Thứ Bảy, 20 tháng 9, 2008
Lương Phủ ngâm
Dao vọng đãng âm lý.
Lý trung hữu tam phần,
Luỹ luỹ chính tương tự.
Vấn thị thuỳ gia trủng,
Điền Cương, Cổ Dã Tử.
Lực năng bài Nam sơn,
Văn năng tuyệt địa lý.
Nhất triêu bị sàm ngôn,
Nhị đào sát tam sĩ.
Thuỳ năng vi thử mưu,
Quốc tướng Tề Án Tử.
Bài hát Lương Phủ
Người dịch: Nham Doanh Doanh
Ra khỏi cửa thành Tề đi bộ
Dõi nhìn làng lấp ló xa mờ
Giữa làng trơ trọi ba mồ
Giống nhau tưởng đã đắp gò chồng lên
Hỏi: nằm đó tuổi tên ai nhỉ ?
Điền, Cổ, Cương, đích thị ba ngài
Núi Nam lật đổ, hùng tài
Văn chương âu cũng chuyển xoay đất trời
Một khoảnh khắc nghe lời nói dại
Hai trái đào giết hại cả ba
Mưu thâm kế hiểm ai mà ?
Án Tề tướng quốc thì ra là người
Lương Phủ ngâm 梁父吟, còn viết là 梁甫吟. Lương Phủ là một ngọn núi nhỏ ở chân núi Thái Sơn. Bài thơ này thực là của Gia Cát Lượng hay là một bài ca dao đời Hán, đến nay khó còn điều kiện khảo chứng.
Thời Xuân Thu, Án Bình Trọng 晏平仲 phò Tề Cảnh Công, làm đến chức tướng quốc, là một người tài nhưng hơi hẹp lượng. Nước Tề thời đó có ba dũng sĩ là Điền Khai Cương 田開疆, Cổ Dã Tử 古冶子 và Công Tôn Tiếp 公孫接. Án Tử đưa ra hai trái đào và nói với ba người là ai có công thì hãy lấy mà ăn. Công Tôn Tiếp nói: "Ta là người chỉ một quyền đánh chết lợn rừng, hổ, xứng đáng ăn đào". Điền Khai Cương nói: "Ta đã từng dùng phục binh đuổi địch, công lao đó cũng xứng đáng ăn đào". Cổ Dã Tử nói: "Ta theo vua đến sông Hoàng Hà, có con rùa lớn xuất hiện bắt mất ngựa của vua, ta giết rùa, một tay kéo đuôi ngựa mang về cho vua, con rùa đó chính là Hà Bá thần sông Hoàng Hà". Hai người Công Tôn Tiếp, Điền Khai Cương thấy công mình không bằng Cổ Dã Tử mà lại đòi ăn đào nên tự thẹn với lòng tự vẫn mà chết. Cổ Dã Tử thấy hai người kia đã chết mà mình vẫn sống thì là bất nhân, sỉ nhục người ta đề lấy danh tiếng là bất nghĩa, nên cũng tự vẫn chết theo. Đọc tiếp →
Im lặng
Sinh ra kề mắt bão
mẹ bọc tôi trong vạt phù sa
cái cuống rốn người vùi nơi gốc rạ
im lặng rễ đồng nhập vía hồn tôi
Tôi lớn lên với cây lúa ít lời
sau giông gió chỉ nói bằng hạt chín
hạt lép tập bay, hạt đầy học nhịn
lúa dạy tôi ngôn ngữ chiêm mùa
Tôi học ướt từ mưa
học khô từ nắng
học lội từ bùn
học hát từ trăng
học chắt chiu từ chua mặn đồng làng
và, sau nữa tôi học về im lặng
Im lặng rễ, im lặng cành, im lặng...
ừ nhỉ, thảo thơm đâu cần phải nhiều lời
sau vỏ trấu là trắng ngà hạt ngọc
chứa những điều ân nghĩa chẳng xa xôi
Biết im lặng khó hơn mười lần nói
lặng lẽ đi cũng chẳng phải dễ dàng
tôi nín lại tiếng reo mùa ló rạng
để ra đồng cúi mặt cấy mạ non!
Source: http://nguyenhuuquy.vnweblogs.com/ Đọc tiếp →
Thứ Năm, 7 tháng 2, 2008
Mẹ
Lưng mẹ còng rồi
Cau thì vẫn thẳng
Cau-ngọn xanh rờn
Mẹ-đầu bạc trắng
Cau ngày càng cao
Mẹ ngày một thấp
Cau gần với giời
Mẹ thì gần đất!
Ngày con còn bé
Cau mẹ bổ tư
Giờ cau bổ tám
Mẹ còn ngại to!
