Thứ Sáu, 30 tháng 7, 2010

Sơn trà



山茶

春來客贈我山茶
醉裏曚曨不辨花
白髮蒼顏吾老矣
紅袍金帶子真耶
尋常細雨驚穿葉
蕭瑟晨風怨落茄
近日相看惟以鼻
了無香氣一呵呵

阮勸


Sơn trà

Xuân lai khách tặng ngã sơn trà
Tuý lý mông lung bất biện hoa
Bạch phát thương nhan ngô lão hĩ
Hồng bào kim đái tử chân da
Tầm thường tế vũ kinh xuyên diệp
Tiêu sắt thần phong oán lạc già
Cận nhật tương khan duy dĩ tỵ
Liễu vô hương khí nhất kha kha

Nguyễn Khuyến

Sơn trà

Xuân tới có người gởi tặng hoa
Đương say ta chẳng biết sơn trà
Mặt xanh tóc trắng ta già vậy
Đai bạc áo hồng bác đấy a
Mưa nhỏ tầm thường e xỏ lá
Gió mai hiu hắt ngại rơi hoa
Buổi nay nhìn ngắm duy nhờ mũi
Đếch thấy hơi hương một tiếng khà

Pang De dịch dật.


-------------------------
(1) Sơn trà: loại hoa có sắc mà không có mùi hương.

(2) Xuyên lá: dịch sát chữ “xuyên diệp 穿葉”. Tiếng Việt có thành ngữ “xỏ lá” để chỉ những hành động thâm hiểm, đểu cáng. Tác giả đưa thành ngữ Việt này vào thơ Hán thành “xuyên diệp” với hàm ý đả kích kẻ đã chơi trò “xỏ lá” tặng cây trà.

(3) Rụng đài hoa: dịch sát chữ “lạc già 落茄”. Đây tác giả cũng có ngụ ý chơi chữ, thể hiện rõ trong bài tự dịch nôm thành “rơi già” (đồng âm với dơi già, con dơi già).

Xem thêm bài "Tạ lại người cho hoa trà" (Tác giả tự dịch bài "Sơn trà") phần thơ Nôm.

Trong cuốn sách "Chu Mạnh Trinh - Thơ và giai thoại", NXB VHTT, 2000, tác giả Lê Văn Ba đã đưa ra những cứ liệu thuyết phục để khẳng định rằng Chu Mạnh Trinh không phải là người tặng hoa trà cho Nguyễn Khuyến.

Nguồn:
1. Thơ Văn Nguyễn Khuyến, Nhà xuất bản Văn học, 1971.
2. Nguyễn Khuyến - Tác phẩm, Nguyễn Văn Huyền biên khảo, NXB KHXH, 1984.
3. Trần Văn Nhĩ, Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến, NXB Văn Nghệ, 2005.
-----------------------------
* Bản tự dịch của Tam nguyên Yên Đổ:

Tết đến người cho một chậu trà,
Đương say ta chẳng biết rằng hoa.
Da mồi, tóc bạc ta già nhỉ,
Áo tía đai vàng bác đó a?
Mưa nhỏ những kinh phường xỏ lá,
Gió to luống sợ lúc rơi già.
Xem hoa, ta chỉ xem bằng mũi,
Đếch thấy hơi hương một tiếng khà.

------------------------------------------

* Nguồn: http://www.thivien.net/viewpoem.php?ID=39407
Đọc tiếp →

Thứ Hai, 26 tháng 7, 2010

Khóc Ân Dao kỳ một



哭殷遙其一

送君返喪石樓山
松柏蒼蒼賓馭還
埋骨白雲長已矣
空餘流水向人間

Khốc Ân Dao kỳ nhất

Tống quân phản táng Thạch lâu san,
Tùng bách thương thương tân ngự hoàn.
Mai cốt bạch vân trường dĩ hĩ,
Không dư lưu thuỷ hướng nhân gian.

Vương Duy

Khóc Ân Dao kỳ một

Đưa anh lại núi Thạch Lâu vùi
Tùng bách xanh màu ngựa khách lui
Mây trắng chôn xương người đã tận
Trần còn dòng nước chảy về xuôi

Leopard dịch.

