Chủ Nhật, 25 tháng 10, 2009
The Fish
Although you hide in the ebb and flow
Of the pale tide when the moon has set,
The people of coming days will know
About the casting out of my net,
And how you have leaped times out of mind
Over the little silver cords,
And think that you were hard and unkind,
And blame you with many bitter words.
* Source
* A comment about this poem
Yeats, The Fish And Your Cousin By LowellWriter
Telling Tales
Although you hide in the ebb and flow
Of the pale tide when the moon has set,
The people of coming days will know
About the casting out of my net,
And how you have leaped times out of mind
Over the little silver cords,
And think that you were hard and unkind,
And blame you with many bitter words.
-William Butler Yeats-
When we read anything by the Irish poet and dramatist, William Butler Yeats, we are aware of the many levels hidden behind his simplistic images and words. The poem The Fish is no exception. True, what lies on the surface exceeds satisfaction. Yet, digging deeper, we find so much more.
In the first line, we are told that someone or something is hiding. Were it not for the title, this line could apply to any living creature. Reading further, we are told that they hide in the night, “when the moon has set.” Who is hiding? Why are they hiding? These words evoke images of fugitives and every unsavory character that we are told from childhood to stay away from.
Next, you learn that the speaker has every intention of telling others about this creature. Not only that, they will tell of how an attempt was made to catch the subject. They will say that, despite a great deal of effort on the speaker’s part, the creature escaped. While they may hide, their hiding is in vain because everyone knows they exist. Though it is neither said nor suggested, undoubtedly, someone, after learning of this story, will seek out this fugitive.
Lastly, for a long time to come, possibly even forever, the speaker will think badly of the fish. He will blame his failure on the fish, not even taking into account that he may have simply lacked the skill to catch it. You save face when you can blame things on others.
In my opinion, this fish stands for a lover, a friend, an enemy, a salesperson and many other characters. It is the one that got away, not because you let them, but because they were too heartless and selfish to stay. Taken in this light, this poem was written for everyone who can’t take ownership for their shortcomings.
Everyone seems to have a friend or family member who falls in love with a cute person without even first getting to know them (often, not even learning of their name until they are deeply in love.). Each time you see your person, they give you an update on their “progress” i.e. he smiled at me, she laughed too hard at one of my jokes and such. When you finally encourage them to take things to the next level/actually talk to this person, things don’t go as planned. Your person has misinterpreted signals. As they were about to lower their net on to the cutie, the cutie said they weren’t interest, figuratively jumping out of the net. What is your friend/cousin/yourself to do? It is quite simple. In order to come off looking like your pride is still intact, you tell a story of how your cutie turned on you and was rude or, just before you were about to ask them out, they did something disgusting or mistreated someone and you realized you couldn’t handle being with someone like that. To tell the truth that they politely declined your advances would be too much of a blow. Over time, the fish turns into a great white whale.
To return to the actual fish, though I don’t know many people who fish, all of the ones I do know have a story like this poem. They were just about to reel in a huge fish when the line snapped or something like that. While in truth, they could’ve accidentally let the fish go or never actually got to this point to begin with, the legend of this fishing trip and that mean fish who didn’t know its place will out live the life any actual fish. No one wants their pride publicly wounded. Besides, hiding is for cowards and honesty is for the brave. Let this fish hide.
To me, Yeats wrote this poem both to release him of the negative feelings he felt about losing the fish and for others like him to know they are not alone. Though written years ago, failure has always been quite common. Since the dawn of time, people have been made to feel cheated by others. Still, with the fish supposedly in hiding and the speaker telling his cover story to all who will listen, thus hiding from the truth, you have to wonder who the coward really is.
---------------------------
To read more poetry analysis by this writer, please click on the link below.
http://www.triond.com/users/lowellwriter Đọc tiếp →
Thứ Sáu, 23 tháng 10, 2009
Ma Bohème
Đời di gan của tôi (Tưởng tượng)
Ðông A dịch.
Tôi bỏ đi tay đút túi quần rách
Áo khoác ngoài thành lý tưởng tuyệt vời
Nàng Thơ ơi, nô lệ nàng, tôi dạo bước dưới trời
Ô lá la, tôi mơ tình yêu lấp lánh
Đã thủng lớn chiếc quần duy nhất
Chú Bé Tí lịm người điệu khúc tôi chơi
Khi tôi býớc. Quán trọ tôi tận Bắc Ðẩu xa vời
Những ngôi sao của tôi trên trời rì rào xao xác
Và tôi lắng nghe, ngồi bệt xuống vỉa hè
Chiều tháng chín từng giọt sương rơi nhẹ
Xuống trán tôi như những giọt rượu nồng
Nhịp khúc vang giữa bóng tối diệu kỳ
Tựa thất cầm. Tôi gảy dây thun khẽ
Của đôi giày tả tơi, một chân sát tâm hồng.
-------------------------
My Bohemian Life (.Fantasy)
translated by Wallace Fowlie.
I went off, my fists in my torn pockets;
My coat too was becoming ideal;
I walked under the sky, Muse! and I was your vassal;
Oh! Oh! What brilliant loves I dreamed of!
My only pair of trousers had a big hole.
Tom Thumb in a daze, I sowed rhymes
As I went along. My inn was at the Big Dipper.
—My stars in the sky made a soft rustling sound.
And I listened to them, seated on the side of the road,
In those good September evenings when I felt drops
Of dew on my brow, like a strong wine;
Where, rhyming in the midst of fantastic shadows,
Like lyres I plucked the elastics
Of my wounded shoes, one foot near my heart!
-------------
http://www.mag4.net/Rimbaud/Poetry.html
http://poems.com/special_features/prose/essay_rivard.php
.
Đọc tiếp →
Thứ Tư, 21 tháng 10, 2009
Without music, life would be a mistake
George probably had no intention of recording any of these songs; he was just fond of Dylan. He did, however, release a cover of 'If Not For You' the following year on _All Things Must Pass_.
The songs [and seek times] are:
0. Sudio Noise [0.00]
0. Ramblin' Woman (false start) [0.40]
1. Ramblin' Woman (Harrison) [1.10]
2. I Threw It All Away (Dylan) [3.11]
3. Mama, You Been On My Mind (Dylan) [5.14]
Recorded on 9 January 1969
. Đọc tiếp →
Thứ Sáu, 16 tháng 10, 2009
Cây cầu... đã gãy
Bao nhiêu sao rớt xuống hết lòng đường
Bầu trời chết -
Thành dòng sông đen thẫm...
Anh ở một bờ
Và bờ khác -
Mình em...
Vũ khúc
Những xoáy chìm thăm thẳm cuốn theo nhau
Những lục lạc trắng ngà rung rinh hát
Những khoảnh khắc nổ -
Tĩnh lặng
Và ánh sáng lung linh...
Bởi như thể gặp nhau là diễm phúc
Và trắng ngà rung rinh
Lục lạc hát...
Và thăm thẳm xoáy chìm
Cuốn theo nhau...
