Chủ Nhật, 4 tháng 10, 2009

Briefly on quantum mechanics and dialectics

Briefly on quantum mechanics and dialectics
Remarks on quantum mechanics



by Phil, Seattle (from Communist Voice #21, August 15, 1999)

Joseph yêu dấu,


Bạn đề nghị tôi nói chiện với bạn về điều tôi nghĩ về Cơ Lượng Tử (QM) và bản phân tích "non-standard' của bạn. Trong bài báo gần đây của bạn trong CV (1), bạn bình luận về những cố gắng của những nhà vật lý đầu thế kỷ 20 để tạo ra một triết học dựa trên lý thuyết lượng tử, và cách họ đã thường xuyên viện đến chủ nghĩa duy tâm để làm điều này. Một thời gian lâu trước đây, tôi đã đọc một cuốn sách của Werner Heisenberg (về nguyên lý Bất định danh tiếng) có tên là "Triết học và Vật lý", trong đó ông ta đã có sải những bước rất xa để bác bỏ chủ nghĩa duy vật đơn giản và giải thích cách thông dịch về QM của trường phái Copenhagen là cách thông dịch duy nhất có thể. Ti nhiên, tôi ko tin ông ta đã bác bỏ tất cả định dạng của chủ nghĩa duy vật, bởi vì ông ta ko có khái niệm về biện chứng và thứ duy nhất được gọi là "biện chứng duy vật" mà ông ta đã đối phó với hai nhà khoa học Xô-Viết, Blochinzev và Alexandrov, những người trích dẫn Lenin và cố gắng tái công thức hoá QM theo một cách không ảnh hýởng đến khái biệm về chủ nghĩa duy vật của họ. Nhý thế, họ phải trục xuất người quan sát khỏi bất kỳ vai trò nào trong thí nghiệm - một khái niệm tôi nghĩ là là trệch khỏi tiêu điểm của QM và dẫn đến một khái niệm sai trái về chủ nghĩa duy vật khá nhiều.

Sự quan sát chỉ một hành vi phàm tục, không phải của tâm trí. Trong thế giới vật lý vĩ mô, phát ngôn này dường như có ít tác động thực tiễn, nhưng trong thế giới vật lý vi mô tác động của nó là sâu xa. Khi tôi tham gia vào một phép đo vật lý, tôi đang sử dụng phương tiện vật chất để nhận thức những thực kiện vật chất, và phản ứng của thiết bị vật chất mà tôi dùng để đo với đối tượng trong phép đo của tôi là bản chất của phép đo. Thông thường (trong thế giới vật lý vĩ mô) những yếu tố của phản ứng này hiện diện trong hệ thống đýợc quan sát, bất kể sự có mặt hay vắng mặt của người quan sát, và sự đưa người quan sát vào hệ thống tạo thành một nhiễu loạn vi phân mà kết quả của nó đýợc bao hàm trong khung sai số của quan sát. Thế giới vật lý vi mô không có điều này. Sự có mặt của ngýời quan sát tại đó là sự thay đổi chính của hệ thống trong quan sát, bởi vì anh ta phải đưa vào những yếu tố mà không ở đó trong điều kiện bình thường, và chúng được bao hàm cho mục đích rõ ràng của sự thực hiện quan sát. Hơn thế, những thuật ngữ dùng để mô tả tương tác cần được bổ nghĩa - trong thế giới vật lý vĩ mô sự khác biệt giữa "hạt" và "sóng" là rõ ràng và riêng biệt, trong khi với thế giới vật lý vi mô hai thuật ngữ này lỏng lẻo về tính chất riêng của chúng. Một hạt là một khối lượng-điểm, bán kính và các kích thước vật lý của nó không đồng cỡ với khung hoạt động của chúng - nó hoàn toàn đàn hồi và hầu như giới hạn về phạm vi. Một sóng, mặt khác, có tính chất khuyếch tán, với những đường biên bất định và các kích cỡ vật lý mà có lẽ tương tác với môi trường quanh nó. Trong thế giới vật lý vi mô, hai thứ đối lập này hình thành một thể thống nhất - chúng bổ sung cho nhau hơn là xung đột. Do đó, chúng cũng có cùng những khái niệm như ngẫu nhiên và chắc chắn (chance & certainty), hỗn loạn và nhân quả, kế tiếp và đồng thời, không và thời gian.


Điều này có làm hại tới tính khách quan của khoa học không? Không nó hoản toàn bắt chúng ta tái công thức hoá tính khách quan mà tự nhiên hay thế giới vật chất đã mang đến cho chúng ta, hơn là áp đặt cho nó những điều trong đầu chúng ta. "Paradigm shift" (được diễn tả bởi Kuhn) có lẽ chỉ dẫn tính tương đối của thuật ngữ khoa học hoặc chỉ dẫn tính bất tương xứng của thuật ngữ khoa học và nhu cầu phát triển một tập hợp các thuật ngữ tốt hơn, chính xác hõn căn cứ vào tính hiện thực của thế giới hơn là khái niệm của chúng ta về nó.


Tôi đánh giá cao sự thảo luận về những ý tưởng nói trên.

. Revolutionary regards,

. Phil, Seattle.

------------------------------------

Response by Joseph Green, June 12, 1999

Phil,

Cảm ơn những lời nhận xét về QM. Bạn đóng đinh vào đầu mình với ghi chú "Sự quan sát chỉ một hành vi phàm tục, không phải của tâm trí" và "và phản ứng của thiết bị vật chất mà tôi dùng để đo với đối tượng trong phép đo của tôi là bản chất của phép đo". Sự thông dịch của những người duy tâm là ý thức của người quan sát đã làm thay đổi tình huống vật lý và tạo ra "sự co của hàm sóng", nhưng thực sự nó là một tương tác vật lý giữa hai thực thể vật chất và chúng đã làm cái điều đấy. Chúng ta có lẽ sử dụng một trong những thực thể đấy (như dòng photon/tia sáng) để tạo ra một quan sát lên chùm electron, nhưng nó không liên hệ với tương tác vật lý dù chúng ta làm photon xuất hiện (dù thứ nào khác làm), dù chúng ta đang dùng photon để tiến hành phép đo, hoặc dù chúng ta ý thức về những kết quả của quan sát. Tất cả vật chất là photon ở đấy, và đang tương tác với chùm electron.


Vấn đề về ý thức của chúng ta có chăng dẫn tới sự co của hàm sóng hay một tương tác vật chất, như bạn chỉ ra, là vấn đề của duy tâm với duy vật. (Nó có thể thành sự ngu dốt siêu nghiệm trong luận chiến giữa các nhà vật lý, xem nó nhý một vấn đề của "thuyết bất khả tri" [tham chiếu tới một thành phần thứ ba đề cập tiếp theo - JG]). Nếu như có nghi ngờ về các tương tác vật lý hay ý thức có hay không dẫn tới sự co của hàm sóng, nó dường nhý có thể được giải quyết bằng thực nghiệm. (Thí nghiệm hai khe nổi tiếng có thể được thực hiện theo cách nhý thế - Nó có thể đã xảy ra? - hãy xem những tương tác của photon và chùm electron có hay không thay đổi cách electron hoạt động, hay sự quan sát của chúng ta có hay không dẫn tới týõng tác của photon và chùm electron).