------------------------------------------
01. Thương thương:

* VôDanhKhách viết:

1. Xanh sẫm của cỏ như trong 蒼海 = thương hải = bể xanh
2. Xanh như trong 倉海 = thương hải = bể xanh.
3. Mông mênh như trong 滄海 = thương hải = bể khơi.

Có vài bài thơ Đường xài hai chữ 蒼海. Khách không tìm thấy bài nào xài chữ 倉海.

Có thể nói tất cả các bài thơ cửa Lý Thương Ẩn xài hai chữ 滄海 như trong bài: Cẩm Sắt, Yết Sơn, Diêu Lạc....

* Vi Nhất Tiếu viết:

Gốc chữ thương 倉, thêm bộ thảo thành thương 蒼, thêm bộ thủy thành 滄, đều trỏ vào màu xanh. Tuy nhiên màu xanh của chữ thương khác với màu xanh của chữ thanh 青. Thanh là màu xanh "cơ bản", xanh của ngũ hành, tượng cho Mộc ở phương Đông. Đông tà Hoàng Dược Sư là "thanh bào quái khách" chứ không phải "thương bào quái khách", chúa xuân theo gió Đông mà đến nên gọi là Thanh đế chứ không phải Thương đế.

Chữ thương 蒼 có bộ thảo nên dùng trỏ sắc xanh của cây cối, chiêu Thương tùng nghênh khách của Hoa Sơn chính là dùng chữ thương này. Ngoài ra còn dùng để trỏ màu sắc của bầu trời, trong bài tế hoa phù dung của Bảo Ngọc câu đầu tiên là 天何如是之蒼蒼兮 - Thiên hà như thị chi thương thương hề (trời kia sao xanh xanh quá vậy)...

Chữ thương 滄 có bộ thủy nên dùng để tả biển cả, còn có hàm ý bát ngát trùng khơi chứ không đơn giản là chỉ màu sắc. Ngoài ra do điển cố "thương hải biến vi tang điền" nên dùng chữ "thương hải" thường kín đáo bộc lộ tình cảm, mang màu sắc ưu tư trước những biến động của nhân gian.

Chữ thanh 清 có bộ thủy vào lại chuyển sang mang nghĩa là nước trong, là thanh sạch, giản dị, chứ không còn là màu xanh nữa, nên ít dùng để tả biển, có chăng hay dùng để tả trời (cõi thái thanh) hay gió (thanh phong minh nguyệt)...

Thương khung thần kiếm viết là 蒼穹神剑, chữ thương bộ thảo, còn chữ khung nghĩa là vòm, thương khung là cái vòm màu xanh >>> chỉ trời...

http://www.vietkiem.com/forums/index.php?showtopic=16363


* Thơ Đỗ Phủ:

Thiên thượng phù vân như bạch y
Tu du hốt biến vi thương cẩu

天上浮雲如白衣
斯須變幻為蒼狗

http://hi.baidu.com/%BC%AA%CB%FB%C9%F9/blog/item/dc5cce06a6ee3577020881b9.html

* Kiêm gia - Kinh thi:

Kiêm hà (gia) thương thương (蒼蒼), bạch lộ vi sương


02. Trường dĩ hĩ:

Đỗ Phủ có thơ là "Tồn giả thả thâu sinh, tử giả trường dĩ hỹ" (存者且偷生,死者長已矣). Nghĩa là "Kẻ còn sống qua ngày, kẻ chết thế là hết."