Và Người đến -
Hình hài hai - cái - Chết...
Còn chút gì sót lại môi run?
Và chẳng hiểu vì đâu
Nước mắt...
* Thơ Thảo Phương: Source Đọc tiếp →
Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2009
An introduction to...
* books.google.com.vn
------------------------
denmark!!!
. Đọc tiếp →
Chủ Nhật, 4 tháng 10, 2009
Briefly on quantum mechanics and dialectics
Briefly on quantum mechanics and dialectics
Remarks on quantum mechanics
by Phil, Seattle (from Communist Voice #21, August 15, 1999)
Joseph yêu dấu,
Bạn đề nghị tôi nói chiện với bạn về điều tôi nghĩ về Cơ Lượng Tử (QM) và bản phân tích "non-standard' của bạn. Trong bài báo gần đây của bạn trong CV (1), bạn bình luận về những cố gắng của những nhà vật lý đầu thế kỷ 20 để tạo ra một triết học dựa trên lý thuyết lượng tử, và cách họ đã thường xuyên viện đến chủ nghĩa duy tâm để làm điều này. Một thời gian lâu trước đây, tôi đã đọc một cuốn sách của Werner Heisenberg (về nguyên lý Bất định danh tiếng) có tên là "Triết học và Vật lý", trong đó ông ta đã có sải những bước rất xa để bác bỏ chủ nghĩa duy vật đơn giản và giải thích cách thông dịch về QM của trường phái Copenhagen là cách thông dịch duy nhất có thể. Ti nhiên, tôi ko tin ông ta đã bác bỏ tất cả định dạng của chủ nghĩa duy vật, bởi vì ông ta ko có khái niệm về biện chứng và thứ duy nhất được gọi là "biện chứng duy vật" mà ông ta đã đối phó với hai nhà khoa học Xô-Viết, Blochinzev và Alexandrov, những người trích dẫn Lenin và cố gắng tái công thức hoá QM theo một cách không ảnh hýởng đến khái biệm về chủ nghĩa duy vật của họ. Nhý thế, họ phải trục xuất người quan sát khỏi bất kỳ vai trò nào trong thí nghiệm - một khái niệm tôi nghĩ là là trệch khỏi tiêu điểm của QM và dẫn đến một khái niệm sai trái về chủ nghĩa duy vật khá nhiều.
Sự quan sát chỉ một hành vi phàm tục, không phải của tâm trí. Trong thế giới vật lý vĩ mô, phát ngôn này dường như có ít tác động thực tiễn, nhưng trong thế giới vật lý vi mô tác động của nó là sâu xa. Khi tôi tham gia vào một phép đo vật lý, tôi đang sử dụng phương tiện vật chất để nhận thức những thực kiện vật chất, và phản ứng của thiết bị vật chất mà tôi dùng để đo với đối tượng trong phép đo của tôi là bản chất của phép đo. Thông thường (trong thế giới vật lý vĩ mô) những yếu tố của phản ứng này hiện diện trong hệ thống đýợc quan sát, bất kể sự có mặt hay vắng mặt của người quan sát, và sự đưa người quan sát vào hệ thống tạo thành một nhiễu loạn vi phân mà kết quả của nó đýợc bao hàm trong khung sai số của quan sát. Thế giới vật lý vi mô không có điều này. Sự có mặt của ngýời quan sát tại đó là sự thay đổi chính của hệ thống trong quan sát, bởi vì anh ta phải đưa vào những yếu tố mà không ở đó trong điều kiện bình thường, và chúng được bao hàm cho mục đích rõ ràng của sự thực hiện quan sát. Hơn thế, những thuật ngữ dùng để mô tả tương tác cần được bổ nghĩa - trong thế giới vật lý vĩ mô sự khác biệt giữa "hạt" và "sóng" là rõ ràng và riêng biệt, trong khi với thế giới vật lý vi mô hai thuật ngữ này lỏng lẻo về tính chất riêng của chúng. Một hạt là một khối lượng-điểm, bán kính và các kích thước vật lý của nó không đồng cỡ với khung hoạt động của chúng - nó hoàn toàn đàn hồi và hầu như giới hạn về phạm vi. Một sóng, mặt khác, có tính chất khuyếch tán, với những đường biên bất định và các kích cỡ vật lý mà có lẽ tương tác với môi trường quanh nó. Trong thế giới vật lý vi mô, hai thứ đối lập này hình thành một thể thống nhất - chúng bổ sung cho nhau hơn là xung đột. Do đó, chúng cũng có cùng những khái niệm như ngẫu nhiên và chắc chắn (chance & certainty), hỗn loạn và nhân quả, kế tiếp và đồng thời, không và thời gian.
Điều này có làm hại tới tính khách quan của khoa học không? Không nó hoản toàn bắt chúng ta tái công thức hoá tính khách quan mà tự nhiên hay thế giới vật chất đã mang đến cho chúng ta, hơn là áp đặt cho nó những điều trong đầu chúng ta. "Paradigm shift" (được diễn tả bởi Kuhn) có lẽ chỉ dẫn tính tương đối của thuật ngữ khoa học hoặc chỉ dẫn tính bất tương xứng của thuật ngữ khoa học và nhu cầu phát triển một tập hợp các thuật ngữ tốt hơn, chính xác hõn căn cứ vào tính hiện thực của thế giới hơn là khái niệm của chúng ta về nó.
Tôi đánh giá cao sự thảo luận về những ý tưởng nói trên.
. Revolutionary regards,
. Phil, Seattle.
------------------------------------
Response by Joseph Green, June 12, 1999
Phil,
Cảm ơn những lời nhận xét về QM. Bạn đóng đinh vào đầu mình với ghi chú "Sự quan sát chỉ một hành vi phàm tục, không phải của tâm trí" và "và phản ứng của thiết bị vật chất mà tôi dùng để đo với đối tượng trong phép đo của tôi là bản chất của phép đo". Sự thông dịch của những người duy tâm là ý thức của người quan sát đã làm thay đổi tình huống vật lý và tạo ra "sự co của hàm sóng", nhưng thực sự nó là một tương tác vật lý giữa hai thực thể vật chất và chúng đã làm cái điều đấy. Chúng ta có lẽ sử dụng một trong những thực thể đấy (như dòng photon/tia sáng) để tạo ra một quan sát lên chùm electron, nhưng nó không liên hệ với tương tác vật lý dù chúng ta làm photon xuất hiện (dù thứ nào khác làm), dù chúng ta đang dùng photon để tiến hành phép đo, hoặc dù chúng ta ý thức về những kết quả của quan sát. Tất cả vật chất là photon ở đấy, và đang tương tác với chùm electron.
