* books.google.com.vn
------------------------
denmark!!!
. Đọc tiếp →
Life is an open book.
Briefly on quantum mechanics and dialectics
Remarks on quantum mechanics
by Phil, Seattle (from Communist Voice #21, August 15, 1999)
Joseph yêu dấu,
Bạn đề nghị tôi nói chiện với bạn về điều tôi nghĩ về Cơ Lượng Tử (QM) và bản phân tích "non-standard' của bạn. Trong bài báo gần đây của bạn trong CV (1), bạn bình luận về những cố gắng của những nhà vật lý đầu thế kỷ 20 để tạo ra một triết học dựa trên lý thuyết lượng tử, và cách họ đã thường xuyên viện đến chủ nghĩa duy tâm để làm điều này. Một thời gian lâu trước đây, tôi đã đọc một cuốn sách của Werner Heisenberg (về nguyên lý Bất định danh tiếng) có tên là "Triết học và Vật lý", trong đó ông ta đã có sải những bước rất xa để bác bỏ chủ nghĩa duy vật đơn giản và giải thích cách thông dịch về QM của trường phái Copenhagen là cách thông dịch duy nhất có thể. Ti nhiên, tôi ko tin ông ta đã bác bỏ tất cả định dạng của chủ nghĩa duy vật, bởi vì ông ta ko có khái niệm về biện chứng và thứ duy nhất được gọi là "biện chứng duy vật" mà ông ta đã đối phó với hai nhà khoa học Xô-Viết, Blochinzev và Alexandrov, những người trích dẫn Lenin và cố gắng tái công thức hoá QM theo một cách không ảnh hýởng đến khái biệm về chủ nghĩa duy vật của họ. Nhý thế, họ phải trục xuất người quan sát khỏi bất kỳ vai trò nào trong thí nghiệm - một khái niệm tôi nghĩ là là trệch khỏi tiêu điểm của QM và dẫn đến một khái niệm sai trái về chủ nghĩa duy vật khá nhiều.
Sự quan sát chỉ một hành vi phàm tục, không phải của tâm trí. Trong thế giới vật lý vĩ mô, phát ngôn này dường như có ít tác động thực tiễn, nhưng trong thế giới vật lý vi mô tác động của nó là sâu xa. Khi tôi tham gia vào một phép đo vật lý, tôi đang sử dụng phương tiện vật chất để nhận thức những thực kiện vật chất, và phản ứng của thiết bị vật chất mà tôi dùng để đo với đối tượng trong phép đo của tôi là bản chất của phép đo. Thông thường (trong thế giới vật lý vĩ mô) những yếu tố của phản ứng này hiện diện trong hệ thống đýợc quan sát, bất kể sự có mặt hay vắng mặt của người quan sát, và sự đưa người quan sát vào hệ thống tạo thành một nhiễu loạn vi phân mà kết quả của nó đýợc bao hàm trong khung sai số của quan sát. Thế giới vật lý vi mô không có điều này. Sự có mặt của ngýời quan sát tại đó là sự thay đổi chính của hệ thống trong quan sát, bởi vì anh ta phải đưa vào những yếu tố mà không ở đó trong điều kiện bình thường, và chúng được bao hàm cho mục đích rõ ràng của sự thực hiện quan sát. Hơn thế, những thuật ngữ dùng để mô tả tương tác cần được bổ nghĩa - trong thế giới vật lý vĩ mô sự khác biệt giữa "hạt" và "sóng" là rõ ràng và riêng biệt, trong khi với thế giới vật lý vi mô hai thuật ngữ này lỏng lẻo về tính chất riêng của chúng. Một hạt là một khối lượng-điểm, bán kính và các kích thước vật lý của nó không đồng cỡ với khung hoạt động của chúng - nó hoàn toàn đàn hồi và hầu như giới hạn về phạm vi. Một sóng, mặt khác, có tính chất khuyếch tán, với những đường biên bất định và các kích cỡ vật lý mà có lẽ tương tác với môi trường quanh nó. Trong thế giới vật lý vi mô, hai thứ đối lập này hình thành một thể thống nhất - chúng bổ sung cho nhau hơn là xung đột. Do đó, chúng cũng có cùng những khái niệm như ngẫu nhiên và chắc chắn (chance & certainty), hỗn loạn và nhân quả, kế tiếp và đồng thời, không và thời gian.