--------------------------------

* http://www.viethoc.org/
Đọc tiếp →

Chủ Nhật, 25 tháng 7, 2010

Tạp thi kỳ một



雜詩其一

壯士白頭悲向天
雄心生計兩茫然
春蘭秋菊成虛事
夏暑冬寒奪少年
黃犬追歡鴻嶺下
白雲臥病桂江邊
村居不厭頻沽酒
尚有囊中三十錢

Tạp thi kỳ nhất

Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên
Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên
Xuân lan thu cúc thành hư sự
Hạ thử đông tàn đoạt thiếu niên
Hoàng khuyển truy hoan Hồng Lĩnh hạ
Bạch vân ngọa bệnh Quế Giang biên
Thôn cư bất yếm tần cô tửu
Thượng hữu nang trung tam thập tiền

Nguyễn Du

Tạp thi kỳ một

Đầu bạc trông trời tráng sĩ đau
Hùng tâm sinh kế vẫn chưa đâu
Xuân lan thu cúc thành suông cả
Hạ nóng đông hàn đoạt tuổi mau
Hồng Lĩnh chó vàng vui tìm mãi
Quế Giang mây trắng bệnh nằm lâu
Thôn quê chẳng chán hoài mua rượu
Ba chục tiền còn giắt túi sau

Leopard dịch.


* Hoàng khuyển: Thừa tướng nhà Tần là Lý Tư bị khép tội, lúc lâm hình còn nhớ tới cái thú dắt chó vàng đuổi muông thú. (Nguyễn Du có biệt hiệu là Hồng sơn hiệp lộ, nghĩa là phường săn ở núi Hồng.)

* Tam: Hán tự là 三, cũng đọc là "tám"?
Đọc tiếp →

Thứ Sáu, 23 tháng 7, 2010

Ngẫu hứng kỳ hai



偶興其二

一淚天涯洒斷蓬
羅浮江上起秋風
黃雲白水兩相照
急管悲絲萬不同
六尺拘縻長役役
四時拋擲太匆匆
征鴻影裏家何在
隱隱瓊雲三兩峰

Ngẫu hứng kỳ nhị

Nhất lệ thiên nhai sái đoạn bồng
La Phù giang thượng khởi thu phong
Hoàng vân bạch thuỷ lưỡng tương chiếu
Cấp quản bi ty vạn bất đồng
Lục xích câu my trường dịch dịch
Tứ thì phao trịch thái thông thông
Chinh hồng ảnh lý gia hà tại
Ẩn ẩn Quỳnh vân tam lưỡng phong

Nguyễn Du

Ngẫu hứng kỳ hai

Bồng đứt bên trời lệ thấm rơi
La Phù trên sóng gió thu khơi
Mây vàng nước trắng chung đôi chiếu
Sáo gấp tơ buồn chẳng thuận chơi
Sáu thước cột ràng hoài khổ nhọc
Bốn mùa quăng quật vẫn mau trôi
Xa trong bóng hạc nhà đâu tá
Thấp thoáng mây Quỳnh khóm núi phơi

Leopard dịch.




Đọc tiếp →

Trước rượu



對酒

趺坐閒窗醉眼開
落花無數下蒼苔
生前不盡樽中酒
死後誰澆墓上杯
春色漸遷黃鳥去
年光暗逐白頭來
百期但得終朝醉
世事浮雲真可哀

Đối tửu

Phu toạ nhàn song tuý nhãn khai
Lạc hoa vô số há thương đài
Sinh tiền bất tận tôn trung tửu
Tử hậu thuỳ kiêu mộ thượng bôi
Xuân sắc tiệm thiên hoàng điểu khứ
Niên quang ám trục bạch đầu lai
Bách kỳ đãn đắc chung triêu tuý
Thế sự phù vân chân khả ai

Nguyễn Du

Trước rượu

Mắt say ngồi xếp cạnh song nhàn
Hoa rụng rêu xanh bội cánh dàn
Chung rượu ngày còn ta chẳng cạn
Nấm mồ khi mất chén nào chan
Sắc xuân dần đổi oanh vàng bặt
Cảnh tháng ngầm trôi tóc trắng lan
Trăm tuổi mong ngày say trọn buổi
Việc đời mây nổi luống buồn than

Leopard dịch.