Một miếng cau khô
Khô gầy như mẹ
Con nâng trên tay
Không cầm được lệ
Ngẩng hỏi giời vậy
-Sao mẹ ta già?
Không một lời đáp
Mây bay về xa. Đọc tiếp →
Chủ Nhật, 3 tháng 2, 2008
Hiệp khách hành
Dục xuất Hồng đô môn
Âm vân tế thành khuyết
Bảo kiếm ảm như thuỷ
Vi hồng thấp dư huyết
Bạch mã dạ tần kinh
Tam canh Bá Lăng tuyết
Ôn Đình Quân
Bài hành về hiệp khách
Muốn vượt cửa Hồng đô
Mây đùn lấp thành khuyết
Kiếm báu sẫm như nước
Tia hồng loáng dư huyết
Ngựa bạch hí luôn đêm
Canh ba cầu Bá tuyết
Đông A dịch.
* Link gốc: http://blog.360.yahoo.com/blog-Uj79afQ1dKgK_DqY5hL3Of8-?cq=1&p=17
俠客行
欲出鴻都門
陰雲蔽城闕
寶劍黯如水
微紅溼餘血
白馬夜頻驚
三更霸陵雪
溫庭筠
闕: Thời xưa, ở ngoài cửa cung, hai bên có lầu đài để nhìn ra xa, giữa có lối đi gọi là khuyết.
Bạch Cư Dị 白居易: Cửu trùng thành khuyết yên trần sinh, Thiên thặng vạn kị tây nam hành 九重城闕煙塵生, 千乘萬騎西南行 (Trường hận ca 長恨歌) Khói bụi sinh ra trên lối đi vào cung thành (của nhà vua), Nghìn cỗ xe, muôn con ngựa đi sang miền tây nam. - TĐTC. Đọc tiếp →
Chủ Nhật, 27 tháng 1, 2008
Đêm Tháng Tư Ướt Át
Và từ trăm năm nay tôi đã nghe thấy
Và tôi đã chết, có ai khác còn lắng nghe
Tôi hạnh phúc vì đã ghi giúp anh nỗi u sầu.
Bagpiper dịch.
The birds sang in the wet trees
And I listened to them it was a hundred years from now
And I was dead and someone else was listening to them.
But I was glad I had recorded for him
The melancholy.
Wet Evening in April, Patrick Kavanagh. Đọc tiếp →
Thứ Sáu, 18 tháng 1, 2008
Sonnet 73
Sonnet 73
Trong tim anh chỉ mùa đông em thấy,
Khi lá vàng theo gió lạnh lắt lay,
Phất phơ treo trên cành khô run rẩy,
Vườn chim xưa nay tuyết trắng phủ dày.
Em chỉ thấy trong anh ngày sắp hết,
Khi hoàng hôn le lói phía chân trời
Và bóng tối bằng màn đen cái chết
Khẽ buông dần, đang phủ kín khắp nơi.
Em chỉ thấy dưới tro tàn tuổi trẻ
Ngọn lửa hắt hiu thiêu cháy bao tình
Và những gì xưa làm đời đẹp thế,
Nay thành mồ chôn hết cả đời anh.
Em thấy hết, nhưng cũng từ buổi đó
Càng yêu thêm người từ lâu đáng bỏ.
Thái Bá Tân dịch.
* Bản tiếng Anh:
That time of year thou mayst in me behold,
When yellow leaves, or none, or few do hang
Upon those boughs which shake against the cold,
Bare ruined choirs, where late the sweet birds sang.
In me thou seest the twilight of such day,
As after sunset fadeth in the west,
Which by and by black night doth take away,
Death's second self that seals up all in rest.
In me thou seest the glowing of such fire,
That on the ashes of his youth doth lie,
As the death-bed, whereon it must expire,
Consumed with that which it was nourished by.
This thou perceiv'st, which makes thy love more strong,
To love that well, which thou must leave ere long. Đọc tiếp →
Thứ Tư, 9 tháng 1, 2008
Phạm Tiến Duật
Tiếng hát bay vòng tháng năm,
Ở đâu mà không cần tiếng hát,
Nhưng giữa chiến trường nhiều khi thay cho nhạc,
Là những tâm hồn có nhạc ở bên trong.
Câu hát màu chi mà khuôn mặt màu hồng,
Tiếng hát xa rồi, không nhớ nữa,
Đốt lòng nhau cứ gì phải lửa,
Tiếng hát trong rừng bay xa, bay xa.
... - Nghe em hát trong rừng
Không có kính không phải vì xe không có kính,
Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi.
Ung dung buồng lái ta ngồi,
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.
... - Bài thơ về tiểu đội xe không kính
Sự có mặt đã là câu hỏi lớn,
Hoa như em để rạo rực bao người.