Một khía cạnh thú vị khác của vấn đề này, đó là có một số cuộc luận chiến giữa các nhà vật lý rằng các prôton có thể chăng được "quan sát" bằng các neutron trong hạt nhân (đây rõ ràng là một "quan sát"độc lập với ý thức con người). Vấn đề là tại sao những proton bên trong hạt nhân nguyên tử là bền - tại sao chúng không phân rã? Các nhà vật lý nào đó đã đưa ra lý do là chúng bị xô đẩy liên tục bởi các neutron, theo cách đó các neutron quan sát xem chúng có tồn tại hay không. Kết quả là sự co tức khắc của hàm sóng. Sự co bất biến này của hàm sóng không cho hàm sóng của proton có đủ thời gian để tiến đến điểm mà nó có thể phân rã. Sự thông dịch này không được toàn thể tán thành, và bị từ chối bởi các nhà vật lý khác. Nhưng nó chỉ ra ý tưởng về những quan sát được xem xét rõ ràng như một tương tác vật chất, độc lập với ý thức, cuối cùng có lẽ khiến nó có ảnh hưởng trong vật lý. (Xem David Wick, The Infamous Boundary, pp. 168-170. tác giả không có khái niệm về biện chứng, nhưng anh ta đã thực sự tranh luận một số thứ có ích.)

Tôi khá thích tranh luận của bạn về nỗ lực tái công thức hoá QM của Blochinzev và Alexandrov, tại điểm bạn chỉ ra họ đã không hiểu đúng đắn về chủ nghĩa duy vật. Điều này dường nhý là một trong những ví dụ sớm về những nỗ lực liên tiếp tái công thức hoá QM trái với niềm tin là cần bảo toàn QM. (Vấn đề này, dĩ nhiên, không hẳn là có sự cấm đoán những cố gắng tái thông dịch QM, mà là các nhà vật lý tin rằng nó bị đòi hỏi bởi chủ nghĩa duy vật.) Theo cách đó, khi bạn nói rằng "Họ phải loại bỏ ngýời quan sát khỏi bất kỳ vai trò nào trong thí nghiệm", điều này có phải có ý là họ bị bối rối bởi hiên tượng "sự co của hàm sóng", có phải không thể xem xét bất kỳ sự lựa chọn nào về cách thông dịch của những nhà duy tâm, và do đó tin tưởng rằng họ phải tái công thức hoá QM để tránh việc trước đấy?

Như tôi hiểu, cách tiếp cận của bạn với sự thông dịch Copenhagen và sự co của hàm sóng là giống như tôi. Bạn chia cách vấn đề duy tâm hay duy vật (Dù có chăng ý thức của chúng ta dẫn tới sự co của hàm sóng hay một tương tác vật chất dẫn tới) khỏi vấn đề những mối liên hệ biện chứng liên đới.

Bạn cũng còn nói rằng tính lưỡng nguyên sóng hạt (wave-particle duality) trong giới vật lý vi mô là một ví dụ về thể thống nhất của các mặt đối lập, đó là biện chứng. Và bạn liên kết điều đó với những thứ khác như các mối liên hệ biện chứng. Tóm lược là thế.

Một điểm thứ yếu. Bạn nói rằng những mặt đối lập "bổ sung cho nhau hơn là xung đột". Tôi đồng ý với nội dung mà tôi nghĩ bạn đã nói tại đây, nhưng bạn đụng chạm đến một vấn đề thuật ngữ mà tương tự với điều tôi đụng đến trong bài báo của mình như "sự vô lý" của những mâu thuẫn. Khi nhấn mạnh tính lưỡng nguyên, điều các nhà duy vật cơ học thấy khó khăn để hiểu, sự tranh đấu của những mặt đối lập không thể bị từ chối. Những mặt đối lập bổ sung là cũng "xung đột", nhưng không theo cách cách nhà duy vật cơ học giả định. Với những nhà duy vật cơ học, sóng và hạt "xung đột" có nghĩa là chúng không thể hình thành một tính lưỡng nguyên bổ sung, và một thực thể phải xác định là thứ này hay thứ khác; nhưng với một nhà biện chứng các bản chất của sóng và hạt có thể "xung đột", nhưng cũng là những mặt bổ sung của một thực thể - thực ra, điều này có lẽ là thứ một người mong muốn về những phương diện bổ sung. Sự thống nhất của các mặt đối lập có thể và thực sự bao hàm sự tranh đấu giữa của các mặt đối lập. Tôi cố gắng giải quyết một vấn đề thuật ngữ tương tự trong bài báo của tôi bằng sự phân biệt giữa những trái ngược vô lý và biện chứng (see p. 46, col. 1 [CV. Vol. 5, #1]). Những nhà duy vật toán học chỉ thấy những mâu thuẫn vô lý, và không thấy những mặt đối lập ảnh hưởng lẫn nhâu và nằm trong thể thống nhất. Những điểm khác biệt của tôi giữa mâu thuẫn "vô lý" và biện chứng có những vấn đề thuật ngữ riêng của nó. Một trong những vấn đề đấy tôi cố gắng giải quyết ở phần phụ chú, nơi tôi chỉ ra vấn đề không nhiều là một mâu thuẫn riêng lẻ là vô lý trong chính nó, nhưng dưới những điều kiện nhất định, nó là vô lý, và dưới những điều kiện khác, nó không là vô lý. Nhưng xa hơn điều đó, bằng sự suy ngẫm, tôi không chắc chắn rằng tài liệu biện chứng tham chiếu tới vấn đề của cùng thuật ngữ tôi đã sử dụng. Có lẽ đôi khi miêu tả sự thống nhất của các mặt đối lập như những mâu thuẫn vô lý, như sự thống nhất của những thứ mà vô lý khi xem xét tới một sự kết hợp, nhưng chúng thực sự được kết hợp. Và có lẽ đó là điểm chính. Sự thật, sau nhiều năm và thập kỷ làm việc với những mâu thuẫn nhất định (như tính lưỡng nguyên sóng hạt), thật khó để nghĩ nó là "vô lý". Nhưng điều gì đó là vô lý với cả sóng và hạt. Do đó, có lẽ, sau khi suy nghĩ về vấn đề này và nghiên cứu lại tài liệu về biện chứng nhiều hơn, tôi sẽ phải từ bỏ thuật ngữ "những mâu thuẫn vô lý" và đi đến một công thức giống như là những mâu thuẫn "vô bổ" ngược lại với những mâu thuẫn biện chứng - Với những nhà duy vật cơ học tư duy về tất cả những mâu thuẫn là vô bổ và "rời rạc".

So much for now,

. Regards,

. Joseph

Notes:
(1)
This refers to Joseph Green's article "On Sokal and Bricmont's book Fashionable Nonsense/Postmodernism versus materialism" in Communist Voice, vol. 5, #1, March 28, 1999, and in particular to the sections entitled "The dialectics of nature" and "Dialectics, motion, and infinitesimals".--CV.

http://home.flash.net/~comvoice/21cQuantum.html

(tobecont.)

------------------------

Biên tập lại sau. Dịch xong chả hiểu mình dịch cái giề?! hẹ hẹ

Đọc tiếp →

Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2009

What Is Critical Reading?

Cách đọc phê phán là thế nào?

Chú ý: Những ghi chú ở đây trước hết nhắm vào những văn bản không hư cấu (non-fictional texts).


Thực kiện và thông dịch (Facts v. Interpretation)

Với người đọc không phê phán, văn bản cung cấp những thực kiện. Người đọc thu được tri thức bằng cách ghi nhớ những phát ngôn trong văn bản.

Với người đọc phê phán, bất kỳ văn bản đơn lẻ nào cũng chỉ cung cấp sự mô tả về thực kiện, sự nắm bắt của một cá nhân về chủ đề (subject matter). Như thế, người đọc phê phán nhận ra không chỉ điều văn bản nói, mà còn cách văn bản mô tả chủ đề. Họ nhận ra những cách thức khác nhau mà vì thế mỗi một văn bản là sự thành tạo độc nhất của một tác giả độc nhất.

Một người đọc không phê phán có lẽ đọc một cuốn sách lịch sử để học những thực kiện của một tình huống, hoặc khám phá một sự thông dịch đã được công nhận về các sự kiện đó. Một người đọc phê phán thì có lẽ đọc cùng một thứ như thế mà để đánh giá bằng cách nào một cách phối cảnh/dàn dựng (perspective) riêng về những sự kiện, và một cách chọn lọc riêng những thực kiện có thể dẫn tới sự hiểu biết riêng biệt.


