →

Chủ Nhật, 27 tháng 1, 2008

Đêm Tháng Tư Ướt Át

Chim hót trong những vòm cây đẫm sương
Và từ trăm năm nay tôi đã nghe thấy
Và tôi đã chết, có ai khác còn lắng nghe
Tôi hạnh phúc vì đã ghi giúp anh nỗi u sầu.

Bagpiper dịch.


The birds sang in the wet trees
And I listened to them it was a hundred years from now
And I was dead and someone else was listening to them.
But I was glad I had recorded for him
The melancholy.

Wet Evening in April, Patrick Kavanagh.
Đọc tiếp →

Thứ Sáu, 18 tháng 1, 2008

Sonnet 73

W.Shakespeare
Sonnet 73

Trong tim anh chỉ mùa đông em thấy,
Khi lá vàng theo gió lạnh lắt lay,
Phất phơ treo trên cành khô run rẩy,
Vườn chim xưa nay tuyết trắng phủ dày.

Em chỉ thấy trong anh ngày sắp hết,
Khi hoàng hôn le lói phía chân trời
Và bóng tối bằng màn đen cái chết
Khẽ buông dần, đang phủ kín khắp nơi.

Em chỉ thấy dưới tro tàn tuổi trẻ
Ngọn lửa hắt hiu thiêu cháy bao tình
Và những gì xưa làm đời đẹp thế,
Nay thành mồ chôn hết cả đời anh.

Em thấy hết, nhưng cũng từ buổi đó
Càng yêu thêm người từ lâu đáng bỏ.

Thái Bá Tân dịch.

* Bản tiếng Anh:

That time of year thou mayst in me behold,
When yellow leaves, or none, or few do hang
Upon those boughs which shake against the cold,
Bare ruined choirs, where late the sweet birds sang.

In me thou seest the twilight of such day,
As after sunset fadeth in the west,
Which by and by black night doth take away,
Death's second self that seals up all in rest.

In me thou seest the glowing of such fire,
That on the ashes of his youth doth lie,
As the death-bed, whereon it must expire,
Consumed with that which it was nourished by.

This thou perceiv'st, which makes thy love more strong,
To love that well, which thou must leave ere long.
Đọc tiếp →

Thứ Tư, 9 tháng 1, 2008

Phạm Tiến Duật




Tiếng hát bay vòng tháng năm,
Ở đâu mà không cần tiếng hát,
Nhưng giữa chiến trường nhiều khi thay cho nhạc,
Là những tâm hồn có nhạc ở bên trong.

Câu hát màu chi mà khuôn mặt màu hồng,
Tiếng hát xa rồi, không nhớ nữa,
Đốt lòng nhau cứ gì phải lửa,
Tiếng hát trong rừng bay xa, bay xa.


... - Nghe em hát trong rừng



Không có kính không phải vì xe không có kính,
Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi.
Ung dung buồng lái ta ngồi,
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.


... - Bài thơ về tiểu đội xe không kính



Sự có mặt đã là câu hỏi lớn,
Hoa như em để rạo rực bao người.


... - Những bông hoa không hỏi



* Trang Thơ Phạm Tiến Duật:
http://annonymous.online.fr/Thivien/viewauthor.php?ID=96
Đọc tiếp →

Tặng Mã Giám Sinh - Bùi Giáng

Hỏi tên ? Rằng biển xanh dâu.
Hỏi quê ? Rằng mộng ban đầu đã xa.
Gọi tên ? Rằng một, hai, ba,
Đếm là diệu tưởng, đo là nghi tâm.