Điều này có làm hại tới tính khách quan của khoa học không? Không nó hoản toàn bắt chúng ta tái công thức hoá tính khách quan mà tự nhiên hay thế giới vật chất đã mang đến cho chúng ta, hơn là áp đặt cho nó những điều trong đầu chúng ta. "Paradigm shift" (được diễn tả bởi Kuhn) có lẽ chỉ dẫn tính tương đối của thuật ngữ khoa học hoặc chỉ dẫn tính bất tương xứng của thuật ngữ khoa học và nhu cầu phát triển một tập hợp các thuật ngữ tốt hơn, chính xác hõn căn cứ vào tính hiện thực của thế giới hơn là khái niệm của chúng ta về nó.
Tôi đánh giá cao sự thảo luận về những ý tưởng nói trên.
. Revolutionary regards,
. Phil, Seattle.
------------------------------------
Response by Joseph Green, June 12, 1999
Phil,
Cảm ơn những lời nhận xét về QM. Bạn đóng đinh vào đầu mình với ghi chú "Sự quan sát chỉ một hành vi phàm tục, không phải của tâm trí" và "và phản ứng của thiết bị vật chất mà tôi dùng để đo với đối tượng trong phép đo của tôi là bản chất của phép đo". Sự thông dịch của những người duy tâm là ý thức của người quan sát đã làm thay đổi tình huống vật lý và tạo ra "sự co của hàm sóng", nhưng thực sự nó là một tương tác vật lý giữa hai thực thể vật chất và chúng đã làm cái điều đấy. Chúng ta có lẽ sử dụng một trong những thực thể đấy (như dòng photon/tia sáng) để tạo ra một quan sát lên chùm electron, nhưng nó không liên hệ với tương tác vật lý dù chúng ta làm photon xuất hiện (dù thứ nào khác làm), dù chúng ta đang dùng photon để tiến hành phép đo, hoặc dù chúng ta ý thức về những kết quả của quan sát. Tất cả vật chất là photon ở đấy, và đang tương tác với chùm electron.
Vấn đề về ý thức của chúng ta có chăng dẫn tới sự co của hàm sóng hay một tương tác vật chất, như bạn chỉ ra, là vấn đề của duy tâm với duy vật. (Nó có thể thành sự ngu dốt siêu nghiệm trong luận chiến giữa các nhà vật lý, xem nó nhý một vấn đề của "thuyết bất khả tri" [tham chiếu tới một thành phần thứ ba đề cập tiếp theo - JG]). Nếu như có nghi ngờ về các tương tác vật lý hay ý thức có hay không dẫn tới sự co của hàm sóng, nó dường nhý có thể được giải quyết bằng thực nghiệm. (Thí nghiệm hai khe nổi tiếng có thể được thực hiện theo cách nhý thế - Nó có thể đã xảy ra? - hãy xem những tương tác của photon và chùm electron có hay không thay đổi cách electron hoạt động, hay sự quan sát của chúng ta có hay không dẫn tới týõng tác của photon và chùm electron).