Vấn đề về ý thức của chúng ta có chăng dẫn tới sự co của hàm sóng hay một tương tác vật chất, như bạn chỉ ra, là vấn đề của duy tâm với duy vật. (Nó có thể thành sự ngu dốt siêu nghiệm trong luận chiến giữa các nhà vật lý, xem nó nhý một vấn đề của "thuyết bất khả tri" [tham chiếu tới một thành phần thứ ba đề cập tiếp theo - JG]). Nếu như có nghi ngờ về các tương tác vật lý hay ý thức có hay không dẫn tới sự co của hàm sóng, nó dường nhý có thể được giải quyết bằng thực nghiệm. (Thí nghiệm hai khe nổi tiếng có thể được thực hiện theo cách nhý thế - Nó có thể đã xảy ra? - hãy xem những tương tác của photon và chùm electron có hay không thay đổi cách electron hoạt động, hay sự quan sát của chúng ta có hay không dẫn tới týõng tác của photon và chùm electron).
Một khía cạnh thú vị khác của vấn đề này, đó là có một số cuộc luận chiến giữa các nhà vật lý rằng các prôton có thể chăng được "quan sát" bằng các neutron trong hạt nhân (đây rõ ràng là một "quan sát"độc lập với ý thức con người). Vấn đề là tại sao những proton bên trong hạt nhân nguyên tử là bền - tại sao chúng không phân rã? Các nhà vật lý nào đó đã đưa ra lý do là chúng bị xô đẩy liên tục bởi các neutron, theo cách đó các neutron quan sát xem chúng có tồn tại hay không. Kết quả là sự co tức khắc của hàm sóng. Sự co bất biến này của hàm sóng không cho hàm sóng của proton có đủ thời gian để tiến đến điểm mà nó có thể phân rã. Sự thông dịch này không được toàn thể tán thành, và bị từ chối bởi các nhà vật lý khác. Nhưng nó chỉ ra ý tưởng về những quan sát được xem xét rõ ràng như một tương tác vật chất, độc lập với ý thức, cuối cùng có lẽ khiến nó có ảnh hưởng trong vật lý. (Xem David Wick, The Infamous Boundary, pp. 168-170. tác giả không có khái niệm về biện chứng, nhưng anh ta đã thực sự tranh luận một số thứ có ích.)
Tôi khá thích tranh luận của bạn về nỗ lực tái công thức hoá QM của Blochinzev và Alexandrov, tại điểm bạn chỉ ra họ đã không hiểu đúng đắn về chủ nghĩa duy vật. Điều này dường nhý là một trong những ví dụ sớm về những nỗ lực liên tiếp tái công thức hoá QM trái với niềm tin là cần bảo toàn QM. (Vấn đề này, dĩ nhiên, không hẳn là có sự cấm đoán những cố gắng tái thông dịch QM, mà là các nhà vật lý tin rằng nó bị đòi hỏi bởi chủ nghĩa duy vật.) Theo cách đó, khi bạn nói rằng "Họ phải loại bỏ ngýời quan sát khỏi bất kỳ vai trò nào trong thí nghiệm", điều này có phải có ý là họ bị bối rối bởi hiên tượng "sự co của hàm sóng", có phải không thể xem xét bất kỳ sự lựa chọn nào về cách thông dịch của những nhà duy tâm, và do đó tin tưởng rằng họ phải tái công thức hoá QM để tránh việc trước đấy?
Như tôi hiểu, cách tiếp cận của bạn với sự thông dịch Copenhagen và sự co của hàm sóng là giống như tôi. Bạn chia cách vấn đề duy tâm hay duy vật (Dù có chăng ý thức của chúng ta dẫn tới sự co của hàm sóng hay một tương tác vật chất dẫn tới) khỏi vấn đề những mối liên hệ biện chứng liên đới.
Bạn cũng còn nói rằng tính lưỡng nguyên sóng hạt (wave-particle duality) trong giới vật lý vi mô là một ví dụ về thể thống nhất của các mặt đối lập, đó là biện chứng. Và bạn liên kết điều đó với những thứ khác như các mối liên hệ biện chứng. Tóm lược là thế.
Một điểm thứ yếu. Bạn nói rằng những mặt đối lập "bổ sung cho nhau hơn là xung đột". Tôi đồng ý với nội dung mà tôi nghĩ bạn đã nói tại đây, nhưng bạn đụng chạm đến một vấn đề thuật ngữ mà tương tự với điều tôi đụng đến trong bài báo của mình như "sự vô lý" của những mâu thuẫn. Khi nhấn mạnh tính lưỡng nguyên, điều các nhà duy vật cơ học thấy khó khăn để hiểu, sự tranh đấu của những mặt đối lập không thể bị từ chối. Những mặt đối lập bổ sung là cũng "xung đột", nhưng không theo cách cách nhà duy vật cơ học giả định. Với những nhà duy vật cơ học, sóng và hạt "xung đột" có nghĩa là chúng không thể hình thành một tính lưỡng nguyên bổ sung, và một thực thể phải xác định là thứ này hay thứ khác; nhưng với một nhà biện chứng các bản chất của sóng và hạt có thể "xung đột", nhưng cũng là những mặt bổ sung của một thực thể - thực ra, điều này có lẽ là thứ một người mong muốn về những phương diện bổ sung. Sự thống nhất của các mặt đối lập có thể và thực sự bao hàm sự tranh đấu giữa của các mặt đối lập. Tôi cố gắng giải quyết một vấn đề thuật ngữ tương tự trong bài báo của tôi bằng sự phân biệt giữa những trái ngược vô lý và biện chứng (see p. 46, col. 1 [CV. Vol. 5, #1]). Những nhà duy vật toán học chỉ thấy những mâu thuẫn vô lý, và không thấy những mặt đối lập ảnh hưởng lẫn nhâu và nằm trong thể thống nhất. Những điểm khác biệt của tôi giữa mâu thuẫn "vô lý" và biện chứng có những vấn đề thuật ngữ riêng của nó. Một trong những vấn đề đấy tôi cố gắng giải quyết ở phần phụ chú, nơi tôi chỉ ra vấn đề không nhiều là một mâu thuẫn riêng lẻ là vô lý trong chính nó, nhưng dưới những điều kiện nhất định, nó là vô lý, và dưới những điều kiện khác, nó không là vô lý. Nhưng xa hơn điều đó, bằng sự suy ngẫm, tôi không chắc chắn rằng tài liệu biện chứng tham chiếu tới vấn đề của cùng thuật ngữ tôi đã sử dụng. Có lẽ đôi khi miêu tả sự thống nhất của các mặt đối lập như những mâu thuẫn vô lý, như sự thống nhất của những thứ mà vô lý khi xem xét tới một sự kết hợp, nhưng chúng thực sự được kết hợp. Và có lẽ đó là điểm chính. Sự thật, sau nhiều năm và thập kỷ làm việc với những mâu thuẫn nhất định (như tính lưỡng nguyên sóng hạt), thật khó để nghĩ nó là "vô lý". Nhưng điều gì đó là vô lý với cả sóng và hạt. Do đó, có lẽ, sau khi suy nghĩ về vấn đề này và nghiên cứu lại tài liệu về biện chứng nhiều hơn, tôi sẽ phải từ bỏ thuật ngữ "những mâu thuẫn vô lý" và đi đến một công thức giống như là những mâu thuẫn "vô bổ" ngược lại với những mâu thuẫn biện chứng - Với những nhà duy vật cơ học tư duy về tất cả những mâu thuẫn là vô bổ và "rời rạc".