Điều một văn bản nói, làm và hàm ý: Hướng tới một sự thông dịch

Sự đọc không phê phán được thoả đáp bằng sự nhận ra điều một văn bản nói và nhắc lại những ghi chú chính.

Sự đọc phê phán đi hai bước xa hơn. Nhận ra điều văn bản nói, nó liên hệ tới điều văn bản làm bằng cách tạo ra những ghi chú như thế. Nó có đưa ra những ví dụ? Suy luận? Kêu gọi sự đồng thuận? Tạo ra sự tương phản để làm rõ một trọng điểm/tiêu điểm (point)? Sau cùng, người đọc phê phán khi suy diễn điều văn bản hàm ý như một chỉnh thể, dựa trên sự phân tích có trước.

Ba bước hay ba cách phân tích này được phản ánh trong ba kiểu đọc và thảo luận:
- Điều văn bản nói - Sự nhắc lại
- Điều văn bản làm - Sự mô tả
- Điều văn bản hàm ý - Sự thông dịch

Bạn có thể phân biệt mỗi cách phân tích theo chủ đề thảo luận:
- Điều văn bản nói - Sự nhắc lại - nói cùng một chủ đề với văn bản gốc
- Điều văn bản làm - Sự mô tả - thảo luận về những phương diện của chính cuộc thảo luận
- Điều văn bản hàm ý - Sự thông dịch - phân tích văn bản và khẳng định một ý nghĩa cho văn bản như là một chỉnh thể.


Những mục tiêu của sự đọc phê phán

Sách giáo khoa theo sự đọc phê phán yêu cầu sinh viên đạt đến những mục tiêu nhất định sau:
- nhận ra mục đich của tác giả
- nhận biết giọng điệu và những yếu tố có sức thuyết phục
- nhận ra thiên kiến

Lưu ý rằng không một mục tiêu nào ở trên thực sự tham chiếu tới những thứ trên trang viết. Chúng đòi hỏi những sự suy diễn từ bằng chứng trong văn bản:
- nhận ra mục đích bao hàm sự suy diễn một cơ sở của những chọn lựa về nội dung và ngôn ngữ/phương tiện diễn đạt (content & language)
- nhận ra giọng điệu và những yếu tố có sức thuyết phục bao hàm sự phân loại bản chất của những chọn lựa về ngôn ngữ
- nhận ra thiên kiến bao hàm sự phân loại bản chất những nguyên mẫu chọn lựa của nội dung và ngôn ngữ

Trang web này được thiết kế để mang sự bí ẩn ra khỏi sự đọc phê phán. Chúng được thiết kế đề chỉ ra cho bạn điều kiếm tìm (phân tích) và cách suy nghĩ về điều bạn tìm thấy (suy diễn).

Phần đầu - điều kiếm tìm - bao hàm sự nhận ra những phương diện của thảo luận mà nắm giữ ý nghĩa.
Phần hai - cách suy nghĩ về điều bạn tìm thấy - bao hàm những quá trình suy diễn, thông dịch dữ liệu từ trong văn bản.

Hãy nhớ ra sự đọc phê phán giả định rằng mỗi tác giả đưa ra một sự mô tả về chủ đề. Như thế, sự đọc phê phán dựa trên sự kiểm tra những lựa chọn mà mỗi một tác giả phải có khi tạo bộ khung trình bày/dàn bài: những lựa chọn về nội dung, ngôn ngữ và cấu trúc. Người đọc kiểm tra từng phạm vi lựa chọn, và xem xét tác động của chúng tới Ý nghĩa.


http://www.criticalreading.com/critical_reading.htm
----------

(tobecont.)
Đọc tiếp →

Thứ Ba, 29 tháng 9, 2009

Lập ngôn?

Sĩ vị khả dĩ ngôn nhi ngôn, thị dĩ ngôn thiểm chi. (MT)

Kẻ sĩ lúc chưa đáng nói mà nói, là dùng lời nói để thăm dò.

...

(cont.)
Đọc tiếp →

Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2009

Plea for Reason, Evidence and Logic



Dịch dật tí chơi.

----------------
Plea for Reason, Evidence and Logic
by Alan Sokal


Transcript of a talk presented at a forum at New York University on October 30, 1996. It was reprinted in New Politics 6(2), pp. 126-129 (Winter 1997).


Công chiện hôm nay đã mang đến một số chủ đề khó tin, và tôi ko thể mơ tới chiện diễn thuyết về mọi điều trong 10 phút, do đó hãy để tôi khai mào bằng cách giới hạn (circumscribing) bài nói của mình. Tôi không muốn lên gối (belabor) vào sự yếu kém của Social Text cả trước và sau khi công bố bản văn nhái (parody) của mình: SC ko phải kẻ thù, ko phải mục tiêu trí thức chính của tôi. Tôi sẽ không đi vào những chủ đề đạo đức liên hệ tới tính đúng đắn của hành vi xỏ xiên (hoaxing) (dù tôi sẽ vui lòng biện hộ cho đạo đức của mình khi nào được hỏi). Tôi sẽ ko diễn thuyết về văn vở của đám người theo thuyết ngu dân (obscurantist prose) và sự sùng bái danh tiếng không phê phán mà đã tiêm nhiễm vào các lĩnh vực luỵ thời nhất định của nhân tính học giới Mẽo... (infected certain trendy sectors of the American academic humanities) (dù đây là những vấn đề quan trọng mà tôi hi vọng người tham gia khác sẽ diễn thuyết). Tôi sẽ không bước vào những chủ đề chiên môn của triết học khoa học (philosophy of science) (dù lần nữa tôi sẽ vui lòng làm điều đó khi nào được hỏi). Tôi sẽ ko thảo luận về vai trò xã hội của khoa học và công nghệ (dù đây là những chủ đề quan trọng). Thực ra, tôi muốn nhấn mạnh rằng chiện hôm nay, theo quan điểm của tôi, không chính yếu về khoa học - dù nó là sự bào chữa (excuse) cho việc dựng nên bản văn nhái của tôi - cũng ko là một mâu thuẫn về lề lối (disciplinary conflict) giữa những nhà nhà khoa học và nhà chủ nghĩa nhân văn (humanist), những người thực sự đại diện cho các phía của cuộc luận chiến. Điều tôi tin tưởng là cuộc luận chiến này chủ yếu về - và điều tôi muốn tập trung tối nay - bản chất của sự thật, lý trí và tính khách quan: những chủ đề tôi tin là cốt yếu (crucial) với tương lai của hoạt động chính trị phe tả (left politics).

Tôi đã ko viết bài văn nhái vì lý do các bạn có lẽ nghĩ đến đầu tiên. Mục tiêu của tôi không phải bảo vệ khoa học khỏi những đám phê bình văn chương man rợ hay xã hội học. Tôi biết hoàn toàn rõ ràng rằng những mối đe doạ chính với khoa học ngày nay tới từ những quản trị viên tập đoàn và những nhà chính trị chủ trương cắt giảm ngân quỹ (budget-cutting politicians and corporate executives), chứ ko tới từ một nhúm các học giả hậu hiện đại. Hơn nữa, mục đích của tôi là phải bảo vệ thứ mà mọi người gọi là thế giới quan khoa học (scientific worldview) - được định nghĩa rộng ra như một phương diện về bằng chứng và logic, và về sự đối chiếu không ngừng của những lý thuyết với thế giới thực; ngắn gọn hơn, với suy luận duy lý đặt trên sự mị dân, mê tín và mộng tưởng. Và động cơ của tôi để cố gắng bảo vệ những ý tưởng lỗi thời này, về cơ bản, là có tính chính trị. Tôi lo lắng về những trào lưu trong phe người Mẽo cánh tả (trends in the American Left) - xét riêng trong giới học giả ở đây - mà một lượng tối thiểu làm chúng ta chệch hướng khỏi nhiệm vụ công thức hoá sự phê phán xã hội tiến bộ (formulating a progressive social critique), bằng cách dẫn dắt những người tận tâm và thông minh tới trào lưu mà sau cùng chỉ là những kiểu cách trí thức rỗng tuếch, và có thể thực sự ngầm phá hoại những triển vọng về sự phê phán nói trên, bằng sự đề xướng thứ triết học của những người theo thuyết tương đối và thuyết chủ quan mà theo quan điểm của tôi là ko nhất quán (inconsistent) để đưa ra một bản phân tích thực tế về xã hội mà chúng ta cùng với những bạn công dân của mình sẽ tìm thấy sự thuyết phục.