Một khía cạnh thú vị khác của vấn đề này, đó là có một số cuộc luận chiến giữa các nhà vật lý rằng các prôton có thể chăng được "quan sát" bằng các neutron trong hạt nhân (đây rõ ràng là một "quan sát"độc lập với ý thức con người). Vấn đề là tại sao những proton bên trong hạt nhân nguyên tử là bền - tại sao chúng không phân rã? Các nhà vật lý nào đó đã đưa ra lý do là chúng bị xô đẩy liên tục bởi các neutron, theo cách đó các neutron quan sát xem chúng có tồn tại hay không. Kết quả là sự co tức khắc của hàm sóng. Sự co bất biến này của hàm sóng không cho hàm sóng của proton có đủ thời gian để tiến đến điểm mà nó có thể phân rã. Sự thông dịch này không được toàn thể tán thành, và bị từ chối bởi các nhà vật lý khác. Nhưng nó chỉ ra ý tưởng về những quan sát được xem xét rõ ràng như một tương tác vật chất, độc lập với ý thức, cuối cùng có lẽ khiến nó có ảnh hưởng trong vật lý. (Xem David Wick, The Infamous Boundary, pp. 168-170. tác giả không có khái niệm về biện chứng, nhưng anh ta đã thực sự tranh luận một số thứ có ích.)
Tôi khá thích tranh luận của bạn về nỗ lực tái công thức hoá QM của Blochinzev và Alexandrov, tại điểm bạn chỉ ra họ đã không hiểu đúng đắn về chủ nghĩa duy vật. Điều này dường nhý là một trong những ví dụ sớm về những nỗ lực liên tiếp tái công thức hoá QM trái với niềm tin là cần bảo toàn QM. (Vấn đề này, dĩ nhiên, không hẳn là có sự cấm đoán những cố gắng tái thông dịch QM, mà là các nhà vật lý tin rằng nó bị đòi hỏi bởi chủ nghĩa duy vật.) Theo cách đó, khi bạn nói rằng "Họ phải loại bỏ ngýời quan sát khỏi bất kỳ vai trò nào trong thí nghiệm", điều này có phải có ý là họ bị bối rối bởi hiên tượng "sự co của hàm sóng", có phải không thể xem xét bất kỳ sự lựa chọn nào về cách thông dịch của những nhà duy tâm, và do đó tin tưởng rằng họ phải tái công thức hoá QM để tránh việc trước đấy?
Như tôi hiểu, cách tiếp cận của bạn với sự thông dịch Copenhagen và sự co của hàm sóng là giống như tôi. Bạn chia cách vấn đề duy tâm hay duy vật (Dù có chăng ý thức của chúng ta dẫn tới sự co của hàm sóng hay một tương tác vật chất dẫn tới) khỏi vấn đề những mối liên hệ biện chứng liên đới.
Bạn cũng còn nói rằng tính lưỡng nguyên sóng hạt (wave-particle duality) trong giới vật lý vi mô là một ví dụ về thể thống nhất của các mặt đối lập, đó là biện chứng. Và bạn liên kết điều đó với những thứ khác như các mối liên hệ biện chứng. Tóm lược là thế.
Một điểm thứ yếu. Bạn nói rằng những mặt đối lập "bổ sung cho nhau hơn là xung đột". Tôi đồng ý với nội dung mà tôi nghĩ bạn đã nói tại đây, nhưng bạn đụng chạm đến một vấn đề thuật ngữ mà tương tự với điều tôi đụng đến trong bài báo của mình như "sự vô lý" của những mâu thuẫn. Khi nhấn mạnh tính lưỡng nguyên, điều các nhà duy vật cơ học thấy khó khăn để hiểu, sự tranh đấu của những mặt đối lập không thể bị từ chối. Những mặt đối lập bổ sung là cũng "xung đột", nhưng không theo cách cách nhà duy vật cơ học giả định. Với những nhà duy vật cơ học, sóng và hạt "xung đột" có nghĩa là chúng không thể hình thành một tính lưỡng nguyên bổ sung, và một thực thể phải xác định là thứ này hay thứ khác; nhưng với một nhà biện chứng