Đọc tiếp →

Thứ Tư, 21 tháng 7, 2010

Làm thay người đi thú lâu năm mong về

代作久戍思歸

關外秋風送笛吹
班超頭白未城歸
十年許國君恩重
千里離家旅夢遲
夜繡榮花身外幻
朝雲名利眼前非
隴阡歲歲瓜田熟
苦盡甘來尚有期

Đại tác cửu thú tư quy

Quan ngoại thu phong tống địch xuy
Ban Siêu đầu bạch vị thành quy
Thập niên hứa quốc quân ân trọng
Thiên lí ly gia lữ mộng trì
Dạ tú vinh hoa thân ngoại huyễn
Triêu vân danh lợi nhãn tiền phi
Lũng thiên tuế tuế qua điền thục
Khổ tận cam lai thượng hữu kì

Nguyễn Du

Làm thay người đi thú lâu năm mong về

Ải ngoài sáo thổi gió thu đưa
Tóc bạc Ban Siêu chửa lại nhà
Báo quốc mười năm ân vẫn nặng
Cách quê vạn dặm mộng còn xa
Gấm đêm phú quý ngoài thân ảo
Mây sớm lợi danh trước mắt qua
Khoảnh ruộng bao mùa dưa chín đỏ
Mong ngày khổ hết khúc vui ca

Leopard dịch.


* Qua điền thục: Liên Xưng và Quản Chi Phủ đi thú đất Quý Châu, khi đi thì mùa dưa chín, hẹn cùng người nhà đến mùa dưa chín năm sau sẽ về (Tả Truyện). Tức là đi thú chỉ một năm. Còn người trong này thì năm nào cũng thấy dưa chín ở bên cạnh nơi đồn trú, nhưng chưa được về.

http://www.hoasontrang.us/vietcothi/index.php?loi=14
Đọc tiếp →

Thứ Bảy, 17 tháng 7, 2010

Khúc hát Lương Châu

涼州詞

葡萄美酒夜光杯,
欲飲琵琶馬上催。
醉臥沙場君莫笑,
古來征戰幾人回。

王翰


Lương Châu từ


Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi
Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.

Vương Hàn

Khúc hát Lương Châu

Rượu vị bồ đào chén dạ quang
Toan nâng trên ngựa tiếng đàn ran
Say nằm chiến trận anh đừng mỉa
Chinh chiến xưa nay mạng khó toàn

Leopard dịch.



Đọc tiếp →

Thứ Năm, 15 tháng 7, 2010

Mưa đêm



夜雨

早蛩啼複歇,
殘燈滅又明。
隔窗知夜雨,
芭蕉先有聲。

Dạ vũ

Tảo cung đề phục yết,
Tàn đăng diệt hựu minh.
Cách song tri dạ vũ,
Ba tiêu tiên hữu thanh.

Bạch Cư Dị

Mưa đêm


Con dế sáng hết kêu rồi bặt
Ngọn đèn tàn đã tắt giờ khơi
Đêm nằm biết có mưa rơi
Tiếng tàu lá chuối vừa ngơi cửa ngoài

Leopard dịch.
Đọc tiếp →

Chủ Nhật, 11 tháng 7, 2010

Tạp ngâm



雜吟

踏遍天涯又海涯,
乾坤隨在即為家。
平生不起蒼蠅念,
今古誰同白蟻窩。
寥落壯心虛短劍,
蕭條旅悶對時歌。
閉門不識春深淺,
但見棠藜落盡花。


Tạp ngâm


Đạp biến thiên nha hựu hải nha,
Càn khôn tuỳ tại tức vi gia.
Bình sinh bất khởi thương dăng niệm,
Kim cổ thuỳ đồng bạch nghĩ oa?
Liêu lạc tráng tâm hư đoản kiếm,
Tiêu điều lữ muộn đối thì ca.
Bế môn bất thức xuân thâm thiển,
Đãn kiến đường lê lạc tận hoa.


Nguyễn Du

Tạp ngâm

Góc bể chân mây bước chẳng ngừng
Đất trời đâu đến ấy phòng cung
Nghĩ suy không để ruồi xanh bám
Ăn ở đâu cho kiến trắng chung
Sầu khách tiêu điều ca dễ lắng
Tráng tâm lưu lạc kiếm khôn dùng
Cửa cài không biết xuân còn hết
Chỉ thấy hoa lê rụng kiệt cùng

Leopard dịch.

=============================
* Thương dăng: Ruồi xanh, tức là nhặng.

* Bạch nghĩ: Kiến trắng, tức là mối.