So much for now,
. Regards,
. Joseph
Notes:
(1) This refers to Joseph Green's article "On Sokal and Bricmont's book Fashionable Nonsense/Postmodernism versus materialism" in Communist Voice, vol. 5, #1, March 28, 1999, and in particular to the sections entitled "The dialectics of nature" and "Dialectics, motion, and infinitesimals".--CV.
http://home.flash.net/~comvoice/21cQuantum.html
(tobecont.)
------------------------
Biên tập lại sau. Dịch xong chả hiểu mình dịch cái giề?! hẹ hẹ
Đọc tiếp →
Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2009
What Is Critical Reading?
Chú ý: Những ghi chú ở đây trước hết nhắm vào những văn bản không hư cấu (non-fictional texts).
Thực kiện và thông dịch (Facts v. Interpretation)
Với người đọc không phê phán, văn bản cung cấp những thực kiện. Người đọc thu được tri thức bằng cách ghi nhớ những phát ngôn trong văn bản.
Với người đọc phê phán, bất kỳ văn bản đơn lẻ nào cũng chỉ cung cấp sự mô tả về thực kiện, sự nắm bắt của một cá nhân về chủ đề (subject matter). Như thế, người đọc phê phán nhận ra không chỉ điều văn bản nói, mà còn cách văn bản mô tả chủ đề. Họ nhận ra những cách thức khác nhau mà vì thế mỗi một văn bản là sự thành tạo độc nhất của một tác giả độc nhất.
Một người đọc không phê phán có lẽ đọc một cuốn sách lịch sử để học những thực kiện của một tình huống, hoặc khám phá một sự thông dịch đã được công nhận về các sự kiện đó. Một người đọc phê phán thì có lẽ đọc cùng một thứ như thế mà để đánh giá bằng cách nào một cách phối cảnh/dàn dựng (perspective) riêng về những sự kiện, và một cách chọn lọc riêng những thực kiện có thể dẫn tới sự hiểu biết riêng biệt.
Điều một văn bản nói, làm và hàm ý: Hướng tới một sự thông dịch
Sự đọc không phê phán được thoả đáp bằng sự nhận ra điều một văn bản nói và nhắc lại những ghi chú chính.
Sự đọc phê phán đi hai bước xa hơn. Nhận ra điều văn bản nói, nó liên hệ tới điều văn bản làm bằng cách tạo ra những ghi chú như thế. Nó có đưa ra những ví dụ? Suy luận? Kêu gọi sự đồng thuận? Tạo ra sự tương phản để làm rõ một trọng điểm/tiêu điểm (point)? Sau cùng, người đọc phê phán khi suy diễn điều văn bản hàm ý như một chỉnh thể, dựa trên sự phân tích có trước.
Ba bước hay ba cách phân tích này được phản ánh trong ba kiểu đọc và thảo luận:
- Điều văn bản nói - Sự nhắc lại
- Điều văn bản làm - Sự mô tả
- Điều văn bản hàm ý - Sự thông dịch
Bạn có thể phân biệt mỗi cách phân tích theo chủ đề thảo luận:
- Điều văn bản nói - Sự nhắc lại - nói cùng một chủ đề với văn bản gốc
- Điều văn bản làm - Sự mô tả - thảo luận về những phương diện của chính cuộc thảo luận
- Điều văn bản hàm ý - Sự thông dịch - phân tích văn bản và khẳng định một ý nghĩa cho văn bản như là một chỉnh thể.
Những mục tiêu của sự đọc phê phán
Sách giáo khoa theo sự đọc phê phán yêu cầu sinh viên đạt đến những mục tiêu nhất định sau:
- nhận ra mục đich của tác giả
- nhận biết giọng điệu và những yếu tố có sức thuyết phục
- nhận ra thiên kiến
Lưu ý rằng không một mục tiêu nào ở trên thực sự tham chiếu tới những thứ trên trang viết. Chúng đòi hỏi những sự suy diễn từ bằng chứng trong văn bản:
- nhận ra mục đích bao hàm sự suy diễn một cơ sở của những chọn lựa về nội dung và ngôn ngữ/phương tiện diễn đạt (content & language)
- nhận ra giọng điệu và những yếu tố có sức thuyết phục bao hàm sự phân loại bản chất của những chọn lựa về ngôn ngữ
- nhận ra thiên kiến bao hàm sự phân loại bản chất những nguyên mẫu chọn lựa của nội dung và ngôn ngữ
Trang web này được thiết kế để mang sự bí ẩn ra khỏi sự đọc phê phán. Chúng được thiết kế đề chỉ ra cho bạn điều kiếm tìm (phân tích) và cách suy nghĩ về điều bạn tìm thấy (suy diễn).
Phần đầu - điều kiếm tìm - bao hàm sự nhận ra những phương diện của thảo luận mà nắm giữ ý nghĩa.
Phần hai - cách suy nghĩ về điều bạn tìm thấy - bao hàm những quá trình suy diễn, thông dịch dữ liệu từ trong văn bản.
Hãy nhớ ra sự đọc phê phán giả định rằng mỗi tác giả đưa ra một sự mô tả về chủ đề. Như thế, sự đọc phê phán dựa trên sự kiểm tra những lựa chọn mà mỗi một tác giả phải có khi tạo bộ khung trình bày/dàn bài: những lựa chọn về nội dung, ngôn ngữ và cấu trúc. Người đọc kiểm tra từng phạm vi lựa chọn, và xem xét tác động của chúng tới Ý nghĩa.
http://www.criticalreading.com/critical_reading.htm
----------
(tobecont.) Đọc tiếp →
Thứ Ba, 29 tháng 9, 2009
Lập ngôn?
Kẻ sĩ lúc chưa đáng nói mà nói, là dùng lời nói để thăm dò.
...
(cont.) Đọc tiếp →
Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2009
Plea for Reason, Evidence and Logic
Dịch dật tí chơi.
----------------
Plea for Reason, Evidence and Logic
by Alan Sokal
Transcript of a talk presented at a forum at New York University on October 30, 1996. It was reprinted in New Politics 6(2), pp. 126-129 (Winter 1997).