các bản chất của sóng và hạt có thể "xung đột", nhưng cũng là những mặt bổ sung của một thực thể - thực ra, điều này có lẽ là thứ một người mong muốn về những phương diện bổ sung. Sự thống nhất của các mặt đối lập có thể và thực sự bao hàm sự tranh đấu giữa của các mặt đối lập. Tôi cố gắng giải quyết một vấn đề thuật ngữ tương tự trong bài báo của tôi bằng sự phân biệt giữa những trái ngược vô lý và biện chứng (see p. 46, col. 1 [CV. Vol. 5, #1]). Những nhà duy vật toán học chỉ thấy những mâu thuẫn vô lý, và không thấy những mặt đối lập ảnh hưởng lẫn nhâu và nằm trong thể thống nhất. Những điểm khác biệt của tôi giữa mâu thuẫn "vô lý" và biện chứng có những vấn đề thuật ngữ riêng của nó. Một trong những vấn đề đấy tôi cố gắng giải quyết ở phần phụ chú, nơi tôi chỉ ra vấn đề không nhiều là một mâu thuẫn riêng lẻ là vô lý trong chính nó, nhưng dưới những điều kiện nhất định, nó là vô lý, và dưới những điều kiện khác, nó không là vô lý. Nhưng xa hơn điều đó, bằng sự suy ngẫm, tôi không chắc chắn rằng tài liệu biện chứng tham chiếu tới vấn đề của cùng thuật ngữ tôi đã sử dụng. Có lẽ đôi khi miêu tả sự thống nhất của các mặt đối lập như những mâu thuẫn vô lý, như sự thống nhất của những thứ mà vô lý khi xem xét tới một sự kết hợp, nhưng chúng thực sự được kết hợp. Và có lẽ đó là điểm chính. Sự thật, sau nhiều năm và thập kỷ làm việc với những mâu thuẫn nhất định (như tính lưỡng nguyên sóng hạt), thật khó để nghĩ nó là "vô lý". Nhưng điều gì đó là vô lý với cả sóng và hạt. Do đó, có lẽ, sau khi suy nghĩ về vấn đề này và nghiên cứu lại tài liệu về biện chứng nhiều hơn, tôi sẽ phải từ bỏ thuật ngữ "những mâu thuẫn vô lý" và đi đến một công thức giống như là những mâu thuẫn "vô bổ" ngược lại với những mâu thuẫn biện chứng - Với những nhà duy vật cơ học tư duy về tất cả những mâu thuẫn là vô bổ và "rời rạc".
So much for now,
. Regards,
. Joseph
Notes:
(1) This refers to Joseph Green's article "On Sokal and Bricmont's book Fashionable Nonsense/Postmodernism versus materialism" in Communist Voice, vol. 5, #1, March 28, 1999, and in particular to the sections entitled "The dialectics of nature" and "Dialectics, motion, and infinitesimals".--CV.
http://home.flash.net/~comvoice/21cQuantum.html
(tobecont.)
------------------------
Biên tập lại sau. Dịch xong chả hiểu mình dịch cái giề?! hẹ hẹ
Đọc tiếp →
Rất nhiều học giả, an toàn trong toà tháp ngà của mình và được cách ly khỏi những hệ quả ngoài đời thực mà tới từ ý tưởng họ tán thành, dường như mù loà trước một thực tế rằng sự phi lý (non-rationality) từ rất lâu đã là một trong những vũ khí mạnh mẽ nhất trong những pháo đài ý thức hệ (ideological arsenals) của những kẻ đàn áp. Tính siêu chủ quan (hypersubjectivity) ở những nhà hậu hiện đại là một ca rõ ràng (perfect case) tại điểm sau: không những là một sự kế thừa từ công cuộc bài trừ thánh tượng của phe tả (leftist iconoclasm), như một số chủ trương tuyên bố rất không chân thật, nó thực sự... đóng vai những nhà chống duy lý một cách hoàn hảo. - chống tư tưởng thực sự - một thiên kiến hiện đang tiêm nhiễm tới xu thế chủ đạo của văn hoá Mẽo (infects "mainstream" U.S. culture).