David Whiteis, trong một bài báo gần đây, đã nói rất rõ:




Rất nhiều học giả, an toàn trong toà tháp ngà của mình và được cách ly khỏi những hệ quả ngoài đời thực mà tới từ ý tưởng họ tán thành, dường như mù loà trước một thực tế rằng sự phi lý (non-rationality) từ rất lâu đã là một trong những vũ khí mạnh mẽ nhất trong những pháo đài ý thức hệ (ideological arsenals) của những kẻ đàn áp. Tính siêu chủ quan (hypersubjectivity) ở những nhà hậu hiện đại là một ca rõ ràng (perfect case) tại điểm sau: không những là một sự kế thừa từ công cuộc bài trừ thánh tượng của phe tả (leftist iconoclasm), như một số chủ trương tuyên bố rất không chân thật, nó thực sự... đóng vai những nhà chống duy lý một cách hoàn hảo. - chống tư tưởng thực sự - một thiên kiến hiện đang tiêm nhiễm tới xu thế chủ đạo của văn hoá Mẽo (infects "mainstream" U.S. culture).

Theo những dòng trên, triết gia khoa học Larry Laudan đã nhận xét một cách chua chát rằng:




Sự thế chỗ ý tưởng về chất liệu bằng chứng và thực kiện (facts and evidence matter) bởi ý tưởng mọi thứ cô cạn (boils down) thành những cách hiểu và sở thích chủ quan - chỉ lần thứ hai tới trong những cuộc vận động chính trị Mẽo - là sự thị uy nguy hại và nổi bật nhất của chủ nghĩa phản trí thức trong thời đại của chúng ta.
(Ngày nay, trở thành phản trí thức hay vận động chính trị ở Mẽo thực ra đều khá kỳ công.)

Bi giờ dĩ nhiên là, chả ai sẽ chấp nhận dựa vào logic, bằng chứng và lý trí - giống như dựa vào Motherhood và Apple Pie. Hơn thế, những ngườii bạn hậu cấu trúc và hậu hiện đại của chúng ta sẽ tuyên bố ủng hộ thứ lý trí nào đó mới lạ và sâu sắc hơn, ví dụ như sự tán dương những "tri thức địa phương" (local knowledges) và những "cách hiểu biết tuỳ chọn" (alternative ways of knowing) như một liều thuốc giải, cái được kêu là "Phương pháp luận khoa học Trung Âu" (Eurocentric scientific methodology) (các bạn biết, những thứ như tái tạo, điều khiển, thí nghiệm có tính hệ thống...v.v). Bạn tìm thấy một thành ngữ ma thuật "Tri thức địa phương", lấy ví dụ, trong những bài báo Andrew Ross và Sandra Harding trong chủ đề Science Wars của Social Text. Nhưng toàn bộ những "tri thức địa phương" có tuyệt vời ko? Và khi những tri thức địa phương mâu thuẫn, thì chúng ta nên tin tri thức địa phương nào? Trong nhiều vùng ở Midwest, những tri thức địa phương bẩu rằng bạn nên phun nhiều thuốc diệt cỏ để có vụ mùa lớn hơn. Khoa học khách quan lỗi thời thì bẩu thuốc diệt cỏ là độc hại với nông phu và con người phía hạ lưu. Tại thành phố New York, rất nhiều tri thức địa phương đã cho là có một làn sóng những bà mẹ teengage đang huỷ diệt những chỉ dẫn đạo đức (moral fiber) của chúng ta. Những dữ liệu nhàm chán thì chỉ ra tỉ suất sinh đẻ của những bà mẹ teenage về cơ bản là không thay đổi kể từ năm 1975, và bằng phân nửa tỷ suất mẫu mực của năm 1950. Một từ khác để gọi "tri thức địa phương" là định kiến.


Tôi xin lỗi phải nói điều này, nhưng dưới ảnh hưởng của hậu hiện đại một số người rất thông minh có thể ngã vào lối suy nghĩ tuỳ tiện một cách khó tin, và tôi muốn đưa ra 2 ví dụ. Cái đầu tới từ một bài báo đầu trang trên tờ New York Times thứ ba trýớc (10/22/96) về mâu thuẫn giữa những nhà khảo cổ học và một số nhà Sáng tạo luận người Mẽo bản địa (archaeologists and some Native American creationists). Tôi ko muốn diễn thuyết tại đây về những phương diện luật pháp và đạo đức của cuộc tranh luận này - người ta nên làm chủ việc sử dụng nốt 10,000 năm còn lại của nhân loại - mà chỉ về vấn đề nhận thức. Có ít nhất 2 quan điểm xung khắc về nơi mà cư dân bản địa Mẽo xuất phát. Sự nhất trí của khoa học, dựa trên những bằng chứng khảo cổ bao quát, là nhân loại tiến vào Châu Mĩ lần đầu tiên từ Châu Á vào khoảng 10-20,000 năm trước, băng qua eo biển Bering. Nhiều nhà Sáng tạo luận Mẽo bản địa thì quả quyết rằng, trái lại, người bản địa đã luôn luôn sinh sống tại châu Mĩ, kể từ khi tổ tiên của họ xuất hiện trên mặt đất từ một thế giới bí hiểm của tinh thần. Và bài báo Times nhận xét rằng rất nhiều nhà khảo cổ học, "bị giằng co giữa sự đồng cảm với văn hoá bản địa và khí chất khoa học của mình, ... đã hướng gần đến chủ nghĩa tương đối hậu hiện đại mà khi đấy khoa học cũng không hơn một hệ thống niềm tin." Ví dụ như, Roger Anyon, một nhà khảo cổ học Anh Cát Lợi, người đã từng làm việc với người Zuni, đã được trích dẫn là nói thế này "Khoa học chỉ là một trong nhiều cách nhận biết thế giới. ... [Quan điểm về thế giới của người Zuni là] cũng có giá trị như (*) quan điểm của khảo cổ học về những gì thuộc về thời tiền sử.


Bi giờ, có thể Dr. Anyon đã bị trích dẫn sai, nhưng tất cả chúng ta đã nghe đi nghe lại những khẳng định như trên, và tôi muốn hỏi những khẳng định như thế có thể có nghĩa gì. Chúng ta có ở đây hai lý thuyết ko tương hợp với nhau. Chúng ko thể cùng đúng; chúng cũng ko thể gần đúng. Dĩ nhiên, chúng có thể cùng sai, nhưng tôi ko tưởng tượng được rằng điều mà Dr. Anyon muốn nói là "cũng có giá trị nhý nhau (*)". Theo tôi thì dường như Anyon đã để sự đồng cảm về văn hoá và chính trị làm tối mờ lập luận của mình một cách khá giản đơn. Và không có sự biện minh nào cho điều đấy. Chúng ta có thể nhớ hoàn toàn rõ ràng đến những nạn nhân của một sự diệt chủng khủng khiếp và giúp đỡ những mục tiêu chính trị hợp lý của họ, nhưng không thể tán thành những truyền thuyết về sáng tạo cổ xưa của họ theo cách thiếu phê phán (hay phê phán giả tạo). Hơn thế, thái độ của những người theo thuyết tương đối là cực kỳ kẻ cả: Họ đối xử với một xã hội phức tạp như với một cục đá nguyên khối, che đậy những xung đột bên trong nó, và xem những bè cánh theo chủ thuyết ngu dân mạnh mẽ nhất như là phát ngôn viên cho tất cả.