*

Hai câu đầu là một hình ảnh từ chương. Câu sau đã khó hiểu hơn: một, hai, ba nghĩa là gì? Hoặc ta cho là thơ cà chớn, không cần tìm hiểu; hoặc ta tìm hiểu và tham chiếu vào Đạo Đức Kinh, lời Lão Tử: "Đạo sinh ra một, một sinh ra hai, hai sinh ra ba, ba sinh ra vạn vật"; ý thức con người đong đưa giữa cái nghi và cái diệu: không nghi thì không có diệu, không nhờ cái diệu thì không giải tỏa được cái nghi. Đo và Đếm là hai thao tác của Tâm và Tưởng để tiếp xúc và nhận thức ngoại giới: đo cái liên tục và đếm cái gián đoạn. Nhưng còn là, là gì? Là môi giới qua Lời Nói. Nhưng Lời Nói là gì? Chúng ta trở về vị
trí đong đưa sóng biển giữa Diệu và Nghi.

Hiểu thơ Bùi Giáng không phải lúc nào cũng đơn giản. Mà không hiểu, chưa chắc đã đơn giản.

Đặng Tiến

Link gốc: http://www1.thanhnien.com.vn/Vanhoa/2005/4/4/78494.tno

Đọc tiếp →

Thứ Ba, 8 tháng 1, 2008

Trong sương

Lạ kỳ, trong sương dạo bước
Từng cây hòn đá lẻ loi
Không cây nào thấy cây khác
Tất cả đều thành đơn côi.

Thế giới với tôi toàn bạn
Khi cuộc đời tôi sáng soi
Giờ đây màn sương bao phủ
Đâu còn thấy rõ để coi.

Chẳng ai khôn ngoan, thật thế
Nào hay biết đến tối tăm
Lặng yên và không tránh khỏi
Chia lìa tất cả chung quanh.

Lạ kỳ, trong sương dạo bước
Cuộc đời thật quá lẻ loi
Không ai biết đến người khác
Tất cả đều thành đơn côi.

Hermann Hesse

Người dịch: Dong A
(Link gốc: http://blog.360.yahoo.com/blog-Uj79afQ1dKgK_DqY5hL3Of8-?cq=1&tag=thodich&l=6&u=10&mx=13&lmt=5)
Đọc tiếp →

Bài kệ uống trà

Bài kệ uống trà làm trong khi ngồi khuya với Phan Nhạ

Người ta không kể bề ngoài
Bề ngoài diêm dúa sơ sài bên trong
Tựa như trà ướp hoa ong
Vị trà đã mất hương lòng mất theo
Sáng ngày giếng nước trong veo
Bỏ than thật nhỏ lò treo giữa lò
Nước sôi không khói không tro
Hai bàn tay sạch thơm tho khề khà
Uống trà cốt ở vị trà
Nhiều hoa lắm lá hương trà sao thanh
Đừng vì của hiếm hư danh
Mà đem cái mũi tranh dành thực hư
Áo quần không tạo phong tư
Rườm rà cách điệu làm ngưng cung đàn
Hãy nghe câu kệ lời vàng
Đang là đang có, có là đang đang.


Vị minh tiểu kệ đồng Phan sinh dạ toạ
Cao Bá Quát

Tuyển hữu mạc thủ khí
Thủ khí mê kỳ nhân
Vị minh mạc thác hoa
Thác hoa ly kỳ chân
Hiểu tỉnh cấp thanh tuyền
Tế thán lý tân hoả
Vô yên giữ trần khí
Hối thủ nhất tiếu khả
Nhứ hương quý thanh chân
Bất dụng ngoại thước ngã
Vô dĩ nhất ác khan
Phóng nhĩ tỵ quan giả
Huyễn phục phi tráng nhan
Phồn âm biến đại nhã
Thí lưu nhất chuyễn ngữ
Tự tại chứng hiện quả

Người dịch: Tường Vũ Anh Thi


Dịch Nghĩa: Bài thơ này Cao Bá Quát làm nhân một dịp uống trà với Phan Nhạ, người cùng ông chấm thi ở trường thi Thừa Thiên. Trong lần chấm thi này, ông lấy muội đèn sửa bài của một số thí sinh. Công việc bại lộ, ông bị truy tố tội tử hình, sau đổi thành trảm giam hậu.

Link gốc: http://www.thuhoavietnam.com/forum_posts.asp?TID=200&PN=1&TPN=1
Đọc tiếp →