Sự thế chỗ ý tưởng về chất liệu bằng chứng và thực kiện (facts and evidence matter) bởi ý tưởng mọi thứ cô cạn (boils down) thành những cách hiểu và sở thích chủ quan - chỉ lần thứ hai tới trong những cuộc vận động chính trị Mẽo - là sự thị uy nguy hại và nổi bật nhất của chủ nghĩa phản trí thức trong thời đại của chúng ta.(Ngày nay, trở thành phản trí thức hay vận động chính trị ở Mẽo thực ra đều khá kỳ công.)
...
Câu thứ năm y như lời mở đầu truyện Kiều, nhưng không thấy để trong ngoặc kép hay chú thích rõ ràng như thường tình, làm sao mà Bùi-Giáng chẳng biết nhưng có thể ông cho đó là chuyện nhỏ ai mà chẳng biết, mới lại chẳng lẽ ông “yếu” đến nỗi phải “đạo văn” một câu như thế sao! nên chẳng đáng lưu tâm, nên đã không nói gì cả.
Bài thơ này thiếu nhan đề, không ngắt câu xuống hàng, viết như một đoạn văn xuôi ở giữa hai đoạn văn xuôi khác, nơi một bài luận về “Sở Dĩ Nhiên” thấy trong cuốn tạp bút Ngày Tháng Ngao Du do nhà An-Tiêm xuất bản tại Sài-Gòn năm 1971, có thể đây thực sự chỉ là đoạn văn xuôi nhưng tình cờ nó đã vần điệu với nhau làm thành bài thơ, thật đúng như người đời ca tụng, ông không làm thơ, chẳng nghĩ thơ… thơ đến tự nhiên tuôn ra như nước chẩy.
source link
Chu Hy viết: "Cùng lý là muốn biết cái sở dĩ nhiên (1) của sự vật với cái sở đương nhiên (2) của sự vật mà thôi. Biết cái sở dĩ nhiên cho nên cái chí không hoặc (*), biết cái sở đương nhiên cho nên việc làm không lầm." Trích từ Trần Trọng Kim, sđd., Hạ tập, tr. 165
source link
(*): In the 1970s one of his colleagues Vladimir Ritus, asked him why he had taken the steps he did thereby putting himself in such grave danger. Sakharov's reply was, "If not me, who?"Sự thay đổi của Andrei Sakharov Người chế tạo bom hydro của Liên Xô trở thành một nhà hoạt động vì hòa bình và nhân quyền. Điều gì đã khiến ông thay đổi như vậy?
...
Khi một đồng nghiệp của hỏi ông tại sao ông lại làm những việc như vậy, Sakharov đã trả lời: "Nếu không phải tôi thì ai đây?" (*)
http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=90&News=2060&CategoryID=24
Andrey Dmitrievich Sakharov chào đời ngày 21/5/1921 tại thành phố Moscow, nước Nga. Ông Sakharov là một nhà vật lý hạch tâm, một nhân vật can đảm tranh đấu cho nhân quyền, đòi hỏi các tự do dân sự (civil liberties) cũng như các cải tiến tại Liên Xô. Vào tháng 12 năm 1975, ông Andrey D. Sakharov được trao tặng Giải Thưởng Nobel Hòa Bình (the Nobel Prize for Peace) vì các công trình hoạt động của ông trong nhiều năm trường.
...
Năm 1947, ông Andrey D. Sakharov bảo vệ luận án Tiến Sĩ về Vật Lý Hạch Tâm (nuclear physics) rồi qua năm sau, 1948, được mời tham gia vào nhóm các nhà nghiên cứu khoa học mà nhiệm vụ của họ là làm phát triển các võ khí nguyên tử, với nhà bác học đứng đầu nhóm là ông Igor E. Tamm. Từ đầu năm 1950, nhà bác học Igor E. Tamm cùng với Tiến Sĩ Andrey D. Sakharov và nhóm chuyên gia, đã nghiên cứu và thử nghiệm các phản ứng nhiệt hạch tâm có kiểm soát (controlled thermonuclear reaction), rồi sau đó chế tạo các máy phát từ khổng lồ (magnetic generators), nhờ đó đã đạt được một kỷ lục về từ trường mạnh tới 25 triệu gauss.