* Đường lê: Pyrus betulaefolia/ Pyrus betulifolia (Pear tree)

Thảo mộc trong cổ văn Việt Nam
http://namkyluctinh.org/a-vantho/vkdien/vkdien-thaomoc.htm

"Đường lê, một cây cao trung bình, tên khoa học là -pyrus betulaefolia họ hoa hồng Rosaceae... "


Đọc tiếp →

Thứ Sáu, 9 tháng 7, 2010

Công danh



"Có trung hiếu nên đứng trong trời đất,
Không công danh thời nát với cỏ cây,
Chí tang bồng hồ thỉ dạ nào khuây..."

- Phận sự làm trai (1)


"Đã mang thân ở trong trời đất,
Phải có danh gì với núi sông.
Nợ sách đèn đem nghiên bút trả xong,
Cầu xe ngựa lúc đi về mới tỏ..."

- Nợ tang bồng (2)


"Nhập thế cục bất khả vô công nghiệp,
Xuất mẫu hoài tiện thị hữu quân thân.
Mà chữ danh liền với chữ thân,
Thân đã có ắt danh âu phải có."

- Nghĩa người đời


"Có từng gian hiểm mình càng trí
Song lắm phong trần lụy cũng sâu
Năm ấy đã qua thời chả lại
Giống kia có muộn mới còn lâu..."

- Muộn thành đạt
=================================

(1) Tang: Cây dâu. Bồng: cỏ bồng. Hồ: cây cung. Thỉ: mũi tên.

Tang bồng hồ thỉ là cây cung bằng cây dâu, mũi tên bằng cỏ bồng. Theo Kinh Lễ, khi nhà vua sanh hoàng tử (con trai), quan coi việc lấy cây cung bằng cây dâu và 6 mũi tên bằng cỏ bồng, bắn ra bốn hướng (Đông, Tây, Nam, Bắc) rồi bắn lên trời một mũi, bắn xuống đất một mũi, ngụ ý nói rằng: người con trai lớn lên có chí khí ở bốn phương, tung hoành ngang dọc trong Trời Đất.

Tang bồng hồ thỉ là chí khí nam nhi, vẫy vùng ngang dọc trong Trời Đất.



(2) Chữ vũ trụ trong bài hát nói này dường như đồng nghĩa với chữ trời đất, thế nên câu mở đầu có nghĩa là trong trời đất này mọi việc đều là phận sự của kẻ sĩ. Chẳng có công danh thì hỏi đứng giữa cõi trần này làm chi. Chí cung tên chót hẹn với non sông, theo đạo Nho là phải trung vói vua hiếu với cha. Đã mang thân sống trong trời đất này, phải có danh với núi sông. Là nhà Nho là mang nợ sách đèn, và vì thế phải trang trải bằng nghiên bút. Tác giả chợt nhớ đến truyện người Tư Mã Tương Như, người đời Hán bên Trung Quốc, vào kinh đô tìm công danh có thề rằng:

Bất thừa xa mã bất hoàn quá thử kiều. (Bất thừa cao xa tứ mã, bất phục quá thử kiều.)

Nghĩa là: Nếu không ngồi xe ngựa không về qua cầu này.


Đọc tiếp →

Thứ Năm, 8 tháng 7, 2010

Nỗi oán khuê phòng



閨怨

睡起鉤簾看墜紅,
黃鸝不語怨東風。
無端落日西樓外,
花影枝頭盡向東。

Khuê oán

Thuỵ khởi câu liêm khán truỵ hồng,
Hoàng ly bất ngữ oán đông phong.
Vô đoan lạc nhật tây lâu ngoại,
Hoa ảnh chi đầu tận hướng đông.

Trần Nhân Tông

Nỗi oán khuê phòng

Giấc tàn hoa thấy rụng đầy bông
Chẳng hót oanh hờn ngọn gió đông
Vô cớ lầu tây vừng dương lặn

Đằng đông đầu nhánh bóng hoa trông

Leopard dịch.