Công chiện hôm nay đã mang đến một số chủ đề khó tin, và tôi ko thể mơ tới chiện diễn thuyết về mọi điều trong 10 phút, do đó hãy để tôi khai mào bằng cách giới hạn (circumscribing) bài nói của mình. Tôi không muốn lên gối (belabor) vào sự yếu kém của Social Text cả trước và sau khi công bố bản văn nhái (parody) của mình: SC ko phải kẻ thù, ko phải mục tiêu trí thức chính của tôi. Tôi sẽ không đi vào những chủ đề đạo đức liên hệ tới tính đúng đắn của hành vi xỏ xiên (hoaxing) (dù tôi sẽ vui lòng biện hộ cho đạo đức của mình khi nào được hỏi). Tôi sẽ ko diễn thuyết về văn vở của đám người theo thuyết ngu dân (obscurantist prose) và sự sùng bái danh tiếng không phê phán mà đã tiêm nhiễm vào các lĩnh vực luỵ thời nhất định của nhân tính học giới Mẽo... (infected certain trendy sectors of the American academic humanities) (dù đây là những vấn đề quan trọng mà tôi hi vọng người tham gia khác sẽ diễn thuyết). Tôi sẽ không bước vào những chủ đề chiên môn của triết học khoa học (philosophy of science) (dù lần nữa tôi sẽ vui lòng làm điều đó khi nào được hỏi). Tôi sẽ ko thảo luận về vai trò xã hội của khoa học và công nghệ (dù đây là những chủ đề quan trọng). Thực ra, tôi muốn nhấn mạnh rằng chiện hôm nay, theo quan điểm của tôi, không chính yếu về khoa học - dù nó là sự bào chữa (excuse) cho việc dựng nên bản văn nhái của tôi - cũng ko là một mâu thuẫn về lề lối (disciplinary conflict) giữa những nhà nhà khoa học và nhà chủ nghĩa nhân văn (humanist), những người thực sự đại diện cho các phía của cuộc luận chiến. Điều tôi tin tưởng là cuộc luận chiến này chủ yếu về - và điều tôi muốn tập trung tối nay - bản chất của sự thật, lý trí và tính khách quan: những chủ đề tôi tin là cốt yếu (crucial) với tương lai của hoạt động chính trị phe tả (left politics).
Tôi đã ko viết bài văn nhái vì lý do các bạn có lẽ nghĩ đến đầu tiên. Mục tiêu của tôi không phải bảo vệ khoa học khỏi những đám phê bình văn chương man rợ hay xã hội học. Tôi biết hoàn toàn rõ ràng rằng những mối đe doạ chính với khoa học ngày nay tới từ những quản trị viên tập đoàn và những nhà chính trị chủ trương cắt giảm ngân quỹ (budget-cutting politicians and corporate executives), chứ ko tới từ một nhúm các học giả hậu hiện đại. Hơn nữa, mục đích của tôi là phải bảo vệ thứ mà mọi người gọi là thế giới quan khoa học (scientific worldview) - được định nghĩa rộng ra như một phương diện về bằng chứng và logic, và về sự đối chiếu không ngừng của những lý thuyết với thế giới thực; ngắn gọn hơn, với suy luận duy lý đặt trên sự mị dân, mê tín và mộng tưởng. Và động cơ của tôi để cố gắng bảo vệ những ý tưởng lỗi thời này, về cơ bản, là có tính chính trị. Tôi lo lắng về những trào lưu trong phe người Mẽo cánh tả (trends in the American Left) - xét riêng trong giới học giả ở đây - mà một lượng tối thiểu làm chúng ta chệch hướng khỏi nhiệm vụ công thức hoá sự phê phán xã hội tiến bộ (formulating a progressive social critique), bằng cách dẫn dắt những người tận tâm và thông minh tới trào lưu mà sau cùng chỉ là những kiểu cách trí thức rỗng tuếch, và có thể thực sự ngầm phá hoại những triển vọng về sự phê phán nói trên, bằng sự đề xướng thứ triết học của những người theo thuyết tương đối và thuyết chủ quan mà theo quan điểm của tôi là ko nhất quán (inconsistent) để đưa ra một bản phân tích thực tế về xã hội mà chúng ta cùng với những bạn công dân của mình sẽ tìm thấy sự thuyết phục.
David Whiteis, trong một bài báo gần đây, đã nói rất rõ:
Rất nhiều học giả, an toàn trong toà tháp ngà của mình và được cách ly khỏi những hệ quả ngoài đời thực mà tới từ ý tưởng họ tán thành, dường như mù loà trước một thực tế rằng sự phi lý (non-rationality) từ rất lâu đã là một trong những vũ khí mạnh mẽ nhất trong những pháo đài ý thức hệ (ideological arsenals) của những kẻ đàn áp. Tính siêu chủ quan (hypersubjectivity) ở những nhà hậu hiện đại là một ca rõ ràng (perfect case) tại điểm sau: không những là một sự kế thừa từ công cuộc bài trừ thánh tượng của phe tả (leftist iconoclasm), như một số chủ trương tuyên bố rất không chân thật, nó thực sự... đóng vai những nhà chống duy lý một cách hoàn hảo. - chống tư tưởng thực sự - một thiên kiến hiện đang tiêm nhiễm tới xu thế chủ đạo của văn hoá Mẽo (infects "mainstream" U.S. culture).
Theo những dòng trên, triết gia khoa học Larry Laudan đã nhận xét một cách chua chát rằng:
Sự thế chỗ ý tưởng về chất liệu bằng chứng và thực kiện (facts and evidence matter) bởi ý tưởng mọi thứ cô cạn (boils down) thành những cách hiểu và sở thích chủ quan - chỉ lần thứ hai tới trong những cuộc vận động chính trị Mẽo - là sự thị uy nguy hại và nổi bật nhất của chủ nghĩa phản trí thức trong thời đại của chúng ta.(Ngày nay, trở thành phản trí thức hay vận động chính trị ở Mẽo thực ra đều khá kỳ công.)
Bi giờ dĩ nhiên là, chả ai sẽ chấp nhận dựa vào logic, bằng chứng và lý trí - giống như dựa vào Motherhood và Apple Pie. Hơn thế, những ngườii bạn hậu cấu trúc và hậu hiện đại của chúng ta sẽ tuyên bố ủng hộ thứ lý trí nào đó mới lạ và sâu sắc hơn, ví dụ như sự tán dương những "tri thức địa phương" (local knowledges) và những "cách hiểu biết tuỳ chọn" (alternative ways of knowing) như một liều thuốc giải, cái được kêu là "Phương pháp luận khoa học Trung Âu" (Eurocentric scientific methodology) (các bạn biết, những thứ như tái tạo, điều khiển, thí nghiệm có tính hệ thống...v.v). Bạn tìm thấy một thành ngữ ma thuật "Tri thức địa phương", lấy ví dụ, trong những bài báo Andrew Ross và Sandra Harding trong chủ đề Science Wars của Social Text. Nhưng toàn bộ những "tri thức địa phương" có tuyệt vời ko? Và khi những tri thức địa phương mâu thuẫn, thì chúng ta nên tin tri thức địa phương nào? Trong nhiều vùng ở Midwest, những tri thức địa phương bẩu rằng bạn nên phun nhiều thuốc diệt cỏ để có vụ mùa lớn hơn. Khoa học khách quan lỗi thời thì bẩu thuốc diệt cỏ là độc hại với nông phu và con người phía hạ lưu. Tại thành phố New York, rất nhiều tri thức địa phương đã cho là có một làn sóng những bà mẹ teengage đang huỷ diệt những chỉ dẫn đạo đức (moral fiber) của chúng ta. Những dữ liệu nhàm chán thì chỉ ra tỉ suất sinh đẻ của những bà mẹ teenage về cơ bản là không thay đổi kể từ năm 1975, và bằng phân nửa tỷ suất mẫu mực của năm 1950. Một từ khác để gọi "tri thức địa phương" là định kiến.