Trong vòng 20 năm, ông Sakharov đã làm việc trong các điều kiện an ninh tuyệt đối, dưới các căng thẳng lớn, đầu tiên tại khu vực thành phố Moscow rồi về sau tại một trung tâm nghiên cứu bí mật. Các công trình nghiên cứu xuất sắc của ông Sakharov về khí động học của chất khí (gas dynamics), sự hạn chế từ tính của các hạt chứa điện tích (magnetic confinement of charged particles) cũng như các vấn đề chính yếu trong công trình chế tạo bom khinh khí (hydrogen bomb), lần đầu tiên được thử vào tháng 8 năm 1953. Do những đóng góp lớn lao này, ông Sakharov được bầu làm Viện Sĩ của Hàn Lâm Viện Khoa Học Liên Xô năm 32 tuổi, cũng như được trao tặng nhiều danh dự và thụ hưởng các đặc quyền, đặc lợi khác.
Vào thời gian đầu của thập niên 1950, ông Sakharov cũng như nhiều nhà bác học Liên Xô khác, đã say sưa với tầm quan trọng của công trình võ khí nguyên tử, tin tưởng rằng nhờ chương trình này mà có sự cân bằng thế lực trên thế giới, giữa hai khối tư bản và cộng sản, nhưng qua giữa thập niên, ông bắt đầu suy nghĩ tới các nguy hiểm do các vụ nổ nguyên tử gây ra, lo lắng về các phóng xạ từ trái bom khinh khí 100-megaton nổ trong không trung, rơi xuống nhiều miền đất rộng lớn, gây ra tai họa cho nhân loại và môi trường thiên nhiên. Tại một buổi họp trong Điện Kremlin vào năm 1961, ông Sakharov đã chuyển tới vị Tổng Bí Thư Nikita Khrushchev một bản viết chỉ trích việc tiếp tục các thí nghiệm võ khí hạch tâm. Ông Sakharov đã vận động thành công việc chống đối và vạch trần các chủ thuyết giả mạo (spurious doctrines) của nhà sinh học đầy thế lực T.D. Lysenko. Ông đã quan tâm tới các vấn đề sinh học (biological) cũng như đạo đức (moral) do bởi các thử nghiệm hạch tâm kể trên, rồi kể từ năm 1967, ông đã báo động cho nhiều người khác biết rõ các tai họa sẽ xẩy ra.
Trong bài luận văn viết vào năm 1968 với nhan đề là "Suy Nghĩ về Tiến Bộ, Cùng Sống trong Hòa Bình và Tự Do Trí Tuệ" (Reflections on Progress, Peaceful Coexistence, and Intellectual Freedom), ông Sakharov đã biện hộ việc giảm bớt căng thẳng (détente) giữa hai khối đối nghịch Đông và Tây và kêu gọi cách hội tụ của hai hệ
thống tư bản và xã hội chủ nghĩa.
...
http://vietsciences.free.fr/biographie/physicists/sakharov.htm
...
1968, July. “Reflections on Progress, Peaceful Coexistence, and Intellectual Freedom” is published in the West.
1972, October. Sakharov’s first interview to a Western correspondent.1973, August 21. Sakharov’s first press conference.
1973, August 23. In an interview with Western journalists, Sakharov says, “How can we speak of trust, if one of the sides is like a giant concentration camp?”
1975, October 9. The Nobel Peace Prize award to Sakharov is announced.