====================================
* Bản dịch của Đông A:

Nỗi oán khuê phòng

Vén rèm ngủ dậy ngắm hoa rơi,
Oanh oán gió đông cứ ngậm lời.
Vô cớ bên đoài ô khuất gác,
Bóng hoa đầu ngọn ngóng đông hoài.

* MỘT THOÁNG CUNG CHIÊM ĐỆ NHẤT MINH TRIẾT TRẦN NHÂN TÔNG:
Nguyễn Đình Chú viết

http://www.viet-studies.info/NguyenDinhChu_TranNhanTon.htm
Đọc tiếp →

Tiếng dế đêm thu

秋夜蛩聲

一天星斗夜沉沉,
乍頂聲聲思不禁。
隔竹高低敲丙枕,
和霜斷續瀉滄音。
愁侵角戍三更月,
喚起鄉閨萬里心。
銷鐵橫秋男子操,
丁寧莫使入人深。

Thu dạ cùng thanh

Nhất thiên tinh đẩu dạ trầm trầm,
Sạ đính thanh thanh tứ bất câm.
Cách trúc cao đê xao bính chẩm,
Hoà sương đoạn tục tả thương âm.
Sầu xâm giác thú tam canh nguyệt,
Hoán khởi hương khuê vạn lý tâm.
Tiêu thiết hoành thu nam tử tháo,
Đinh ninh mạc sử nhập nhân thâm.

Nguyễn Khuyến

Tiếng dế đêm thu

Một trời Tinh Đẩu thẳm đêm trường
Vẳng tiếng râm ran dạ khó ngưng
Cách trúc nhỏ to lay gối muộn
Hòa sương đứt nối rót âm thương
Canh ba đồn ải buồn tiếng ốc
Dặm vạn phòng khuê khổ bóng hường
Hoành giáo suốt thu noi tiết tháo
Đinh ninh chẳng để ngấm sâu lòng

Leopard dịch


=============================================
Bản dịch nghĩa:

Một trời sao Tinh sao Đẩu, đêm sâu thăm thẳm
Bỗng đến tiếng râm ran, lòng dạ khó im
Cách trúc tiếng to nhỏ gõ lay gối muộn
Hòa sương tiếng đứt nối tuôn chảy âm thanh của mùa thu
Sầu lan vào tiếng ốc nơi đồn thú, trăng lúc canh ba
Tiếng khơi âm hưởng chốn phòng khuê, tâm tình xa vạn dặm
Mùa thu hoành cây giáo sắt, cái tiết tháo của nam nhi (*)
Đinh ninh không để (tiếng dế) thấm sâu vào người


* Thương âm 滄音: "thương" chỉ tên âm giai trong ngũ âm nhạc cổ, cũng hiểu là thuộc về mùa thu.

* "Bính chẩm 丙枕: "bính" chỉ thời khắc lúc nửa đêm, giống như "bính dạ" 丙夜 là lúc nửa đêm hay canh ba. "Bính" cũng có nghĩa là thuộc về lửa...

* Kiến giải của TĐVH về câu "Tiêu thiết hoành thu nam tử tháo":
(trích đoạn)

"Gửi chú Leopard đẹp giai...

...

Khi mới đọc bài "Thu dạ cùng thanh" của cụ Nguyễn Khuyến, anh cũng thấy có nhiều chỗ lờ mờ, chưa hiểu rõ lắm, cảm giác giống hệt chú. Sau khi tìm hiểu nghĩa lý từng chữ, từng câu của bài thơ này, anh xin đưa ra một vài suy nghĩ của riêng mình, có thể gọi là thiển ý như sau:

1. Đúng như chú đã phân vân về chữ tiêu 銷 (tiêu tan, mất mát) mà Vanachi đã chép sai, chữ đúng phải là 鏢 , nghĩa là cái vỏ đao có bịt đồng, nhưng "tiêu thiết" thì vẫn khó hiểu. Không lẽ là sắt làm bằng vỏ đao có bịt đồng? May mà học giả Nguyễn Văn Huyền đã chú rằng "tiêu thiết" là đảo ngữ của "thiết tiêu" cho hợp luật bằng trắc. Ông còn chua thêm: Tiêu là một loại vũ khí giống như giáo, lao (trong các từ điển cổ Hán văn mà anh có, "Tiêu" chỉ có nghĩa là vỏ đao có bịt đồng). Dù sao cũng không quá quan trọng là đao sắt hay giáo sắt. Chúng ta hiểu "Tiêu thiết" ám chỉ một loại vũ khí làm bằng sắt. Người xưa cũng có cái khó là đôi khi dùng chữ cũng chỉ cốt lấy cái ý cho hợp bằng trắc, số chữ cân đối, chưa kể là phải đảo ngữ như Nguyễn Văn Huyền đã giải thích. Chẳng hạn "bôi tửu" trong bài "Đề Lưu Quan Trương đào viên kết nghĩa xứ" của Nguyễn Đề, nếu hiểu là danh từ thì hơi có vấn đề, ở đây cũng là đảo ngữ cho hợp vận mà thôi hoặc có thể hiểu "bôi" làm động từ là "nâng chén".

2. Chữ hoành 橫 làm động từ nghĩa là “cầm ngang” như "hoành đao" 橫刀 là cầm ngang dao. Tháo 操 là chí (tiết tháo). "Nam tử tháo" là cái chí khí của kẻ nam nhi. Cả câu là một cụm danh từ (Noun phrase). Dịch nghĩa bắt đầu từ "nam tử tháo" cho đến "thu" rồi đến "hoành" và cuối cùng là "tiêu thiết". Có thể hiểu là: Cái chí của kẻ nam nhi là phải, mùa thu cầm ngang ngọn giáo.

3. Bây giờ anh trình bày cách hiểu của mình về hai câu:

愁侵角戍三更月,
喚起鄉閨萬里心。
Sầu xâm giác thú tam canh nguyệt,
Hoán khởi hương khuê vạn lý tâm.

Để hiểu cho thấu đáo, anh nghĩ chúng ta phải hiểu bối cảnh của bài thơ. Anh thì hiểu rằng, bài thơ này miêu tả tâm trạng của người lính nơi đồn trại xa nhà. Vì vậy anh lý giải thế này:

a) 戍三更月 là cụm danh từ, tức là “Trăng canh ba ở nơi biên thú đồn tại”. "Sầu xâm" là nỗi buồn xâm lấn, át đi. Giác 角 là tiếng “Tù và” báo “canh” nơi đồn trại. Vậy cả câu: 愁侵角戍三更月, anh hiểu là: Nỗi sầu át đi tiếng tù và (vào lúc) trăng canh ba nơi đồn trú.

b) 閨萬里心 là cụm danh từ, tức là “Nỗi lòng xa vạn dặm của người thiếu phụ chốn phòng khuê”, cũng tức là "Nỗi lòng của người thiếu phụ ngóng chồng nơi vạn dặm". Chữ hương 鄉, anh nghĩ phải đọc là hưởng (tất nhiên trong bài đọc là hương cho hợp vận) tức là "âm hưởng dội lại". Cụm "Hoán khởi" thì rất rõ ràng là "khơi dậy, khơi gợi". Tóm lại theo anh: "Hoán khởi hương khuê vạn lý tâm" phải hiểu là "Khơi gợi tiếng (âm hưởng của nỗi) lòng nơi vạn dặm của người khuê phụ". Người chồng trong cảnh cô đơn, buồn bã nơi biên thú đã hình dung vợ mình nơi xa ngàn dặm cũng đang ngóng mình, sầu nhớ đến mình và hình dung ra rằng tiếng lòng người vợ đang vọng đến nơi biên thú mà mình đi lính. Ở đây, người chồng nhớ vợ nhưng cũng chính là nói về nỗi nhớ của người vợ (chinh phụ) có chồng (chinh phu) đi lính. Nói đến đây, anh lại nhớ đến bài Khuê oán của Vương Xương Linh, Nạn hữu xuy địch của Bác Hồ. Thật là ý vị thiết tha. Lời giản mà ý sâu. Khó lòng mà tả xiết!

c) Đây là một bài thơ hay, giàu phong vị cổ điển. Cụ Nguyễn Khuyến tài thật!

..."
Đọc tiếp →