Ví dụ thứ hai của tôi về lối suy nghĩ tuỳ tiện tới từ bài báo của đồng chủ biên Social Text, Bruce Robbins, trong tạp chí Tikkun số tháng 9/10 năm 1996, mà ông ta cố gắng bảo vệ - mặc dù miễn cưỡng - công cuộc phá đảo của chủ nghĩa hậu cấu trúc/ hậu hiện đại tới những ý niệm có tính quy ước/ước lệ về sự thật (conventional notions of truth). "Có phải quyền lợi của phụ nữ, những người Mẽo gốc Phi, và những người bị bóc lột cùng cực khác (super-exploited people)", Robbins hỏi, "đòi hỏi rằng tính đồng nhất và sự thật phải là những kiến tạo của xã hội? Có hay không," ông ta khẳng định. "Ko, bạn ko thể nói về sự bóc lột mà thiếu đi sự kiểm chứng" - chính xác theo quan điểm của tôi - "Nhưng đúng là," Robbins tiếp, "sự thật có thể là khởi nguồn của sự áp bức." Huh??? Sự thật có thể áp bức ai đó như thế nào? Ồ, những lời kế tiếp của Robbins giải thích điều anh ta muốn nói: "Cách đây không quá lâu," anh ta nói, "những nhà khoa học với những thẩm quyền đầy đủ của họ đã giải thích tại sao phụ nữ và những người Mẽo gốc Phi... cố hữu là thấp kém." Nhưng có phải Robbins đang tuyên bố đó là sự thật? Tôi nên hi vọng là ko! Chắc chắn, rất nhiều người nói không đúng về phụ nữ và người Mẽo Phi; và đúng là, những sự sai trái đó thi thoảng được khẳng định bởi cái danh xưng là "khoa học", "lý trí" và tất cả những thứ còn lại. Nhưng tuyên bố những thứ như thế không làm nên sự thật, và thực tế rằng con người - bao gồm các nhà khoa học - thi thoảng tạo ra các tuyên bố sai trái không có nghĩa chúng ta nên loại bỏ hay xét duyệt lại khái niệm về sự thật. Khá trái ngược: Điều đó có nghĩa là chúng ta nên kiểm tra những bằng chứng đằng sau những tuyên bố về sự thật một cách hết sức cẩn thận, và chúng ta nên loại bỏ những khẳng định là sai trái theo phán đoán duy lý nhất của mình.


Thật ko may, lỗi này lập lại xuyên suốt bài luận của Robbins; một cách có hệ thống anh ta từ chối sự thật bằng những tuyên bố về sự thật, từ chối thực kiện bằng những khẳng định về thực kiện, và từ chối tri thức bằng những kỳ vọng về tri thức. Những sự elision đó là cơ sở của lối tư duy tuỳ tiện về "sự kiến tạo xã hội" (social construction) mà được phổ biến trong học giới ngày nay, và khiến những sự tiến bộ phải kìm hãm lại. Chắc rằng, chúng ta chỉ ra những quyền lợi về ý thức hệ, chính trị và kinh tế được phụng sự bởi sự giải trình về "hiện thực" của ngýời đối địch với chúng ta; nhưng trước hết hãy chứng minh, bằng cách sắp đặt bằng chứng và logic, tại sao những sự giải trình đó về khách quan là sai trái (hay trong một số trường hợp là đúng nhưng ko phải tất cả).Gần cuối bài báo của mình, Robbins thẳng thắn thừa nhận rằng "những người hoạt động chính trị về văn hoá đôi khi hành động cứ như thể Sự thật luôn luôn và tại bất kỳ đâu là một vũ khí của cánh hữu". Bi giờ, đó là một thái độ tự thua đầy kinh ngạc với một người đã nhận mình là cánh tả. Nếu Sự thật ở phía cánh hữu, thì chúng ta không nên - ít ra là người chân thật nhất trong chúng ta - trở thánh người cánh hữu (right-wingers) sao? Về phần tôi, tôi là người phe tả và theo thuyết bình quyền dựa vào logic và bằng chứng (kết hợp cùng với những yếu tố đạo đức), chứ không bất chấp tất cả.


Lời biện hộ của tôi cho lý trí, bằng chứng và logic hầu như là đã có từ trước; hàng tá nhà chủ nghĩa nhân văn tiến bộ, nhà khoa học xã hội và nhà khoa học tự nhiên đã nói cùng điều này trong nhiều năm. Nhưng nếu bản văn nhái (parody) của tôi trên Social Text chỉ phần nhỏ nào giúp khuyếch đại tiếng nói của họ và khơi gợi một cuộc luận chiến cần thiết trong phe tả, khi đó nó đã phục vụ cho mục đích đề ra.

 
 
 

-----------------------

* Bản tiếng Anh:
http://www.physics.nyu.edu/faculty/sokal/nyu_forum.html


Đọc tiếp →

Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2009

Lời thô tục ý u tồn

Lời thô tục ý u tồn
Ý nào u tục thô ngôn là lời
Giả danh chân đế cũng rồi
Giả danh tục đế đẩy lời cũng qua
Trăm năm trong cõi người ta
Lọ là Long Thọ hay là Khổng Khâu
Vàng beo, lục gấu, trắng trâu
Đìu hiu trăng mọc, nhịp cầu phù du
Nay mai cơn mộng hư phù
Mẹ xin chiếu cố sa mù cho con.



...
Câu thứ năm y như lời mở đầu truyện Kiều, nhưng không thấy để trong ngoặc kép hay chú thích rõ ràng như thường tình, làm sao mà Bùi-Giáng chẳng biết nhưng có thể ông cho đó là chuyện nhỏ ai mà chẳng biết, mới lại chẳng lẽ ông “yếu” đến nỗi phải “đạo văn” một câu như thế sao! nên chẳng đáng lưu tâm, nên đã không nói gì cả.

Bài thơ này thiếu nhan đề, không ngắt câu xuống hàng, viết như một đoạn văn xuôi ở giữa hai đoạn văn xuôi khác, nơi một bài luận về “Sở Dĩ Nhiên” thấy trong cuốn tạp bút Ngày Tháng Ngao Du do nhà An-Tiêm xuất bản tại Sài-Gòn năm 1971, có thể đây thực sự chỉ là đoạn văn xuôi nhưng tình cờ nó đã vần điệu với nhau làm thành bài thơ, thật đúng như người đời ca tụng, ông không làm thơ, chẳng nghĩ thơ… thơ đến tự nhiên tuôn ra như nước chẩy.

source link


Chu Hy viết: "Cùng lý là muốn biết cái sở dĩ nhiên (1) của sự vật với cái sở đương nhiên (2) của sự vật mà thôi. Biết cái sở dĩ nhiên cho nên cái chí không hoặc (*), biết cái sở đương nhiên cho nên việc làm không lầm." Trích từ Trần Trọng Kim, sđd., Hạ tập, tr. 165

source link



(1): cause; (2): fact (?)

(*): nghi hoặc; "tứ thập nhi bất hoặc", Khổng tử.
------------------

Updated 03/08/2010:

已然: dĩ nhiên (己 kỉ, 火 hỏa)
當然: đương nhiên (田 điền,火 hỏa )
所: sở (cái) (戶 hộ)
礎: cơ sở (石 thạch )
所已然: sở dĩ nhiên
所當然: sở đương nhiên
Đọc tiếp →

Thứ Hai, 14 tháng 9, 2009

If not me, then who?