... - Những bông hoa không hỏi
* Trang Thơ Phạm Tiến Duật:
http://annonymous.online.fr/Thivien/viewauthor.php?ID=96 Đọc tiếp →
Tặng Mã Giám Sinh - Bùi Giáng
Hỏi quê ? Rằng mộng ban đầu đã xa.
Gọi tên ? Rằng một, hai, ba,
Đếm là diệu tưởng, đo là nghi tâm.
*
Đọc tiếp →Hai câu đầu là một hình ảnh từ chương. Câu sau đã khó hiểu hơn: một, hai, ba nghĩa là gì? Hoặc ta cho là thơ cà chớn, không cần tìm hiểu; hoặc ta tìm hiểu và tham chiếu vào Đạo Đức Kinh, lời Lão Tử: "Đạo sinh ra một, một sinh ra hai, hai sinh ra ba, ba sinh ra vạn vật"; ý thức con người đong đưa giữa cái nghi và cái diệu: không nghi thì không có diệu, không nhờ cái diệu thì không giải tỏa được cái nghi. Đo và Đếm là hai thao tác của Tâm và Tưởng để tiếp xúc và nhận thức ngoại giới: đo cái liên tục và đếm cái gián đoạn. Nhưng còn là, là gì? Là môi giới qua Lời Nói. Nhưng Lời Nói là gì? Chúng ta trở về vị
trí đong đưa sóng biển giữa Diệu và Nghi.Hiểu thơ Bùi Giáng không phải lúc nào cũng đơn giản. Mà không hiểu, chưa chắc đã đơn giản.
Đặng Tiến
Link gốc: http://www1.thanhnien.com.vn/Vanhoa/2005/4/4/78494.tno
Thứ Ba, 8 tháng 1, 2008
Trong sương
Từng cây hòn đá lẻ loi
Không cây nào thấy cây khác
Tất cả đều thành đơn côi.
Thế giới với tôi toàn bạn
Khi cuộc đời tôi sáng soi
Giờ đây màn sương bao phủ
Đâu còn thấy rõ để coi.
Chẳng ai khôn ngoan, thật thế
Nào hay biết đến tối tăm
Lặng yên và không tránh khỏi
Chia lìa tất cả chung quanh.
Lạ kỳ, trong sương dạo bước
Cuộc đời thật quá lẻ loi
Không ai biết đến người khác
Tất cả đều thành đơn côi.
Hermann Hesse
Người dịch: Dong A
(Link gốc: http://blog.360.yahoo.com/blog-Uj79afQ1dKgK_DqY5hL3Of8-?cq=1&tag=thodich&l=6&u=10&mx=13&lmt=5) Đọc tiếp →
Bài kệ uống trà
Người ta không kể bề ngoài
Bề ngoài diêm dúa sơ sài bên trong
Tựa như trà ướp hoa ong
Vị trà đã mất hương lòng mất theo
Sáng ngày giếng nước trong veo
Bỏ than thật nhỏ lò treo giữa lò
Nước sôi không khói không tro
Hai bàn tay sạch thơm tho khề khà
Uống trà cốt ở vị trà
Nhiều hoa lắm lá hương trà sao thanh
Đừng vì của hiếm hư danh
Mà đem cái mũi tranh dành thực hư
Áo quần không tạo phong tư
Rườm rà cách điệu làm ngưng cung đàn
Hãy nghe câu kệ lời vàng
Đang là đang có, có là đang đang.
Vị minh tiểu kệ đồng Phan sinh dạ toạ
Cao Bá Quát
Tuyển hữu mạc thủ khí
Thủ khí mê kỳ nhân
Vị minh mạc thác hoa
Thác hoa ly kỳ chân
Hiểu tỉnh cấp thanh tuyền
Tế thán lý tân hoả
Vô yên giữ trần khí
Hối thủ nhất tiếu khả
Nhứ hương quý thanh chân
Bất dụng ngoại thước ngã
Vô dĩ nhất ác khan
Phóng nhĩ tỵ quan giả
Huyễn phục phi tráng nhan
Phồn âm biến đại nhã
Thí lưu nhất chuyễn ngữ
Tự tại chứng hiện quả
Người dịch: Tường Vũ Anh Thi
Dịch Nghĩa: Bài thơ này Cao Bá Quát làm nhân một dịp uống trà với Phan Nhạ, người cùng ông chấm thi ở trường thi Thừa Thiên. Trong lần chấm thi này, ông lấy muội đèn sửa bài của một số thí sinh. Công việc bại lộ, ông bị truy tố tội tử hình, sau đổi thành trảm giam hậu.
Link gốc: http://www.thuhoavietnam.com/forum_posts.asp?TID=200&PN=1&TPN=1 Đọc tiếp →