Tôi xin lỗi phải nói điều này, nhưng dưới ảnh hưởng của hậu hiện đại một số người rất thông minh có thể ngã vào lối suy nghĩ tuỳ tiện một cách khó tin, và tôi muốn đưa ra 2 ví dụ. Cái đầu tới từ một bài báo đầu trang trên tờ New York Times thứ ba trýớc (10/22/96) về mâu thuẫn giữa những nhà khảo cổ học và một số nhà Sáng tạo luận người Mẽo bản địa (archaeologists and some Native American creationists). Tôi ko muốn diễn thuyết tại đây về những phương diện luật pháp và đạo đức của cuộc tranh luận này - người ta nên làm chủ việc sử dụng nốt 10,000 năm còn lại của nhân loại - mà chỉ về vấn đề nhận thức. Có ít nhất 2 quan điểm xung khắc về nơi mà cư dân bản địa Mẽo xuất phát. Sự nhất trí của khoa học, dựa trên những bằng chứng khảo cổ bao quát, là nhân loại tiến vào Châu Mĩ lần đầu tiên từ Châu Á vào khoảng 10-20,000 năm trước, băng qua eo biển Bering. Nhiều nhà Sáng tạo luận Mẽo bản địa thì quả quyết rằng, trái lại, người bản địa đã luôn luôn sinh sống tại châu Mĩ, kể từ khi tổ tiên của họ xuất hiện trên mặt đất từ một thế giới bí hiểm của tinh thần. Và bài báo Times nhận xét rằng rất nhiều nhà khảo cổ học, "bị giằng co giữa sự đồng cảm với văn hoá bản địa và khí chất khoa học của mình, ... đã hướng gần đến chủ nghĩa tương đối hậu hiện đại mà khi đấy khoa học cũng không hơn một hệ thống niềm tin." Ví dụ như, Roger Anyon, một nhà khảo cổ học Anh Cát Lợi, người đã từng làm việc với người Zuni, đã được trích dẫn là nói thế này "Khoa học chỉ là một trong nhiều cách nhận biết thế giới. ... [Quan điểm về thế giới của người Zuni là] cũng có giá trị như (*) quan điểm của khảo cổ học về những gì thuộc về thời tiền sử.
Bi giờ, có thể Dr. Anyon đã bị trích dẫn sai, nhưng tất cả chúng ta đã nghe đi nghe lại những khẳng định như trên, và tôi muốn hỏi những khẳng định như thế có thể có nghĩa gì. Chúng ta có ở đây hai lý thuyết ko tương hợp với nhau. Chúng ko thể cùng đúng; chúng cũng ko thể gần đúng. Dĩ nhiên, chúng có thể cùng sai, nhưng tôi ko tưởng tượng được rằng điều mà Dr. Anyon muốn nói là "cũng có giá trị nhý nhau (*)". Theo tôi thì dường như Anyon đã để sự đồng cảm về văn hoá và chính trị làm tối mờ lập luận của mình một cách khá giản đơn. Và không có sự biện minh nào cho điều đấy. Chúng ta có thể nhớ hoàn toàn rõ ràng đến những nạn nhân của một sự diệt chủng khủng khiếp và giúp đỡ những mục tiêu chính trị hợp lý của họ, nhưng không thể tán thành những truyền thuyết về sáng tạo cổ xưa của họ theo cách thiếu phê phán (hay phê phán giả tạo). Hơn thế, thái độ của những người theo thuyết tương đối là cực kỳ kẻ cả: Họ đối xử với một xã hội phức tạp như với một cục đá nguyên khối, che đậy những xung đột bên trong nó, và xem những bè cánh theo chủ thuyết ngu dân mạnh mẽ nhất như là phát ngôn viên cho tất cả.
Ví dụ thứ hai của tôi về lối suy nghĩ tuỳ tiện tới từ bài báo của đồng chủ biên Social Text, Bruce Robbins, trong tạp chí Tikkun số tháng 9/10 năm 1996, mà ông ta cố gắng bảo vệ - mặc dù miễn cưỡng - công cuộc phá đảo của chủ nghĩa hậu cấu trúc/ hậu hiện đại tới những ý niệm có tính quy ước/ước lệ về sự thật (conventional notions of truth). "Có phải quyền lợi của phụ nữ, những người Mẽo gốc Phi, và những người bị bóc lột cùng cực khác (super-exploited people)", Robbins hỏi, "đòi hỏi rằng tính đồng nhất và sự thật phải là những kiến tạo của xã hội? Có hay không," ông ta khẳng định. "Ko, bạn ko thể nói về sự bóc lột mà thiếu đi sự kiểm chứng" - chính xác theo quan điểm của tôi - "Nhưng đúng là," Robbins tiếp, "sự thật có thể là khởi nguồn của sự áp bức." Huh??? Sự thật có thể áp bức ai đó như thế nào? Ồ, những lời kế tiếp của Robbins giải thích điều anh ta muốn nói: "Cách đây không quá lâu," anh ta nói, "những nhà khoa học với những thẩm quyền đầy đủ của họ đã giải thích tại sao phụ nữ và những người Mẽo gốc Phi... cố hữu là thấp kém." Nhưng có phải Robbins đang tuyên bố đó là sự thật? Tôi nên hi vọng là ko! Chắc chắn, rất nhiều người nói không đúng về phụ nữ và người Mẽo Phi; và đúng là, những sự sai trái đó thi thoảng được khẳng định bởi cái danh xưng là "khoa học", "lý trí" và tất cả những thứ còn lại. Nhưng tuyên bố những thứ như thế không làm nên sự thật, và thực tế rằng con người - bao gồm các nhà khoa học - thi thoảng tạo ra các tuyên bố sai trái không có nghĩa chúng ta nên loại bỏ hay xét duyệt lại khái niệm về sự thật. Khá trái ngược: Điều đó có nghĩa là chúng ta nên kiểm tra những bằng chứng đằng sau những tuyên bố về sự thật một cách hết sức cẩn thận, và chúng ta nên loại bỏ những khẳng định là sai trái theo phán đoán duy lý nhất của mình.