01. Sự thay đổi của Andrei Sakharov



Sự thay đổi của Andrei Sakharov Người chế tạo bom hydro của Liên Xô trở thành một nhà hoạt động vì hòa bình và nhân quyền. Điều gì đã khiến ông thay đổi như vậy?
...
Khi một đồng nghiệp của hỏi ông tại sao ông lại làm những việc như vậy, Sakharov đã trả lời: "Nếu không phải tôi thì ai đây?" (*)

http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=90&News=2060&CategoryID=24


(*): In the 1970s one of his colleagues Vladimir Ritus, asked him why he had taken the steps he did thereby putting himself in such grave danger. Sakharov's reply was, "If not me, who?"

http://oldweb.uwp.edu/academic/criminal.justice/1486017.pdf



02. Andrey Dmitrievich Sakharov (1921-1989)

Andrey Dmitrievich Sakharov chào đời ngày 21/5/1921 tại thành phố Moscow, nước Nga. Ông Sakharov là một nhà vật lý hạch tâm, một nhân vật can đảm tranh đấu cho nhân quyền, đòi hỏi các tự do dân sự (civil liberties) cũng như các cải tiến tại Liên Xô. Vào tháng 12 năm 1975, ông Andrey D. Sakharov được trao tặng Giải Thưởng Nobel Hòa Bình (the Nobel Prize for Peace) vì các công trình hoạt động của ông trong nhiều năm trường.

...

Năm 1947, ông Andrey D. Sakharov bảo vệ luận án Tiến Sĩ về Vật Lý Hạch Tâm (nuclear physics) rồi qua năm sau, 1948, được mời tham gia vào nhóm các nhà nghiên cứu khoa học mà nhiệm vụ của họ là làm phát triển các võ khí nguyên tử, với nhà bác học đứng đầu nhóm là ông Igor E. Tamm. Từ đầu năm 1950, nhà bác học Igor E. Tamm cùng với Tiến Sĩ Andrey D. Sakharov và nhóm chuyên gia, đã nghiên cứu và thử nghiệm các phản ứng nhiệt hạch tâm có kiểm soát (controlled thermonuclear reaction), rồi sau đó chế tạo các máy phát từ khổng lồ (magnetic generators), nhờ đó đã đạt được một kỷ lục về từ trường mạnh tới 25 triệu gauss.

Trong vòng 20 năm, ông Sakharov đã làm việc trong các điều kiện an ninh tuyệt đối, dưới các căng thẳng lớn, đầu tiên tại khu vực thành phố Moscow rồi về sau tại một trung tâm nghiên cứu bí mật. Các công trình nghiên cứu xuất sắc của ông Sakharov về khí động học của chất khí (gas dynamics), sự hạn chế từ tính của các hạt chứa điện tích (magnetic confinement of charged particles) cũng như các vấn đề chính yếu trong công trình chế tạo bom khinh khí (hydrogen bomb), lần đầu tiên được thử vào tháng 8 năm 1953. Do những đóng góp lớn lao này, ông Sakharov được bầu làm Viện Sĩ của Hàn Lâm Viện Khoa Học Liên Xô năm 32 tuổi, cũng như được trao tặng nhiều danh dự và thụ hưởng các đặc quyền, đặc lợi khác.

Vào thời gian đầu của thập niên 1950, ông Sakharov cũng như nhiều nhà bác học Liên Xô khác, đã say sưa với tầm quan trọng của công trình võ khí nguyên tử, tin tưởng rằng nhờ chương trình này mà có sự cân bằng thế lực trên thế giới, giữa hai khối tư bản và cộng sản, nhưng qua giữa thập niên, ông bắt đầu suy nghĩ tới các nguy hiểm do các vụ nổ nguyên tử gây ra, lo lắng về các phóng xạ từ trái bom khinh khí 100-megaton nổ trong không trung, rơi xuống nhiều miền đất rộng lớn, gây ra tai họa cho nhân loại và môi trường thiên nhiên. Tại một buổi họp trong Điện Kremlin vào năm 1961, ông Sakharov đã chuyển tới vị Tổng Bí Thư Nikita Khrushchev một bản viết chỉ trích việc tiếp tục các thí nghiệm võ khí hạch tâm. Ông Sakharov đã vận động thành công việc chống đối và vạch trần các chủ thuyết giả mạo (spurious doctrines) của nhà sinh học đầy thế lực T.D. Lysenko. Ông đã quan tâm tới các vấn đề sinh học (biological) cũng như đạo đức (moral) do bởi các thử nghiệm hạch tâm kể trên, rồi kể từ năm 1967, ông đã báo động cho nhiều người khác biết rõ các tai họa sẽ xẩy ra.

Trong bài luận văn viết vào năm 1968 với nhan đề là "Suy Nghĩ về Tiến Bộ, Cùng Sống trong Hòa Bình và Tự Do Trí Tuệ" (Reflections on Progress, Peaceful Coexistence, and Intellectual Freedom), ông Sakharov đã biện hộ việc giảm bớt căng thẳng (détente) giữa hai khối đối nghịch Đông và Tây và kêu gọi cách hội tụ của hai hệ
thống tư bản và xã hội chủ nghĩa.

...

http://vietsciences.free.fr/biographie/physicists/sakharov.htm

03. Sakharov's Chronology

...

1968, July. “Reflections on Progress, Peaceful Coexistence, and Intellectual Freedom” is published in the West.

1972, October. Sakharov’s first interview to a Western correspondent.

1973, August 21. Sakharov’s first press conference.

1973, August 23. In an interview with Western journalists, Sakharov says, “How can we speak of trust, if one of the sides is like a giant concentration camp?”

1975, October 9. The Nobel Peace Prize award to Sakharov is announced.
...
http://people.bu.edu/gorelik/AIP_Sakharov_Photo_Chrono/AIP_Sakharov_Photo_Chronology.html


04. Andrei Sakharov's Nobel Lecture, December 11, 1975 (Peace, Progress, Human Rights):

http://nobelprize.org/nobel_prizes/peace/laureates/1975/sakharov-lecture.html

05. The opening paragraphs of Sakharov’s Reflections on Progress, Peaceful Coexistence, and Intellectual Freedom:

http://www.aip.org/history/sakharov/essay.htm
Đọc tiếp →

Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2009

Thơ Nga sưu tầm

01. Thơ sưu tầm của Bella Akhmadulina:


Trên phố nhà tôi (По улице моей)

Trên phố nhà tôi bao năm vẫn vọng
Tiếng bước chân, bè bạn tôi đi xa.
Họ chầm chậm theo nhau dần khuất bóng
Làm dày thêm khoảng tối phía sau nhà.

Bao công việc của họ bị bỏ qua,
Nhà lặng vắng không còn ai đàn hát,
Duy vẫn như xưa trên tác phẩm Dega
Thiếu nữ điệu đà sửa sang nhan sắc.

Biết làm sao, đừng gợi thêm nỗi sợ
Giữa đêm dày trong những kẻ bơ vơ.
Lòng khát khao sự bội phản không ngờ
Bạn tôi ơi, sẽ phủ mờ khoé mắt.

Ôi cô đơn! Sao ngươi tàn nhẫn thế,
Vung chiếc compa bằng sắt lạnh lùng,
Nghiệt ngã xoay tròn khép kín một vòng
Bỏ ngoài tai mọi nguyện thề vô ích.

Vậy hãy gọi ta, hãy thưởng ta đi!
Đứa con yêu hằng được ngươi âu yếm,
Ta bình yên được ngươi ôm vào ngực
Gột rửa mình trong lạnh giá thanh thiên.

Cho ta nhé, kiễng chân trong rừng thiêng,
Tận cuối kia tay ta đưa chầm chậm.
Tìm nhành lá ta ấp lên gương mặt
Để cô đơn thành hoan lạc trời trao.

Cho ta nhé các thư viện bình yên,
Các bản nhạc trang nghiêm còn vang vọng.
Và thông thái, ta quên đi hết thảy,
Kẻ chết người còn ta cũng quên luôn.

Ta ngộ ra trí tuệ với nỗi buồn,
Được giao phó biết bao nhiêu bí ẩn.
Mẹ thiên nhiên tựa vai ta tin cậy
Và trao ta những bí mật trẻ thơ.