...
http://people.bu.edu/gorelik/AIP_Sakharov_Photo_Chrono/AIP_Sakharov_Photo_Chronology.html
Hôm nay đọc The New Yorker thấy bài thơ A dream của Jorge Luis Borges, qua bản dịch của Suzanne Jill Levine. Tôi thấy thích bài thơ này và thử dịch ra tiếng Việt. Công nhận, The New Yorker đưa bài thơ này rất hợp thời. Không rõ Borges sáng tác bài thơ này vào năm nào. Thẩm mỹ về chuỗi vô tận, A trong A trong A ... rất hợp với tư duy phương Đông, không có khởi đầu và không có kết thúc, và con người chỉ còn có thể bất lực mà thôi. Nhưng thực ra các chuỗi vô tận không hẳn đã là vô tận. Chúng có một giới hạn, giống như nghịch lý Achilles đuổi rùa của Hy Lạp cổ đại. Cái giới hạn đấy là lúc con người có thể đọc được những gì mà những người tù đã viết ra.
Một giấc mơ
Jorge Luis Borges
Ở một nơi hoang vắng ở Iran có một tháp đá không cao lắm, không có cửa cũng như cửa sổ. Trong căn phòng duy nhất (với nền đất và có dạng hình tròn) có một chiếc bàn gỗ và một chiếc ghế băng. Trong ngục tròn đó có một người nom giống như tôi đang viết chữ mà tôi không thể hiểu, một bài thơ dài về một người trong một ngục tròn khác đang viết một bài thơ về một người trong một ngục tròn khác... Diễn tiến này chẳng bao giờ kết thúc và chẳng một ai có khả năng được đọc những gì mà những người tù đã viết ra.
Source: http://donga01.blogspot.com/2009/07/mot-giac-mo.html
Farewell letter (below, maybe you should read it first) has a very strong and inspiring message.This video (they say the message was a hoax which travelled the world as belonging to Gabo) is dedicated to the people in my life that I love, my husband, my son and my friends, and to those that I love and only live in my heart now.
A youtube friend told me that it was written by Johnny Welch
http://webalia.com/EP/pensar/reconoci...
...
3 a: the act or process of arguing : argumentation b: a coherent series of statements leading from a premise to a conclusion
Etymology: Middle English, from Anglo-French arguer to reprove, argue & Latin arguere to demonstrate, prove; Anglo-French arguer, from Latin argutare to prate, frequentative of arguere; akin to Hittite arkuwai- to plead, respond
synonyms discuss, argue, debate mean to discourse about in order to reach conclusions or to convince.discuss implies a sifting of possibilities especially by presenting considerations pro and con <discussed the need for a new highway>.
argue implies the offering of reasons or evidence in support of convictions already
held <argued that the project would be too costly>.debate suggests formal or public argument between opposing parties <debated the merits of the amendment>; it may also apply to deliberation with oneself debating whether I should go>.
...
1: the act or process of inferring: as a: the act of passing from one proposition, statement, or judgment considered as true to another whose truth is believed to follow from that of the former b: the act of passing from statistical sample data to generalizations (as of the value of population parameters) usually with calculated degrees of certainty.
Etymology: Middle French or Latin; Middle French inferer, from Latin inferre, literally, to carry or bring into, from in- + ferre to carry — more at bear
transitive verb 1: to derive as a conclusion from facts or premises— compare imply
synonyms infer, deduce, conclude, judge, gather mean to arrive at a mental conclusion.infer implies arriving at a conclusion by reasoning from evidence; if the evidence is slight, the term comes close to surmise
. deduce often adds to infer the special implication of drawing a particular inference from a generalization
. conclude implies arriving at a necessary inference at the end of a chain of reasoning
. judge stresses a weighing of the evidence on which a conclusion is based
. gather suggests an intuitive forming of a conclusion from implications
.
...
4 a: the process of forming an opinion or evaluation by discerning and comparing
Etymology: Middle English juggen, from Anglo-French juger, from Latin judicare, from judic-, judex judge, from jus right, law + dicere to decide, say — more at just, diction
1: to form an opinion about through careful weighing of evidence and testing of premises