Thật ko may, lỗi này lập lại xuyên suốt bài luận của Robbins; một cách có hệ thống anh ta từ chối sự thật bằng những tuyên bố về sự thật, từ chối thực kiện bằng những khẳng định về thực kiện, và từ chối tri thức bằng những kỳ vọng về tri thức. Những sự elision đó là cơ sở của lối tư duy tuỳ tiện về "sự kiến tạo xã hội" (social construction) mà được phổ biến trong học giới ngày nay, và khiến những sự tiến bộ phải kìm hãm lại. Chắc rằng, chúng ta chỉ ra những quyền lợi về ý thức hệ, chính trị và kinh tế được phụng sự bởi sự giải trình về "hiện thực" của ngýời đối địch với chúng ta; nhưng trước hết hãy chứng minh, bằng cách sắp đặt bằng chứng và logic, tại sao những sự giải trình đó về khách quan là sai trái (hay trong một số trường hợp là đúng nhưng ko phải tất cả).Gần cuối bài báo của mình, Robbins thẳng thắn thừa nhận rằng "những người hoạt động chính trị về văn hoá đôi khi hành động cứ như thể Sự thật luôn luôn và tại bất kỳ đâu là một vũ khí của cánh hữu". Bi giờ, đó là một thái độ tự thua đầy kinh ngạc với một người đã nhận mình là cánh tả. Nếu Sự thật ở phía cánh hữu, thì chúng ta không nên - ít ra là người chân thật nhất trong chúng ta - trở thánh người cánh hữu (right-wingers) sao? Về phần tôi, tôi là người phe tả và theo thuyết bình quyền dựa vào logic và bằng chứng (kết hợp cùng với những yếu tố đạo đức), chứ không bất chấp tất cả.
Lời biện hộ của tôi cho lý trí, bằng chứng và logic hầu như là đã có từ trước; hàng tá nhà chủ nghĩa nhân văn tiến bộ, nhà khoa học xã hội và nhà khoa học tự nhiên đã nói cùng điều này trong nhiều năm. Nhưng nếu bản văn nhái (parody) của tôi trên Social Text chỉ phần nhỏ nào giúp khuyếch đại tiếng nói của họ và khơi gợi một cuộc luận chiến cần thiết trong phe tả, khi đó nó đã phục vụ cho mục đích đề ra.
-----------------------
* Bản tiếng Anh:
http://www.physics.nyu.edu/faculty/sokal/nyu_forum.html
Đọc tiếp →
Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2009
Lời thô tục ý u tồn
Ý nào u tục thô ngôn là lời
Giả danh chân đế cũng rồi
Giả danh tục đế đẩy lời cũng qua
Trăm năm trong cõi người ta
Lọ là Long Thọ hay là Khổng Khâu
Vàng beo, lục gấu, trắng trâu
Đìu hiu trăng mọc, nhịp cầu phù du
Nay mai cơn mộng hư phù
Mẹ xin chiếu cố sa mù cho con.
...
Câu thứ năm y như lời mở đầu truyện Kiều, nhưng không thấy để trong ngoặc kép hay chú thích rõ ràng như thường tình, làm sao mà Bùi-Giáng chẳng biết nhưng có thể ông cho đó là chuyện nhỏ ai mà chẳng biết, mới lại chẳng lẽ ông “yếu” đến nỗi phải “đạo văn” một câu như thế sao! nên chẳng đáng lưu tâm, nên đã không nói gì cả.
Bài thơ này thiếu nhan đề, không ngắt câu xuống hàng, viết như một đoạn văn xuôi ở giữa hai đoạn văn xuôi khác, nơi một bài luận về “Sở Dĩ Nhiên” thấy trong cuốn tạp bút Ngày Tháng Ngao Du do nhà An-Tiêm xuất bản tại Sài-Gòn năm 1971, có thể đây thực sự chỉ là đoạn văn xuôi nhưng tình cờ nó đã vần điệu với nhau làm thành bài thơ, thật đúng như người đời ca tụng, ông không làm thơ, chẳng nghĩ thơ… thơ đến tự nhiên tuôn ra như nước chẩy.
source link
Chu Hy viết: "Cùng lý là muốn biết cái sở dĩ nhiên (1) của sự vật với cái sở đương nhiên (2) của sự vật mà thôi. Biết cái sở dĩ nhiên cho nên cái chí không hoặc (*), biết cái sở đương nhiên cho nên việc làm không lầm." Trích từ Trần Trọng Kim, sđd., Hạ tập, tr. 165
source link
(1): cause; (2): fact (?)
(*): nghi hoặc; "tứ thập nhi bất hoặc", Khổng tử.
------------------
Updated 03/08/2010:
已然: dĩ nhiên (己 kỉ, 火 hỏa)
當然: đương nhiên (田 điền,火 hỏa )
所: sở (cái) (戶 hộ)
礎: cơ sở (石 thạch )
所已然: sở dĩ nhiên
所當然: sở đương nhiên Đọc tiếp →
Thứ Hai, 14 tháng 9, 2009
If not me, then who?
(*): In the 1970s one of his colleagues Vladimir Ritus, asked him why he had taken the steps he did thereby putting himself in such grave danger. Sakharov's reply was, "If not me, who?"Sự thay đổi của Andrei Sakharov Người chế tạo bom hydro của Liên Xô trở thành một nhà hoạt động vì hòa bình và nhân quyền. Điều gì đã khiến ông thay đổi như vậy?
...
Khi một đồng nghiệp của hỏi ông tại sao ông lại làm những việc như vậy, Sakharov đã trả lời: "Nếu không phải tôi thì ai đây?" (*)
http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=90&News=2060&CategoryID=24
http://oldweb.uwp.edu/academic/criminal.justice/1486017.pdf
02. Andrey Dmitrievich Sakharov (1921-1989)
Andrey Dmitrievich Sakharov chào đời ngày 21/5/1921 tại thành phố Moscow, nước Nga. Ông Sakharov là một nhà vật lý hạch tâm, một nhân vật can đảm tranh đấu cho nhân quyền, đòi hỏi các tự do dân sự (civil liberties) cũng như các cải tiến tại Liên Xô. Vào tháng 12 năm 1975, ông Andrey D. Sakharov được trao tặng Giải Thưởng Nobel Hòa Bình (the Nobel Prize for Peace) vì các công trình hoạt động của ông trong nhiều năm trường.
...
Năm 1947, ông Andrey D. Sakharov bảo vệ luận án Tiến Sĩ về Vật Lý Hạch Tâm (nuclear physics) rồi qua năm sau, 1948, được mời tham gia vào nhóm các nhà nghiên cứu khoa học mà nhiệm vụ của họ là làm phát triển các võ khí nguyên tử, với nhà bác học đứng đầu nhóm là ông Igor E. Tamm. Từ đầu năm 1950, nhà bác học Igor E. Tamm cùng với Tiến Sĩ Andrey D. Sakharov và nhóm chuyên gia, đã nghiên cứu và thử nghiệm các phản ứng nhiệt hạch tâm có kiểm soát (controlled thermonuclear reaction), rồi sau đó chế tạo các máy phát từ khổng lồ (magnetic generators), nhờ đó đã đạt được một kỷ lục về từ trường mạnh tới 25 triệu gauss.