Và khi đó, từ quá khứ ngu ngơ,
Từ nước mắt nhoà và từ bóng tối,
Những gương mặt bạn bè tôi dần hiện
Đẹp lạ lùng trước khoảnh khắc phôi pha.

1959


Giã từ (Прощание)

Và lời cuối hãy để cho tôi nói:
Giã từ thôi, anh chẳng phải cố yêu.
Tôi mất trí. Hoặc là tôi đang đến
Mức độ điên cao hơn thế rất nhiều.

Anh đã yêu thế nào? – hay anh nếm
Vị diệt vong. Nào chỉ thế thôi đâu.
Anh đã yêu thế nào? – hay anh chỉ
Hành hạ tôi. Anh mới vụng làm sao.

Thật nghiệt ngã … Vị sai lầm cay đắng
Làm sao tôi tha thứ nổi cho anh.
Thân tôi sống, mắt tôi còn thấy sáng
Nhưng trống không thể xác lạnh tanh.

Tay buông xuôi, dù mạch còn đập khẽ
Nơi thái dương dưới làn da trắng xanh.
Mọi cảm nhận màu sắc và mùi vị
Theo nhau rời tôi cùng những âm thanh.

1960

* Tykva dịch:
http://diendan.nuocnga.net/archive/index.php/t-74.html


* А напоследок я скажу (ПРОЩАНИЕ)- Valentina Ponomariova hát trong phin Bản tình ca nghiệt ngã:
http://www.youtube.com/watch?v=KL0KNYT5MQU


(cont.)
Đọc tiếp →

Thứ Ba, 4 tháng 8, 2009

Logical Resources

Ghi chú tóm lược từ trang http://www.fallacyfiles.org/:


List of Fallacies 01: http://www.nizkor.org/features/fallacies/index.html

[By Dr. Michael C. Labossiere. Based on a Macintosh tutorial, it provides short explanations of 42 fallacies, with multiple cooked-up examples. A reliable source, hosted by the Nizkor Project]

Cái này đã xem hết. Mỗi Fallacy được trình bảy theo thể thức sau: Đĩnh nghĩa - Mô thức (nhận dạng) - Bình giảng - Ví dụ minh hoạ. Ngoài ra, tác giả có sự đối chiếu và so sánh một số F với nhau để tránh sự nhầm lẫn khi gọi tên. Kỹ càng và dễ hiểu.


List of Fallacies 02: http://www.drury.edu/Ess/Logic/Informal/Overview.html

[based on A Database of Informal Fallacies, copyright 1987 by Dr. Charles Ess.]

Cái này mới xem qua. Tính tổ chức có vẻ cao hơn, vì thấy phân loại các F thành 3 nhóm: Fallacies of Relevance, Fallacies of Presumption và Additional Fallacies. Ti nhiên, cách trình bày mỗi F có vẻ tùy hứng.


List of Fallacies 03: http://www.onegoodmove.org/fallacy/toc.htm

[This is the granddaddy of fallacy web sites, first posted in 1995. Stephen Downes, an information architect with a master's degree in philosophy, created the site. It contains short entries for the standard list of fallacies, together with rather unrealistic, cooked-up examples. This guide is probably of most use for a quick check or refreshing of memory concerning a specific fallacy, rather than as a way to learn about fallacies. Unfortunately, it doesn't appear to have been updated since '96.]

Xem qua. Mỗi Fallacy được trình bày theo thể thức: Định nghĩa - Ví dụ minh hoạ - Phản biện.


Logical Glossary: http://www.fallacyfiles.org/glossary.html


Logical Taxonomy: http://www.fallacyfiles.org/taxonomy.html

[The Taxonomy is a tree-like structure that classifies all of the fallacies in these files by the subfallacy relation.]


Logical test: http://krypton.mnsu.edu/~tony/courses/609/Logic/Silly%20Syllogisms.htm

[By Fergus Duniho. A JavaScript program which randomly generates a categorical syllogism, and allows one to test it for fallacies. Since a randomly generated syllogism is more likely to be invalid than valid, this is a good test of fallacy spotting. The program also comes with a clear, brief tutorial on syllogisms and their fallacies.]


(cont.)
Đọc tiếp →

Thứ Tư, 29 tháng 7, 2009

A dream

A Dream by Jorge Luis Borges
(Translated, from the Spanish, by Suzanne Jill Levine.)

In a deserted place in Iran there is a not very tall stone tower that has neither door nor window. In the only room (with a dirt floor and shaped like a circle) there is a wooden table and a bench. In that circular cell, a man who looks like me is writing in letters I cannot understand a long poem about a man who in another circular cell is writing a poem about a man who in another circular cell . . . The process never ends and no one will be able to read what the prisoners write.




- Bản dịch và lời bình của Đông A:



Hôm nay đọc The New Yorker thấy bài thơ A dream của Jorge Luis Borges, qua bản dịch của Suzanne Jill Levine. Tôi thấy thích bài thơ này và thử dịch ra tiếng Việt. Công nhận, The New Yorker đưa bài thơ này rất hợp thời. Không rõ Borges sáng tác bài thơ này vào năm nào. Thẩm mỹ về chuỗi vô tận, A trong A trong A ... rất hợp với tư duy phương Đông, không có khởi đầu và không có kết thúc, và con người chỉ còn có thể bất lực mà thôi. Nhưng thực ra các chuỗi vô tận không hẳn đã là vô tận. Chúng có một giới hạn, giống như nghịch lý Achilles đuổi rùa của Hy Lạp cổ đại. Cái giới hạn đấy là lúc con người có thể đọc được những gì mà những người tù đã viết ra.


Một giấc mơ
Jorge Luis Borges

Ở một nơi hoang vắng ở Iran có một tháp đá không cao lắm, không có cửa cũng như cửa sổ. Trong căn phòng duy nhất (với nền đất và có dạng hình tròn) có một chiếc bàn gỗ và một chiếc ghế băng. Trong ngục tròn đó có một người nom giống như tôi đang viết chữ mà tôi không thể hiểu, một bài thơ dài về một người trong một ngục tròn khác đang viết một bài thơ về một người trong một ngục tròn khác... Diễn tiến này chẳng bao giờ kết thúc và chẳng một ai có khả năng được đọc những gì mà những người tù đã viết ra.


Source: http://donga01.blogspot.com/2009/07/mot-giac-mo.html


- Lời bình của Leopard (về lời bình của Đông A (về bài thơ của Borges (về... ))):

Bác ĐA bẩu: Cái giới hạn đấy là lúc con người có thể đọc được những gì mà những người tù đã viết ra.

Giới hạn đấy là thế nào?

Hình như để có thể hiểu được mình phải xem lại kiến thức toán học về chuỗi số. Nhớ lại chút, thì như là chuỗi số thì kéo dài vô hạn, nhưng tổng của chuỗi thì hữu hạn. Giống như một tảng thịt nặng 60 kí lô là hữu hạn, nhưng ta có thể cắt nó ra thành vô số các tảng nhỏ, số các tảng nhỏ có thể là vô hạn.

Vậy, vấn đề thứ nhứt là ta đang có tảng thịt nặng 60 kí lô hay chỉ là các tảng nhỏ của nó.

Vấn đề thứ hai là nếu ta chỉ có các tảng nhỏ, thì làm sao biết được cái tảng lớn. Tức là cách đọc. Ví dụ như với một bản nhạc, anh đọc những nốt nhạc và có thể đọc cả khoảng trống giữa những nốt nhạc ấy. Khoảng trống giữa những nốt nhạc hay quy luật giữa những con số... Đại khái thế!

Vấn đề thứ ba, mí là vấn đề quan tọng, là ta có muốn đọc hay không. Hông mún, thì thôi, cũng hông ai ép.
Đọc tiếp →

A hoax

I have learned that when a newborn baby holds, with its little hand,
his father's finger, it has trapped him for the rest of his life.

I have learned that a man has the right and obligation to look down
at another man, only when that man needs help to get up from the
ground.

...


Farewell letter (below, maybe you should read it first) has a very strong and inspiring message.This video (they say the message was a hoax which travelled the world as belonging to Gabo) is dedicated to the people in my life that I love, my husband, my son and my friends, and to those that I love and only live in my heart now.

A youtube friend told me that it was written by Johnny Welch
http://webalia.com/EP/pensar/reconoci...


Source: http://www.youtube.com/watch?v=YaIiTp2lDlk
Đọc tiếp →

Thứ Ba, 14 tháng 7, 2009

infer judge argue

01. argument n


...
3 a: the act or process of arguing :
argumentation b: a coherent series of statements leading from a premise to a conclusion
argue v

Etymology: Middle English, from Anglo-French arguer to reprove, argue & Latin arguere to demonstrate, prove; Anglo-French arguer, from Latin argutare to prate, frequentative of arguere; akin to Hittite arkuwai- to plead, respond


synonyms discuss, argue, debate mean to discourse about in order to reach conclusions or to convince.

discuss implies a sifting of possibilities especially by presenting considerations pro and con <discussed the need for a new highway>.

argue implies the offering of reasons or evidence in support of convictions already
held <argued that the project would be too costly>.

debate suggests formal or public argument between opposing parties <debated the merits of the amendment>; it may also apply to deliberation with oneself debating whether I should go>.


02. inference n


...
1: the act or process of inferring: as a: the act of passing from one proposition, statement, or judgment considered as true to another whose truth is believed to follow from that of the former b: the act of passing from statistical sample data to generalizations (as of the value of population parameters) usually with calculated degrees of certainty.

infer v


Etymology: Middle French or Latin; Middle French inferer, from Latin inferre, literally, to carry or bring into, from in- + ferre to carry — more at bear

transitive verb 1: to derive as a conclusion from facts or premises — compare
imply

synonyms
infer, deduce, conclude, judge, gather mean to arrive at a mental conclusion.

infer implies arriving at a conclusion by reasoning from evidence; if the evidence is slight, the term comes close to surmise .

deduce often adds to infer the special implication of drawing a particular inference from a generalization .

conclude implies arriving at a necessary inference at the end of a chain of reasoning .

judge stresses a weighing of the evidence on which a conclusion is based
.

gather suggests an intuitive forming of a conclusion from implications .



03. judgement n

...
4 a: the process of forming an opinion or evaluation by discerning and comparing


judge v
Etymology: Middle English juggen, from Anglo-French juger, from Latin judicare, from judic-, judex judge, from jus right, law + dicere to decide, say — more at just, diction

1: to form an opinion about through careful weighing of evidence and testing of premises



* Source: http://www.merriam-webster.com/dictionary/
Đọc tiếp →

Thứ Năm, 25 tháng 6, 2009

Kitsch

Kitsch chính là kiểu cách mỹ học độc đáo, nhưng cũng là cái kết quả của những thay đổi đặc trưng trong môi trường lịch sử và xã hội.

Khi là kết quả của những thay đổi lịch sử: Kitsch được tạo ra bởi qúa trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, và sự nổi lên của tầng lớp trung lưu.

Khi là một phẩm chất thẩm mỹ: Kitsch liên gộp mọi tính chất ganh đua là của các hình thái cũng như kiểu thức của dạng nghệ thuật cao cấp, cùng sự ỷ lại nhàn nhã và những cách bộc lộ sống sượng ra những cảm giác phè phỡn về thẩm mỹ.
...

Nơi nghệ thuật chân chính đòi hỏi những nỗ lực diễn giải, sự tri nhận thông qua kiến thức, và dâng tặng cho người xem những thách thức hợp đạo lý và riêng tư; nơi ấy cái Kitsch của dạng nghệ thuật được sản tạo hướng về đại chúng lại tìm cách sao cho có thể đến được dễ nhất với số lượng người đông nhất. Nó tìm ra con đường ngắn nhất, giản tiện và trực tiếp nhất. Nó thích thú với những phương cách bộc lộ thiên về quá trớn bằng cách thêm mắm thêm muối các chi tiết và thổi phồng các hiệu ứng. Về nguyên tắc tạo nên cái đẹp, các nhà cung ứng Kitsch suy luận theo quy tắc "càng nhiều càng ít" (more is better).
...

Kitsch thích trưng khoe ra với chúng ta những gì chúng ta quen thuộc nhằm bảo vệ chúng ta khỏi nỗi bất an khi phải đối mặt với một điều gì đó mới lạ.
...

Nhà văn Áo Hermann Broch đã từng tranh biện về sự phát triển của cái Kitsch trong thế kỷ 19, và mối liên nối của nó với chủ nghĩa lãng mạn: cả cái Kitsch lẫn chủ nghĩa lãng mạn đều hứa hẹn một chuyến bay hiện đại lạ đời từ hiện thực tới cái thế giới được bảo vệ tách biệt khỏi mọi trạng thái căng thẳng và lưỡng lự của đời sống hiện đại. Bài viết của ông "Notes on Problem Kitsch" (Những ghi chú về vấn đề Kitsch) đã chỉ ra việc cái Kitsch đã ngỏ lời đường mật ra sao nhằm thuyết phục rằng việc trốn thoát khỏi hiện thực chính là một trải nghiệm có tính chất mộng mơ hạnh phúc nhất, yên tĩnh nhất, hài hòa ngọt ngào nhất, cũng như là một chuyến không du êm ái tới quê hương của sự nhàn nhã.

Bài viết của Broch đã dò tới gọn nguồn của sự nhàn nhã, chính là một sản phẩm do những đổi dời lịch sử gây ra: Tính chất nhàn nhã của cái Kitsch có nguồn gốc từ sự nổi lên của chính tầng lớp trung lưu đã sản sinh ra Kitsch. "Cái khiếu thẩm mỹ dành cho sự nhàn nhã kiểu sinh hoạt gia đình này", Broch viết, "đã trở nên gia huy cho giai cấp trung lưu, chứng nhận sự hợp pháp của giai cấp ấy, cạnh tranh với những khát vọng dạng chuyên tinh của nghệ thuật quý tộc". Theo hướng này, cái giá trị mang tính trung lưu giai cấp của sự nhàn nhã đã được thổi phồng lên đến tầm mức kiêu mạn, thách thức vị thế của nghệ thuật cao cấp, vào lúc nó học được cách giả trang thành nghệ thuật.
...


- Định nghĩa về cái Kitsch (Cái rởm), Sam Binkey


Milan Kundera, Nhà văn Pháp gốc Séc khi viết tiểu thuyết Nhẹ bồng cái kiếp nhân sinh - như chính nhà văn bộc bạch - đã dùng từ Kitsch làm một trong các từ - trụ cột của cuốn tiểu thuyết ấy.

Vậy Kitsch là gì? Milan Kundera viết: Trong bản dịch ra tiếng Pháp của thiên tiểu luận nổi tiếng của Herman Broch, từ "Kitsch" được dịch là nghệ thuật tầm tầm. Một phản nghĩa, bởi vì Broch chứng minh rằng Kitsch là cái khác với một tác phẩm chỉ đơn giản là thị hiếu tồi. Có thái độ Kitsch. Cách ứng xử Kitsch. Nhu cầu Kitsch của con người - Kitsch (Kitschmensch): đấy là cái nhu cầu tự nhìn mình trong tấm gương dối trá làm đẹp người lên và tự nhận ra mình trong đó với một sự thoả mãn đầy xúc động. (...) Cái Kitsch gắn chặt một cách lịch sử với chủ nghĩa lãng mạn tình cảm.


- Trang 139, Tiểu luận, Milan Kundera, người dịch: Nguyên Ngọc, NXB VH-TT, Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây 2001.
Đọc tiếp →