Trong vòng 20 năm, ông Sakharov đã làm việc trong các điều kiện an ninh tuyệt đối, dưới các căng thẳng lớn, đầu tiên tại khu vực thành phố Moscow rồi về sau tại một trung tâm nghiên cứu bí mật. Các công trình nghiên cứu xuất sắc của ông Sakharov về khí động học của chất khí (gas dynamics), sự hạn chế từ tính của các hạt chứa điện tích (magnetic confinement of charged particles) cũng như các vấn đề chính yếu trong công trình chế tạo bom khinh khí (hydrogen bomb), lần đầu tiên được thử vào tháng 8 năm 1953. Do những đóng góp lớn lao này, ông Sakharov được bầu làm Viện Sĩ của Hàn Lâm Viện Khoa Học Liên Xô năm 32 tuổi, cũng như được trao tặng nhiều danh dự và thụ hưởng các đặc quyền, đặc lợi khác.
Vào thời gian đầu của thập niên 1950, ông Sakharov cũng như nhiều nhà bác học Liên Xô khác, đã say sưa với tầm quan trọng của công trình võ khí nguyên tử, tin tưởng rằng nhờ chương trình này mà có sự cân bằng thế lực trên thế giới, giữa hai khối tư bản và cộng sản, nhưng qua giữa thập niên, ông bắt đầu suy nghĩ tới các nguy hiểm do các vụ nổ nguyên tử gây ra, lo lắng về các phóng xạ từ trái bom khinh khí 100-megaton nổ trong không trung, rơi xuống nhiều miền đất rộng lớn, gây ra tai họa cho nhân loại và môi trường thiên nhiên. Tại một buổi họp trong Điện Kremlin vào năm 1961, ông Sakharov đã chuyển tới vị Tổng Bí Thư Nikita Khrushchev một bản viết chỉ trích việc tiếp tục các thí nghiệm võ khí hạch tâm. Ông Sakharov đã vận động thành công việc chống đối và vạch trần các chủ thuyết giả mạo (spurious doctrines) của nhà sinh học đầy thế lực T.D. Lysenko. Ông đã quan tâm tới các vấn đề sinh học (biological) cũng như đạo đức (moral) do bởi các thử nghiệm hạch tâm kể trên, rồi kể từ năm 1967, ông đã báo động cho nhiều người khác biết rõ các tai họa sẽ xẩy ra.
Trong bài luận văn viết vào năm 1968 với nhan đề là "Suy Nghĩ về Tiến Bộ, Cùng Sống trong Hòa Bình và Tự Do Trí Tuệ" (Reflections on Progress, Peaceful Coexistence, and Intellectual Freedom), ông Sakharov đã biện hộ việc giảm bớt căng thẳng (détente) giữa hai khối đối nghịch Đông và Tây và kêu gọi cách hội tụ của hai hệ
thống tư bản và xã hội chủ nghĩa.
...
http://vietsciences.free.fr/biographie/physicists/sakharov.htm
03. Sakharov's Chronology
...
1968, July. “Reflections on Progress, Peaceful Coexistence, and Intellectual Freedom” is published in the West.
1972, October. Sakharov’s first interview to a Western correspondent.1973, August 21. Sakharov’s first press conference.
1973, August 23. In an interview with Western journalists, Sakharov says, “How can we speak of trust, if one of the sides is like a giant concentration camp?”
1975, October 9. The Nobel Peace Prize award to Sakharov is announced.
...
http://people.bu.edu/gorelik/AIP_Sakharov_Photo_Chrono/AIP_Sakharov_Photo_Chronology.html
04. Andrei Sakharov's Nobel Lecture, December 11, 1975 (Peace, Progress, Human Rights):
http://nobelprize.org/nobel_prizes/peace/laureates/1975/sakharov-lecture.html
05. The opening paragraphs of Sakharov’s Reflections on Progress, Peaceful Coexistence, and Intellectual Freedom:
http://www.aip.org/history/sakharov/essay.htm Đọc tiếp →
Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2009
Thơ Nga sưu tầm
Trên phố nhà tôi (По улице моей)
Trên phố nhà tôi bao năm vẫn vọng
Tiếng bước chân, bè bạn tôi đi xa.
Họ chầm chậm theo nhau dần khuất bóng
Làm dày thêm khoảng tối phía sau nhà.
Bao công việc của họ bị bỏ qua,
Nhà lặng vắng không còn ai đàn hát,
Duy vẫn như xưa trên tác phẩm Dega
Thiếu nữ điệu đà sửa sang nhan sắc.
Biết làm sao, đừng gợi thêm nỗi sợ
Giữa đêm dày trong những kẻ bơ vơ.
Lòng khát khao sự bội phản không ngờ
Bạn tôi ơi, sẽ phủ mờ khoé mắt.
Ôi cô đơn! Sao ngươi tàn nhẫn thế,
Vung chiếc compa bằng sắt lạnh lùng,
Nghiệt ngã xoay tròn khép kín một vòng
Bỏ ngoài tai mọi nguyện thề vô ích.
Vậy hãy gọi ta, hãy thưởng ta đi!
Đứa con yêu hằng được ngươi âu yếm,
Ta bình yên được ngươi ôm vào ngực
Gột rửa mình trong lạnh giá thanh thiên.
Cho ta nhé, kiễng chân trong rừng thiêng,
Tận cuối kia tay ta đưa chầm chậm.
Tìm nhành lá ta ấp lên gương mặt
Để cô đơn thành hoan lạc trời trao.
Cho ta nhé các thư viện bình yên,
Các bản nhạc trang nghiêm còn vang vọng.
Và thông thái, ta quên đi hết thảy,
Kẻ chết người còn ta cũng quên luôn.
Ta ngộ ra trí tuệ với nỗi buồn,
Được giao phó biết bao nhiêu bí ẩn.
Mẹ thiên nhiên tựa vai ta tin cậy
Và trao ta những bí mật trẻ thơ.
Và khi đó, từ quá khứ ngu ngơ,
Từ nước mắt nhoà và từ bóng tối,
Những gương mặt bạn bè tôi dần hiện
Đẹp lạ lùng trước khoảnh khắc phôi pha.
1959
Giã từ (Прощание)
Và lời cuối hãy để cho tôi nói:
Giã từ thôi, anh chẳng phải cố yêu.
Tôi mất trí. Hoặc là tôi đang đến
Mức độ điên cao hơn thế rất nhiều.
Anh đã yêu thế nào? – hay anh nếm
Vị diệt vong. Nào chỉ thế thôi đâu.
Anh đã yêu thế nào? – hay anh chỉ
Hành hạ tôi. Anh mới vụng làm sao.
Thật nghiệt ngã … Vị sai lầm cay đắng
Làm sao tôi tha thứ nổi cho anh.
Thân tôi sống, mắt tôi còn thấy sáng
Nhưng trống không thể xác lạnh tanh.
Tay buông xuôi, dù mạch còn đập khẽ
Nơi thái dương dưới làn da trắng xanh.
Mọi cảm nhận màu sắc và mùi vị
Theo nhau rời tôi cùng những âm thanh.
1960
* Tykva dịch:
http://diendan.nuocnga.net/archive/index.php/t-74.html
* А напоследок я скажу (ПРОЩАНИЕ)- Valentina Ponomariova hát trong phin Bản tình ca nghiệt ngã:
http://www.youtube.com/watch?v=KL0KNYT5MQU
(cont.) Đọc tiếp →
